MỤC LỤC
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU 1
I. Tổng quan nghiên cứu: 2
1.1. Mục tiêu nghiên cứu: 2
1.2. Phương pháp nghiên cứu: 2
1.3. Kết quả nghiên cứu: 3
II. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây về truyền dẫn tỷ giá (ERPT): . 5
2.1. Một số nghiên cứu về ERPT đối với các nước phát triển: 5
2.2. Một số nghiên cứu về ERPT đối với các nền kinh tế mới nổi: 6
2.3. Các nghiên cứu giải thích tại sao ERPT là không hoàn toàn: 7
2.4. Vai trò của các chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa: 8
2.5. Hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá phụ thuộc vào mức độ lạm phát: 9
2.6. Nghiên cứu về ERPT và mức độ mở cửa thương mại của một quốc gia: 9
III. Đo lường hiệu ứng ERPT: 11
3.1. Mô hình và phương pháp luận: 11
3.2. Mô tả mẫu: 12
IV. Kết quả: 16
4.1. Kết quả thực nghiệm: 16
4.2. Kiểm định Robustness: 19
4.2.1. Mô hình thay thế 1: 19
4.2.2. Mô hình thay thế 2: 21
V. Kết luận: 24
5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu: 24
5.2. Hạn chế của nghiên cứu: 24
5.3. Đề xuất từ nghiên cứu: 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO CỦA BÀI NGHIÊN CỨU 26
PHỤ LỤC: NGUỒN DỮ LIỆU 28
Truyền dẫn tỷ giá trong các nền kinh tế mới nổi GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Bài nghiên cứu “EXCHANGE RATE PASS-THROUGH IN EMERGING
MARKETS” của Michele Ca’ Zorzi, Elke Hahn và Marcelo Sánchez trình bày một
cách ngắn gọn kết quả của các tài liệu nghiên cứu trước đây, khám phá tầm quan
trọng của ERPT và sự khác biệt giữa các quốc gia bằng cách áp dụng mô hình (VAR)
cho các nước thị trường mới nổi và các nền kinh tế công nghiệp chủ yếu.
1.1. Mục tiêu nghiên cứu:
Để biết được mức độ truyền dẫn tỷ giá, bài nghiên cứu xem xét mức độ ảnh
hưởng của tỷ giá hoái đối đến giá cả trên 12 thị trường mới nổi ở châu Á, Mỹ Latinh,
Trung và Đông Âu các vấn đề sau:
Mức độ truyền dẫn ERPT ở các nền kinh tế mới nổi và ERPT ở các nước này
có khác biệt với các nước phát triển không?
Mối tương quan giữa ERPT và lạm phát
Mối tương quan giữa ERPT và mức độ mở cửa
1.2. Phương pháp nghiên cứu:
Bài nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận chủ yếu của McCarthy (2000) trong mô
hình cho các nước tiên tiến và được áp dụng bởi Hahn (2003) khu vực Euro. Nhóm
nghiên cứu sử dụng mô hình VAR, dựa trên các biến cơ bản như các biến sản lượng
đầu ra, tỷ giá hối đoái, giá nhập khẩu và giá tiêu dùng, mức lãi suất ngắn hạn, và giá
Truyền dẫn tỷ giá trong các nền kinh tế mới nổi GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 6 - TCDN Đêm 4 – K22 Trang 3
dầu. Cách tiếp cận bằng mô hình VAR cho phép xử lý được hiện tượng nội sinh giữa
các biến mà nhóm tác giả quan tâm. Cơ cấu lựa chọn mô hình là để theo dõi các phản
ứng của các biến với những cú sốc từ bên ngoài theo thời gian.
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả áp dụng phương pháp tiếp cận hệ thống
cho các nước trong ba khu vực thị trường mới nổi chính trên thế giới, cụ thể là, châu
Á, Mỹ Latinh, Trung và Đông Âu. Đồng thời, tác giả cũng sử dụng cách tiếp cận
tương tự với ba nền kinh tế công nghiệp lớn, cụ thể là khu vực Euro, Mỹ và Nhật Bản
để so sánh hai nhóm nước này với nhau. Bằng cách ước tính mô hình mỗi quốc gia là
khác biệt với ERPT trong các nền kinh tế phát triển.
Một cách tổng quát, bài nghiên cứu này đưa ra nhận định chung về mối tương
quan dương giữa mức độ ERPT và lạm phát (phù hợp với giả thuyết của Taylor) tại
các thị trường mới nổi. Mối tương quan này có ý nghĩa thống kê trên cả ba mô hình
mà nhóm tác giả đã thực hiện (mô hình cơ bản và hai mô hình thay thế). Kết quả này
trở nên rõ ràng hơn sau khi hai nước Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ được loại trừ do
những khó khăn liên quan đến hàng loạt bất ổn kinh tế vĩ mô nghiêm trọng xảy ra trên
hai nước này (hai quốc gia này đã trải qua áp lực lạm phát mạnh mẽ trong giai đoạn
mẫu được xem xét).
Cuối cùng là tìm thấy mối tương quan dương giữa ERPT và độ mở cửa, tuy
nhiên mối tương quan này là yếu, ngay cả khi đã kiểm soát lạm phát.
Truyền dẫn tỷ giá trong các nền kinh tế mới nổi GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 6 - TCDN Đêm 4 – K22 Trang 5
II. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây về truyền dẫn tỷ giá (ERPT):
Trong hai thập kỷ qua học thuyết kinh tế về truyền dẫn tỷ giá (ERPT) ngày
càng phát triển. Bắt đầu từ việc khác nhau trong các luận điểm, nghiên cứu thực
nghiệm xem xét vai trò của ERPT trong các nền kinh tế nhỏ và lớn.
2.1. Một số nghiên cứu về ERPT đối với các nước phát triển:
Bao gồm các nhóm tác giả như Anderton (2003), Campa và Goldberg (2004),
Campa (2005), Gagnon và Ihrig (2004), Hahn (2003), Ihrig (2006) và McCarthy
(2000).
Anderton (2003): “Extra-Euro Area Manufacturing Import Prices and Exchange
Rate Pass-Through”.
Sự truyền dẫn trong thay đổi tỷ giá đồng Euro tới giá sản phẩm nhập khẩu
trong khu vực ngoài châu Âu thì dao động khoảng 50%-70%. Trong khi giá thị trường
thì ước tính dao động từ 30%-50%.
Các quốc gia thành viên Châu Âu nhưng không phải trong khu vực chung
suy giảm trong biến động tỷ giá hối đoái.
Những nước mà sự suy giảm trong giá cả nhập khẩu và biến động giá tiêu dùng
cũng tương đối lớn, cho thấy giảm biến động giá nhập khẩu có thể giải thích sự thay
đổi trong biến động giá tiêu dùng.
McCarthy (2000): “Pass-Through of Exchange Rates and Import Prices to
Domestic Inflation in Some Industrialized Economies” .
Bài nghiên cứu này xem xét hiệu ứng truyền dẫn vào giá nhập khẩu, PPI, CPI
hàng quý của 9 nước phát triển.
Kết quả chỉ ra rằng hiệu ứng truyền dẫn là rất nhỏ, và cao nhất ở giá nhập
khẩu, tiếp đến là PPI và cuối cùng là CPI. Sự truyền dẫn là lớn hơn ở những nước có
thị phần nhập khẩu lớn và cú sốc tỷ giá hối đoái dai dẳng hơn.
2.2. Một số nghiên cứu về ERPT đối với các nền kinh tế mới nổi:
Như các nghiên cứu của Choudhri và Hakura (2006), Frankel (2005) và
Mihaljek (2000).
Choudri và Hakura (2006): “Exchange Rate Pass-Through to Domestic Prices:
Does the Inflationary Environment Matter?”
Bài nghiên cứu này dựa trên cơ sở dữ liệu của 71 nước phát triển và mới nổi
trong giai đoạn 1979 – 2000 để kiểm chứng mối quan hệ giữa lạm phát, mức độ tuyền
dẫn và sức mạnh định giá của các công ty.
Truyền dẫn tỷ giá trong các nền kinh tế mới nổi GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 6 - TCDN Đêm 4 – K22 Trang 7
Mức độ truyền dẫn có mối tương quan đáng kể với tỷ lệ lạm phát trung bình.
Dubravko Mihaljek and Marc Klau: “A Note on the Pass-Through from
Exchange Rate and Foreign Price Changes to Inflation in Selected Emerging
Market Economies”
Jeffrey Frankel, David Parsley, and Shang-Jin Wei: “Slow Pass-Through Around
the World: A New Import for Developing Countries”
Hệ số truyền dẫn cao hơn đáng kể trong một môi trường lạm phát cao. Thường
Burstein và cộng sự (2003): “Distribution Costs And Real Exchange Rate
Dynamics During Exchange-Rate-Based-Stabilizations”
Nghiên cứu vai trò của các lĩnh vực phân phối trong việc hình thành hành vi
của tỷ giá hối đoái thực trong quá trình thay đổi tỷ giá.
Chi phí phân phối là một trong những lý do tại sao PPP thất bại vì chi phí phân
phối thường không được coi là yếu tố quyết định quan trọng của RER.
Burstein và cộng sự (2005): “Large Devaluations and the Real Exchange Rate”
Nguyên nhân chính đằng sau sự sụp đổ lớn trong tỷ giá hối đoái thực xảy ra
sau khi phá giá lớn là sự điều chỉnh giảm trong giá hàng hóa chỉ sản xuất và tiêu dùng
trong nước chứ không phải là sự thất bại của tương quan PPP đối với hàng hoá xuất
khẩu.
2.4. Vai trò của các chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa:
Một luận điểm khác nhấn mạnh vai trò của chính sách tài khóa và tiền tệ bù
đắp một phần những tác động của thay đổi tỷ giá lên giá (Gagnon và Ihrig, 2004),
Devereux và Engel (2001) và Bacchetta và Van Wincoop (2003) đã khám phá vai
trò của giá cả nội tệ trong việc giảm mức độ ERPT.
Gagnon và Ihrig (2004): “Monetary Policy And Exchange Rate Pass-Through”
Tìm thấy bằng chứng cho rằng việc điều hành chính sách tiền tệ là yếu tố tác
động tới việc truyền dẫn
Khi doanh nghiệp tín nhiệm và tin vào việc ổn định lạm phát của ngân hàng
trung ương thì ít có sự biến động sẽ làm giảm sự chuyển dịch của tỷ giá vào giá trong
nước.
Devereux và Engel (2001): “Endogenous Currency Of Price Setting In A Dynamic
Open Economy Model”
Truyền dẫn tỷ giá trong các nền kinh tế mới nổi GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 6 - TCDN Đêm 4 – K22 Trang 9
Các doanh nghiệp xuất khẩu có thể lựa chọn đồng tiền mà họ được định giá
cho việc bán hàng ra thị trường nước ngoài.
dẫn qua giá nhập khẩu vào chỉ số CPI thay đổi càng nhiều. Tuy nhiên, nhóm tác giả
nhận thấy rằng lạm phát có thể tỷ lệ nghịch với sự mở cửa, thực nghiệm chứng minh
mối tương quan nghịch chiều này được tìm thấy trong nghiên cứu của Romer (1993).
Theo cách tiếp cận gián tiếp có thể hiểu như sau sự mở cửa sẽ tương quan
nghịch chiều với lạm phát, tuy nhiên theo giả thiết của Taylor thì lạm phát tương quan
dương với mức độ của truyền dẫn, do đó sự mở cửa sẽ tương quan nghịch chiều với
ERPT. Cách tiếp cận trực tiếp và gián tiếp đi theo hướng ngược nhau và một cách
tổng thể của sự tương quan giữa truyền dẫn và sự mở cửa có thể đồng biến hoặc
nghịch biến.
Romer (1993): “Openness and Inflation: Theory and Evidence”
Việc mở rộng chính sách tiền tệ không được dự đoán trước sẽ làm cho tỷ giá
hối đoái thực sụt giảm và trên thực tế những thiệt hại của sự sụt giảm này sẽ lớn hơn
trong nền kinh tế mở cửa nhiều hơn.
Truyền dẫn tỷ giá trong các nền kinh tế mới nổi GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 6 - TCDN Đêm 4 – K22 Trang 11
III. Đo lường hiệu ứng ERPT:
3.1. Mô hình và phương pháp luận:
Bài nghiên cứu sử dụng một mô hình VAR tiêu chuẩn sau:
= +
∑
động của cú sốc tỷ giá hối đoái lên sản lượng đầu ra chịu một độ trễ nhất định theo
thời gian. Các biến giá được sắp xếp tiếp theo và do đó thời cũng bị ảnh hưởng bởi tất
cả các cú sốc nói trên. Giá nhập khẩu được đặt trước giá tiêu dùng được tính đến là
Truyền dẫn tỷ giá trong các nền kinh tế mới nổi GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 6 - TCDN Đêm 4 – K22 Trang 12
một ảnh hưởng hiện thời của những cú sốc giá nhập khẩu trên giá tiêu dùng nhưng
không có chiều ngược lại. Lãi suất được đặt ở cuối cùng, là đại diện của thị trường
tiền tệ, và trong chính sách tiền tệ cụ thể, nó phản ứng lại đồng thời với tất cả các biến
trong mô hình. Các đặc điểm cơ bản trên chỉ đại diện cho một trong những giải pháp
để nhận dạng các biến và cũng mang tính tương đối.Vì vậy, sau đó chúng tôi thực
hiện một phân tích độ nhạy bằng cách sử dụng hai công thức đáng tin cậy khác.
3.2. Mô tả mẫu:
Bài nghiên cứu tập trung phân tích các nước từ ba khu vực lớn trên thế giới:
châu Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, và Hồng Kông), Trung và
Đông Âu (Cộng hòa Séc, Hungary, Ba Lan) cộng thêm Thổ Nhĩ Kỳ, và Châu Mỹ La
Tinh (Argentina, Chile và Mexico). Đây là các nền kinh tế mới nổi chính ở các khu
vực này. Đối với mỗi quốc gia, dữ liệu được lấy theo quý và dữ liệu sẽ được tổng hợp
trong khoảng thời gian trở về trước xa nhất có thể. Giá dầu được thể hiện bằng chỉ số
giá dầu thô tính bằng đô la Mỹ. Các biến sản lượng là GDP, trong một vài trường hợp,
bài nghiên cứu đã sử dụng sản lượng sản xuất công nghiệp để có được một khoảng
thời gian mẫu dài hơn. Tỉ giá hối đoái, đối với tất cả các nước sử dụng một chuỗi tỉ
giá danh nghĩa hiệu lực. Hơn nữa, nhập khẩu bằng đồng nội tệ và chỉ số giá tiêu dùng
cũng được bao gồm, (Ngoại trừ Trung Quốc bị giới hạn trong phân tích cho giá tiêu
dùng và chỉ số giá nhập khẩu bởi vì chúng không sẵn có). Cuối cùng, các công cụ
chính sách tiền tệ được thể hiện bằng lãi suất ngắn hạn.
mở cửa trong các cơ cấu giao dịch. Lấy tỷ lệ nhập khẩu theo phần trăm GDP, chúng ta
Truyền dẫn tỷ giá trong các nền kinh tế mới nổi GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 6 - TCDN Đêm 4 – K22 Trang 14
thấy rằng các nền kinh tế mở cửa nhất trong mẫu (theo thứ tự giảm dần) là Hồng
Kông, Singapore tiếp theo là Cộng hòa Séc và Hungary. Các nền kinh tế lớn hơn,
Trung Quốc và Argentina được thấy là tương đối khép kín so với các thị trường mới
nổi khác trong nghiên cứu này.
Bảng 2 tóm tắt các điều kiện kinh tế vĩ mô trung bình trong ba nền kinh tế tiên tiến và
cũng là điểm chuẩn của nhóm tác giả so sánh. Đó là Mỹ, khu vực đồng Euro và Nhật
Bản.
Các nền kinh tế này có tỉ lệ lạm phát trung bình thấp cũng như điều kiện kinh
tế vĩ mô ổn định hơn so với các thị trường mới nổi. Trên cơ sở lịch sử lạm phát, trong
số các thị trường mới nổi, người ta có lẽ sẽ mong đợi có thể tìm thấy các hệ số ERPT
thấp nhất ở châu Á và cao nhất ở châu Mỹ Latinh, ngoại trừ Chile. Mức độ mở của
nền kinh tế, có thể đóng góp để đóng một vai trò làm cân bằng bằng cách làm giảm
các tác động của ERPT đến chỉ số giá tiêu dùng vì các nền kinh tế Mỹ Latinh có độ
mở không cao, trong khi mang lại một tác động dương, làm tăng ERPT, đặc biệt là
trong các trường hợp của Hồng Kông và Singapore - các quốc gia có độ mở lớn nhất
trong mẫu nghiên cứu.
Mức độ ERPT trong mỗi quốc gia được tính toán bằng cách ước tính một đặc
điểm kỹ thuật của mô hình (1) cho các vector được chọn của các biến nội sinh. Kiểm
định nghiệm đơn vị units root cho thấy hầu hết các biến trong các nước được coi là
Truyền dẫn tỷ giá trong các nền kinh tế mới nổi GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 6 - TCDN Đêm 4 – K22 Trang 15
không dừng (chỉ có biến lãi suất đã được tìm thấy là dừng trong một số trường hợp),
liệu được điều chỉnh để loại bỏ yếu tố mùa vụ. Độ trễ trong mô hình VAR cho mỗi
quốc gia được xác định bằng cách dựa vào các tiêu chí thông tin khác nhau cũng như
một số kiểm định cụ thể. Tiêu chí thông tin được sử dụng để giúp xác định độ dài trễ
tối ưu, nhưng quyết định cuối cùng dựa trên các kiểm định cụ thể thông qua việc áp
dụng cho các mô hình thay thế khác.
Trong những phần tiếp theo, đầu tiên sẽ đưa ra các kết quả tác động của ERPT
đối với giá cả trong nước tại các nền kinh tế mới nổi và so sánh với nhóm các nước
phát triển. Sau đó, nhóm tác giả thiết lập một mối liên hệ giữa kích thước của ERPT ở
các quốc gia và một số yếu tố khả thi bằng cách tính toán hệ số tương quan. Cuối
cùng kiểm tra lại sự chắc chắn của những kết quả này bằng cách áp dụng hai phương
án xác định thay thế.
Truyền dẫn tỷ giá trong các nền kinh tế mới nổi GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 6 - TCDN Đêm 4 – K22 Trang 16
IV. Kết quả:
4.1. Kết quả thực nghiệm:
Các ước tính của ERPT lên giá nhập khẩu và CPI cho tất cả các nước có thị trường
mới nổi trong mẫu của nhóm tác giả được tóm tắt trong bảng 3 và 4 với 2 khoảng thời
gian khác nhau, cụ thể là sau 4 quý và 8 quý. Đối với hầu hết các quốc gia, kết quả
của nhóm tác giả nói chung có vẻ hợp lí cả với CPI và giá nhập khẩu. ERPT được tìm
thấy để giảm dần theo chuỗi giá cả, tức là giá nhập khẩu cao hơn giá tiêu dùng. Đặc
biệt, một năm sau cú sốc ERPT tới giá nhập khẩu được tìm thấy là cao và thống kê
không khác nhau từ một trong các trường hợp của Argentina, Chile, Hungary, hầu hết
các nước châu Á khác. ERPT đối với CPI được tìm thấy là cao nhất ở Hungary và
Mexico. Ở châu Á, ERPT tới chỉ số giá tiêu dùng được tìm thấy là thấp cho cả 2
khoảng thời gian khảo sát 4 quý và 8 quý .Như là Singapore, trong khi các ước tính
điểm của các hệ số được tìm thấy là tương quan âm yếu, chúng xấp xỉ bằng 0.
ứng truyền dẫn ước được ước tính ở các nước phát triển và các nước mới nổi, kết quả
cho thấy không phải lúc nào mức độ của ERPT tại các thị trường mới nổi là luôn cao
hơn so với các nước đang phát triển. Cụ thể hơn, nhóm tác giả thấy rằng trong nền
kinh tế mới nổi có lạm phát thấp (đặc biệt là các nền kinh tế châu Á) hiệu ứng truyền
dẫn đối với giá tiêu dùng là khá thấp. Bước tiếp theo trong phân tích của nhóm tác giả là để có được một số hiểu biết
về các yếu tố kinh tế vĩ mô có quyết định ERPT. Nhóm tác giả bắt đầu bằng cách xem
xét liệu có phù hợp với giả thuyết của Taylor là có mối tương quan dương giữa hiệu
truyền dẫn và lạm phát. Để minh họa, nhóm tác giả bắt đầu phân tích bằng cách trực
Truyền dẫn tỷ giá trong các nền kinh tế mới nổi GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 6 - TCDN Đêm 4 – K22 Trang 18
quan kiểm tra mối quan hệ giữa mức độ ERPT sau một năm và lạm phát cho các thị
trường mới nổi trong mẫu (xem hình 1). (Lưu ý: mô hình sử dụng là mô hình baseline: Các nước được thể hiện trong biểu đồ
gồm Argentina (AG), Thổ Nhĩ Kỳ (TK), Mexico (MX), Cộng hòa Séc (CZ), Hungary
(HN), Ba Lan (PL), Chile (CL), Hàn Quốc (KR), Trung Quốc (CN), Hồng Kông(HK),
Đài Loan (TW), Singapore (SG)).
Như trong hình 1, có 2 nhóm nước được khoanh tròn. Đầu tiên là các nước mà
trong đó lạm phát hàng năm trung bình ít hơn 10% so với mẫu, mức độ ERPT thường
thấp (thường ít hơn 10%). Thứ hai là các quốc gia mà trong đó lạm phát trung bình là
rõ ràng cao hơn - tức là từ 10% đến 20%, với một mức độ cao hơn đáng kể của ERPT
đối với giá tiêu dùng (khoảng 40%). Điều này dường như để cung cấp ít nhất một sự
ủng hộ rõ ràng cho của giả thuyết của Taylor. Hai quốc gia khác trong mẫu này,
Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ, xuất hiện sự chênh lệch rõ ràng, vì họ có tỷ lệ lạm phát
Nhóm 6 - TCDN Đêm 4 – K22 Trang 20
Trong phần này, nhóm tác giả đánh giá lại kết quả ban đầu của mình. Nhóm tác
giả ước tính lại mô hình với hai cách thay đổi thứ tự của các biến trong xung phân tích
Cholesky. Đầu tiên, nhóm tác giả áp dụng phương trình thay thế với cách sắp xếp sau
đây: oil
t
, i
t
, y
t
, e
t
, pimp
t
, cpi
t
. Ở phương án thay thế này, lãi suất được di chuyển đứng
trước tỷ giá hối đoái, như đề xuất bởi Choudhri (2002). Sự sắp xếp này cho phép cho
một phản ứng cùng lúc của tỷ giá hối đoái khi có sự thay đổi trong chính sách tiền tệ.
Ước tính ERPT theo mô hình thay thế 1 này nói chung là tương tự như những thảo
luận trong phần trước (xem bảng 7 và 8).
Bảng 7 + bảng 8: Phản ứng của IMP và CPI khi có cú sốc tỷ giá hối đoái 1%
theo mô hình thay thế 1
Thời gian
IMP CPI
4 quý
8 quý
Singapore
0,10
0,70
-0,17
-0,09
Đài Loan
0,19
-0,11
0,03
0,02
Cộng hòa Séc
0,73
0,59
0,55
0,72
Hungary
0,75
0,39
Chi Lê
0,77
0,39
0,11
-0,05
Mexico
1,44
1,81
0,60
1,11Một ngoại lệ ở đây là Hungary, nơi ước tính của ERPT giá nhập khẩu và chỉ số giá
tiêu dùng là giảm đáng kể. Về giá nhập khẩu, như đã đề cập ở trên, một năm sau cú
sốc hệ số của ERPT được tìm thấy là cao ở Argentina, Mexico và Ba Lan. Trong
trường hợp của Chile, hệ số này được tìm thấy là thấp hơn một chút và gần với các
cấp độ của Cộng hòa Séc và Hàn Quốc (ở khoảng giữa 0,7 và 0,8). Ở châu Á, ERPT
Truyền dẫn tỷ giá trong các nền kinh tế mới nổi GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm 6 - TCDN Đêm 4 – K22 Trang 21
thế 2, nhóm tác giả hãy giả định rằng tỷ giá hối đoái không đồng thời bị ảnh hưởng
bởi những cú sốc của bất kỳ các biến khác trong, tức là nó được sắp xếp ở vị trí đầu
tiên: e
t
, imp
t
, y
t
, ppi
t
, cpi
t
, i
t
. Với các giả định của mô hình thay thế 2 đã tính đến tỷ
giá hối đoái bị ảnh hưởng bởi các cú sốc của các biến khác nhưng có độ trễ, ngầm giả
định rằng tồn tại đồng thời ít nhất các yếu tố khác (như thiếu thông tin hoặc thông tin
không hoàn hảo - cả hai điều này đều có tầm quan trọng rất lớn trong bối cảnh thị
trường nới nổi) có xu hướng chiếm ưu thế.
Mặc dù mô hình này tương đối khác nhau, nhưng kết quả mà nhóm tác giả có
được là đáng chú ý tương tự như những thảo luận trong phần trước (xem bảng 10 và
bảng 11). ERPT đối với giá nhập khẩu được tìm thấy gần bằng 1, đối với cả 2 khoảng
thời gian sau 1 năm và 2 năm ở Argentina, Chile, Hungary, Ba Lan, Mexico và Thổ
Nhĩ Kỳ, trong khi được ước tính là thấp hơn nhiều ở các nước châu Á và Cộng hòa
Czech. ERPT đối với giá tiêu dùng được tìm thấy là thấp hơn so với ERPT đối với
giá nhập khẩu cho tất cả các nước và trong trường hợp của một số nước châu Á gần
như bằng 0 sau 1 và 2 năm. Lặp lại việc phân tích tương quan, nhóm tác giả luôn tìm
thấy bằng chứng của một mối tương quan dương giữa ERPT đối với CPI và lạm phát,
sau khi loại trừ Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ ra khỏi mẫu này (xem bảng 12). Hệ số
tương quan giữa ERPT đối với CPI và các thước đo sự bất ổn định kinh tế vĩ mô cũng
0,46
0,18
0,12
Singapore
-0,30
0,28
-0,25
-0,24
Đài Loan
0,25
0,09
-0,03
-0,04
Cộng hòa Séc
0,58
0,23
Argentina
1,12
1,65
0,07
0,25
Chi Lê
0,93
0,67
0,31
0,25
Mexico
1,48
1,94
0,72
1,32
ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế để không có những biến động tác động đến chỉ số giá
tiêu dùng trong nước. Bên cạnh đó, khi thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu, các