HÌNH THÀNH CÁC YẾU TỐ QUA BIỆN PHÁP
RÈN CHỮ VIẾT - GIÚP HỌC SINH THAM GIA
PHONG TRÀO THI”VỞ SẠCH CHỮ ĐẸP”.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ :
Qua nhiều năm công tác , tôi nhận thấy trong quá trình dạy học ,thông qua
các hoạt động (nghe ,nói , đọc ,viết…. ) được thể hiện một cách thường xuyên.
Trong đó , chữ viết đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành tiếp thu các kiến
thức của học sinh. Qua đó cứ mỗi năm học trải qua các em sẽ lên lớp trên thì kiến
thức cũng được nâng cao dần theo từng giai đoạn (lớp). đông thời quá trình rèn
luyện qua nhận thức của học sinh cũng từng bứơc nâng cao. Nhưng chữ viết của
các em đáng lẽ cũng được nâng cao theo (viết đẹp) ngược lại thì còn rất nhiều hạn
chế. Chẳng những còn có chiều hướng xuống cấp trong những năm qua.
Thật vậy, khi học sinh lên học các lớp ở đầu cấp 2 thì chữ viết vẫn chưa được
phát huy nhiều do ảnh hưởng những nguyên nhân sau:
- Do trẻ tập tành học nói , học viết ,vẽ … bằng cách bắt chước làm theo ,nên
ảnh hưởng môi trường tiếp xúc nhất là ở gia đình , kể cả khi vào mẫu giáo .v.v.
chẳng hạn từ cách chơi, cách học cho nên trẻ mới có sự cảm nhận bằng nhiều cách,
vận dụng bất cứ hình thức nào (bản năng tự phát cầm , nắm , lấy tô, vẽ viết , rồi
quen dần trở thành thói quen. Cho đến khi vào cấp 1 (lớp 1 ,2, 3) từ tư thế cách
Sáng ki ến kinh nghiệm.( A VX ) Trang 1 Gv: Nguyeãn Quoác Tuaán Só
viết mang tính chất kế thừa. nếu chúng ta không có biện pháp khắc phục và kiên trì
uốn nắn những tư thế sai , lệch lạc… dẫn đến trẻ khó mà viết đẹp được và khó sửa .
- Thật vậy khi dự giờ ( chính tả, tập làm văn , tập viết ,…) nhất là phân môn “tập
viết” , khi quan sát kĩ qua một lượt thì sẽ thấy tư thế của học sinh ( ngồi cầm bút
….) đủ kiểu. chẳng hạn, ngọe cổ, uốn miệng , mặt nằm sát xuống bàn , … trông
thật vất vả , khó khăn cố gắng lắm mới viết xong bài. Thậm chí có một số em lo ra
chỉ viết mấy chữ , mấy câu ngoằn ngoeøo, lệch lạc ,…thỉnh thoảng nhìn lên thầy ,
cô hối thúc , quở trách.
- Ảnh hưởng đến hình dáng kểu chữ “in” ( đối với trẻ chậm phát triển chư linh
hoạt)
- Ảnh hưởng đến mẫu kiểu chữ viết thay đổi qua các giai đoạn trước.
Nếu như trẻ vào học mẫu giáo (cũng như ở ga đình ) cần phải kết hợp quan tâm
uốn nắn thường xuyên như: tư thế ngồi , cầm bút ,nói ,đọc … chuyển qua tự giác từ
Sáng ki ến kinh nghiệm.( A VX ) Trang 3 Gv: Nguyeãn Quoác Tuaán Só
hình mẫu, vật mẫu ,cả giọng điệu cử chỉ của thầy cô giáo thì trẻ thường bắt chước
và tiếp thu rất nhanh. Khi vào học cấp 1( lớp 1,2,3). Giáo viên không ngại khó cần
phải tiếp tục quan tâm nhiều hơn nữa , đồng thời phải có kế hoạch và biện pháp,
pháp hiện và sửa chữa kịp thời những tư thế (bẩm sinh) mà trẻ chưa sửa được từ
mẫu giáo ,dễ cập nhật và khắc phục ngay như ngồi ngay cầm đúng ,dễ nhìn dễ viết.
Dẫn đến viết đúng ,nhanh qua các môn học khác. Sau đó giúp học sinh lĩnh hội
cách viết nhất là chữ cái , chữ viết hoa (lớp 1,2) với kích cở mà tay cầm bút không
đúng như : nắm chặt quá , cầm quá sát ngòi bút , vã lại độ di chuyển (lia bút của
các ngón tay) không đủ cở chữ , ….(độ cao : 5 dòng li)cho HS viết dời điểm tựa cả
bàn tay , cho nên trẻ viết rất khó khăn hời hợt không đều nét từ hình độ cao ,… Khi
HS nắm được “cách viết” thì việc vận dụng trong việc luyện tập cũng thuận lợi
hơn.
+ Khi viết mẫu minh hoạ phải viết đúng mẫu (kích cở )để học sinh nắm khi luyện
tập dễ hơn viết đúng hơn.
+ Sau khi chấm bài , ngoài nhận xét ra GV cần nêu lỗi phạm của HS lệch lạc , sai
để hướng dẫn các em sửa lại.
+ Cả tư thế sai cũng nhắc nhở uốn nắn luôn để tự kiềm chế khắc phục.
Thật vậy khi Gv lên lớp ,qua tiết dự giờ thì thấy GV lúc nào cũng quan tâm đến đội
quân tí hon ,mong muốn các em chăm ngoan, chăm chú nghe giảng bài hăng hái
phát biểu …tiếp thu nhanh , viết đúng sạch đẹp. Thường xuyên nhắc nhở (tay , mắt
Sáng ki ến kinh nghiệm.( A VX ) Trang 4 Gv: Nguyeãn Quoác Tuaán Só
,lưng, ngồi) hoặc sửa chữa chỉ cho có (không đầy 1 phút ) rồi đâu cũng vào đó !.
Thật ra GV ai cũng phiền lòng về vấn đề này. Vì đó là thói quen (đã nói như trên)
Qua đó chúng ta ai cũng phải đặt ra những giải pháp nào để khắc phục những
nhược điểm đó. Tìm nguyên nhân từ đâu ?( từ gia đình và mẫu giáo )
@ Các biện pháp cụ thể nghĩ ra:
1. Xây dựng nề nếp cơ bản:
Chữ đầu câu viết hoa, không viết hoa tuỳ tiện. Để khắc phục thói quen viết chữ in
và chữ viết lộn xộn như: s,x,r,k,g,p,ng,h,l,b. Vì hiện nay học sinh viết chính tả,tập
làm văn ở các lớp trên vẫn còn mắc rất nhiều lỗi như ; về chữ viết , lỗi chính tả ,
cách trình bày …
6. Thường xuyên kiểm tra sách vở học sinh và cách bảo quản:
Nhất là vở bài học ,vở bài làm viết , có trình bày đúng quy định chưa. Kể cả chữ
viết ,… dành vài phút trong giờ sinh hoạt lớp đều đặn để tác động thường xuyên và
Sáng ki ến kinh nghiệm.( A VX ) Trang 6 Gv: Nguyeãn Quoác Tuaán Só
cho học sinh xem tập vở các bạn viết sạch sẽ chữ đẹp. Đề nghị học sinh khắc phục
những sai xót (xé giấy hoặc bỏ giấy mới viết độ nữa trang ,vẽ bẫn ,quăn góc…)
7. Rèn luyện thường xuyên:
Dựa vào vở ập viết đúng đẹp. Nhất là mẫu cữ viết hoa,câu ,từ ứng dụng,giáo viên
kiểm tra chưa đạt thì viết lại.
B. Tổ chức tiến hành để giải quyết vấn đề ,giáo viên linh hoạt phối hợp các
biện pháp trên áp dụng cho học sinh chậm tiến và học sinh có khả năng tham
gia thi “VSCĐ”:
Qua quá trình giáo dục và động viên học sinh tham gia phong trào thi
“VSCĐ” qua thực tiễn cho thấy cần vận dụng phối hợp các yếu tố và các biện pháp
sau:
1. Hình thành cho học sinh ngay từ đầu năm, xây dựng nề nếp theo yêu cầu
chung:
- Linh hoạt ngay việc phân phối vở ,bao bìa,dán nhãn,…
- Cách trình bày vở theo yêu cầu như nội dung chấm chọn “VSCĐ” (phải ghi ngày
tháng năm trước khi ghi bài đầu tiên của từng buổi học viết cho cân xứng vừa một
dòng (cách lề khoảng 2ô). Viết tên phân môn ở giữa dòng và gạch chân , )
2. Phân loại chữ viết cả lớp xếp loại (ABC):
Sáng ki ến kinh nghiệm.( A VX ) Trang 7 Gv: Nguyeãn Quoác Tuaán Só
Có kế hoạch bồi dưỡng ngay từ khi khảo sát chất lượng đầu năm. Đánh giá xếp
loại “VSCĐ” hàng tháng. Nhận xét vào tiết sinh hoạt lớp để kích thích các em còn
chậm sẽ có chuyển biến từng bước xếp loại từ C – B , B – A.
Chị huyền mang nặng ngã đau
Anh sắc không hỏi một câu gọi là.
Nhóm 1: chữ nào viết chung trong một từ láy mang thanh ( \ ; . ) thì được viết dấu
ngã.
Nhóm 2: chữ nào viết chung trong một từ láy mang thanh huyền ( \ ) và thanh
ngang ( - ) thì viết dấu hỏi.
6. Tác động từ 3 phía ( Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm , gia đình):
Từ phiên họp định kì đầu năm. Giáo viên chủ nhiệm thông qua việc học tập, nêu ra
thuận lợi và khó khăn của lớp ,… thảo luận bàn bạc với phụ huynh học sinh đưa
ngững biện pháp để giáo dục thuyết phục trẻ tốt hơn. Thông qua kiểu chữ mới.
Sáng ki ến kinh nghiệm.( A VX ) Trang 9 Gv: Nguyeãn Quoác Tuaán Só
Nắm được cách đánh giá xếp loại “VSCĐ” cho học sinh ở 3 mức A,B,C để phụ
huynh cùng giá dục và tác động (khuyến khích ). Ký tên và nhận xét góp ý vào
phiếu liên lạc. Hỗ trợ việc học ở nhà như kiểm tra đôn đốc , nhắc nhở thực hiện
đúng được khung chữ cơ bản và kích cở của mẫu chữ mới này (viết hoa,viét
thường)(chữ vừa ,chữ nhỏ)tương tự như khung chữ củ cùng với một vài thuật ngữ (
định vị , ước lượng). Trong năm học này được dạy tiếp lớp 1 nên tôi cũng dể dàng
rèn chữ viết cho học làm nền tảng ở các lớp trên. Qua hơn một học kì tôi đã nhận
thấy công sức của tôi đỗ ra cũng mang lại cho tôi một kết quả rất khả quan sau khi
kiểm chứng.
7. Kiểm nghiệm lại kinh nghiệm :
a) Kết quả:
Qua quá trình hình thành và vận dụng sáng kiến kinh nghiệm thực tiễn đã mang lại
một niềm phấn khởi trong từ đầu năm học đến nay.
BẢNG THỐNG KÊ HS ĐẠT KẾT QUẢ SAU ÁP DỤNG SKKN
Sáng ki ến kinh nghiệm.( A VX ) Trang 10 Gv: Nguyeãn Quoác Tuaán Só
Năm học
2008 - 2009
Lớp Số HS viết
chưa đúng
nắm bắt được kịp thời mẫu chữ mới theo TT/31 dẫn đến minh họa trên bảng còn
sai mẫu chữ gây khó khăn cho học sinh luyện tập.
- Hiện nay đang đẩy mạnh phong trào công nghệ thông tin, nên cũng có đôi phần
ảnh hưởng đến giáo viên. Nếu không chịu khó rèn chữ viết cho bản thân thì cũng
khó mà rèn cho học sinh.
- Giáo viên chưa mạnh dạn đề nghị với Ban giám hiệu nhà trường quan tâm đến
việc bồi dưỡng học sinh và biểu dương khen ngợi kịp thời ở trường cho học sinh
đạt thành tích trong hàng tháng kiểm tra “VSCĐ” ở lớp ,và nêu gương học sinh
dưới cờ, qua đó cũng làm gương tác động đến học khác trong trường.
III. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM :
Qua việc vận dụng và hình thành cho học sinh về việc rèn chữ viết và giữ vở sạch
viết chữ đẹp vào trong thực tiễn. Trong những năm vừa qua và cùng đầu năm học
này tôi cũng rất tâm đắc với quyết định của nhà trường về việc rèn chữ viết cho
giáo viên là hàng tháng mỗi khi giáo viên nộp sổ bài soạn cần phải kèm theo vở
luyện viết mẫu chữ viết hoa và bài luyện viết khoảng 40 dòng tôi cảm thấy rất thú
vị.
Sáng ki ến kinh nghiệm.( A VX ) Trang 12 Gv: Nguyeãn Quoác Tuaán Só
Một là, bản thân có việc học hỏi , nghiên cứu mẫu chữ mới,được cập nhật trao dồi
rèn luyện. Đồng thời để quá trình truyền thụ cho học sinh lĩnh hội tốt hơn,viết chữ
đẹp hơn. Bên cạnh cũng muốn để cho anh em đồng nghiệp có thể góp ý cho hoàn
chỉnh hơn và có thể áp dụng đạt hiệu quả hơn.
Hai là,về phía nhà trường đồng thời quan tâm nhiều hơn nữa để giúp cho phong
troà thi “VSCĐ” ngày càng đạt hiệu quả hơn. Qua đó tôi cũng rút ra bài học kinh
nghiệm là: cần phải phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên và gia đình. Vì vậy,giáo viên
và cha mẹ là chổ dựa đáng tin cậy cho học sinh,mà các em ghe lời nhất là giáo
viên. Hơn nữa nên phối hợp cùng tác động,động viên,nhưng phải vừa nghiêm vừa
mềm dẻo,trong đó động viên thuyết phục,uốn nắn là chủ yếu. Được như vậy trẻ
mới an tâm và hứng thú trong việc tự hình thành thói quen trao dồi bản thân như:
siêng năng,chịu khó luyện tập và thấy được cái ích lợi của việc rèn luyện. Qua đó
các em chuyển từ nhận thức sang hành động. Từ ham thích ham thích chữ viết đẹp
+ Biết cách cầm bút ,cầm phấn : cầm 3 ngón tay ( cái ,trỏ ,giữa), cách đầu bút
(phấn) khoảng chừng 2cm .
+ Biết ngồi viết đúng tư thế : ngồi thẳng lưng , thẳng đầu , đầu cách vở khoảng 3
gang tay (30 cm)
+ Biết cách để vở : để vở ngay ngắn (không để xéo)
+viết đúng quy trình ,kĩ thuật ,tiến tới viết nhanh , viết đẹp.
- Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc rèn viết cho hs sau này , ngay từ những tiết
đầu dạy viết các nét cơ bản Gv cần dạy kỹ như sau:
+ Cho hs xem mẫu
+ Gv nêu tên nét – Hs nhắc lại để nhớ tên nét .
+ Gv hướng dẫn hs quan sát đặc điểm của nét : độ cao ,độ rộng ,độ xiên…
+ GV vừa viết vừa nêu quy trình ,kĩ thuật viết nét : điểm đặt bút , điểm dừng bút.
+ Hs viết thư các nét vào bảng con.
+ HS viết các nét vào vở
+ Gv chấm chữa – nhận xét một số vở.
Khi hs nắm được quy trình kĩ thuật viết các nét cơ bản ,các em sẽ vaanj dụng một
cách nhanh chóng vào việc rèn chữ. Nhờ đó Gv đỡ mất thời gian hướng dẫn viết
sau này.
Để giúp học sinh viết đúng thời gian quy định , tiến tới viết đẹp các chữ ,khi hướng
dẫn viết Gv hướng dẫn kĩ thuật viết liền nét ,viết các nét nối trong con chữ.
Ví dụ:
Sáng ki ến kinh nghiệm.( A VX ) Trang 15 Gv: Nguyeãn Quoác Tuaán Só
- Khi hướng dẫn vần “iêng”. Cần lưu ý hướng dẫn cho hs các nét nối giữa i với
ê – n – g.
- Khi gv hướng dẫn viết tiếng “bé” cần lưu ý cho hs cách nối nét giữa chữ b và chữ
e, viết cân đối ,đẹp nét khuyết trên ,viết liền mạch nét khuyết trên và nét thắt trong
chữ b.
Nên viết không nên viết
* Hy vọng rằng qua biện pháp tôi đưa ra luôn nhận được sự góp ý chân thành của
Giáo viên :
Nguyễn Quốc Tuấn Só
Năm Học : 2009 - 2010