HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
KHOA: GIÁO DỤC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM
THỨ NHẤT HỌC VIỆN HẬU CẦN
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Lê Thị Thủy
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Phượng
Lớp : TLGD K1B
Chuyên ngành : TLGD
Hà nội, tháng 12 năm 2011
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Thuần thục 45
Chưa thuần thục 45
Chưa biết cách 45
Sl 45
% 45
Sl 45
% 45
Sl 45
% 45
Đọc sách 45
19.0 45
43.5 45
12.9 45
Nghe giảng và ghi chép 45
Lời cảm ơn
2
Để có được luận văn này, tác giả xin chân thành cảm ơn quý thầy cô
học viên
Bảng 3
Tổng quan thực trạng khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt nhận
thức và thái độ trong học tập của ,sinh viên năm thứ nhất Học
viện Hậu cần.
Bảng 4
So sánh mức độ các khó khăn tâm lý trong học tập của sinh
viên các chuyên ngành:
Bảng 5
Khó khăn tâm lý trong học tập qua biểu hiện về mặt hành vi
của học viên năm thứ nhất Học viện Hậu cần
Bảng 6
Thực trạng của hiệu quả hoạt động học tập do ảnh hưởng của
những khó khăn tâm lý của học viên năm thứ nhất Học viện Hậu
cần
Bảng 7
Bảng tương quan hiệu quả hoạt động học tập do ảnh hưởng của
khó khăn tâm lý
Bảng 8
Tổng quan thực trạng nguyên nhân gây ra khó khăn tâm lý trong
hoạt động học tập của học viên năm thứ nhất Học viện Hậu cần.
Bảng 9 Tổng quan thực trạng các biện pháp khắc phục khó khăn
Bảng 10
Thời gian tự học của học viên năm thứ nhất Học viện
Hậu cần.
2. Biểu
Biểu 1
Mức độ gặp khó khăn tâm lý trong học tập nói chung của
học viên năm thứ nhất học viên Hậu Cần.
Biểu 2 Tương quan mức độ thực hiện các kỹ năng đọc sách giữa các
năng phát hiện và giải quyết các vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành
6
đào tạo” [17], trở thành chuyên gia trong lĩnh vực đào tạo, có khả năng lao
động nghề, nuôi sống bản thân và đóng góp, phục vụ cho xã hội trong tương
lai. Do đó hoạt động học tập cần sự quan tâm, nghiên cứu, tìm hiểu nhằm
mục đích tạo điều kiện thuận lợi cũng như giảm bớt những khó khăn tâm lý
trong học tập của sinh viên.
Đối với sinh viên năm thứ nhất, để phát triển, xây dựng và hoàn thiện nhân
cách, hình thành bước đầu kinh nghiệm về tương lai, họ phải tiến hành hoạt động học
tập với sự làm quen, thích nghi với một môi trường học tập mới hoàn toàn so với ở
bậc phổ thông. Trong quá trình này sẽ nảy sinh ra nhiều khó khăn , gây cản trở sự
thích ứng với hoạt động học tập của họ, dẫn đến hiệu quả trong học tập không cao.
Như vậy, khó
khăn
tâm
lý
trong
học
tập
chính
là
những
viên,
gây
cản
trở,
ảnh
hưởng
tiêu
cực
đến quá
trình
và
hiệu
quả
hoạt
động
làm cần thiết góp phần nâng cao chất lượng hoạt động học tập, rèn luyện của
họ.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề
tài “Khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên năm thứ nhất học ở Học
viện Hậu cần”.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
* Mục tiêu: Phân tích thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học
tập của học viên năm thứ nhất ở Học viện Hậu cần. Trên cơ sở đó đề xuất các
biện pháp nhằm giảm bớt những khó khăn trong học tập của sinh viên.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
nghiên cứu như: khó khăn tâm lý, hoạt động học tập, hoạt động học tập của
học viên khối quân đội, những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của
sinh viên khối quân đội năm thứ nhất.
- Tìm hiểu thực trạng khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh
viên năm thứ nhất Học viện Hậu cần, xác định những nguyên nhân gây ra khó
khăn tâm lý trong hoạt động học tập của họ.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm giảm bớt những khó khăn tâm lý
trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất Học viện Hậu cần.
3. Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, đối tượng khảo sát:
- Đối tượng nghiên cứu: Những khó khăn tâm lý trong hoạt động học
tập của sinh viên năm thứ nhất hệ quân sự Học viện Hậu cần.
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên năm thứ nhất hệ quân sự Học viện
Hậu cần.
4. Giả thuyết khoa học của đề tài:
Đa số sinh viên năm thứ nhất Học viện Hậu cần đều gặp phải những
khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập. Những khó khăn tâm lý này có sự
8
khác biệt về mức độ xét theo phương diện khối học, nếu có các biện pháp tác
động tích cực phù hợp sẽ tác động hỗ trợ giúp sinh viên năm thứ nhất Học
công trình nghiên cứu tiêu biểu:
9
1.1 .1 Ở Việt Nam:
Trong tác phẩm "Nỗi khổ của con em chúng ta", bác sỹ Nguyễn Khắc Viện đã
nêu ra những khó khăn tâm lý mà học sinh lớp một gặp phải đó là: Trẻ phải giữ kỷ
luật lớp học; trẻ phải học một chương trình nặng hơn so với tuổi mẫu giáo;trẻ ít được
bố mẹ vỗ về âu yếm hơn trước và trẻ luôn chịu sự kiểm tra, đánh giá của bố
mẹ…[6].
Nhà giáo dục Nguyễn Thị Nhất trong tác phẩm "6 tuổi vào lớp 1" đã phát
hiện ra nhiều khó khăn tâm lý mà trẻ lớp một phải vượt qua. Tác giả cho rằng "trong
quá trình lớn lên của trẻ em có những bước ngoặt chuyển tư giai đoạn này sang giai
đoạn khác đòi hỏi trẻ em phải thay đổi phương thức sinh hoạt một cách triệt để".
Đồng thời tác giả cũng nêu ra một số khó khăn tâm lý cụ thể mà trẻ lớp một phải
vượt qua: (1) Trẻ phải rời bỏ cuộc sống thoải mái, đa dạng, vui nhộn, hoạt động tùy
hứng ở mẫu giáo và khép mình vào kỷ luật nghiêm khắc của lớp học phổ thông;
(2)Trẻ gặp khó khăn trong quan hệ với giáo viên; (3)Trẻ bị "vỡ mộng" khi vào học
lớp một vì sự hân hoan hồi hộp chờ đón những điều hấp dẫn được thay bằng những
điều khác xa với tưởng tượng của trẻ [14].
Năm 1995, tác giả Nguyễn Minh Hải trong bài "Những khó khăn tâm lý
trong quá trình giải toán của học sinh tiểu học" đã đề cập đến các nguyên nhân
khác nhau hạn chế năng lực giải toán của học sinh tiểu học.[15, tr.25]
Tác giả Nguyễn Thanh Sơn, trong bài viết "Những khó khăn của học sinh
miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam" [5], đã phân tích những khó
khăn của của học sinh miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam và chỉ ra
những khó khăn mà học sinh gặp phải là: Hoàn cảnh giao tiếp thông tin của học sinh
miền núi bị hạn chế; vốn từ ngữ của học sinh miền núi còn thiếu và yếu; năng lực
cảm thụ một câu thơ, một đoạn thơ yếu…
Theo tác giả, nguyên nhân của những khó khăn của học sinh miền núi khi
học tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam là do tầm văn hoá, vốn sống, vốn hiểu biết
10
và đưa ra những dữ kiện thực tiễn. Tuy nhiên, khách thể nghiên cứu trong các công
trình trên còn giới hạn, chủ yếu tập trung vào học sinh mà chưa chú ý đến sinh
viên, đặc biệt là sinh viên năm thứ nhất, những người vừa rời khỏi ghế nhà trường
phổ thông để bước vào một môi trường học tập mới. Ngoài ra, khi nghiên cứu về
vấn đề khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập, các công trình trên chỉ tập trung
nghiên cứu một cách chung chung, khái quát mà chưa đi sâu tìm hiểu khó khăn tâm lý
biểu hiện một cách cụ thể trong hoạt động học tập.
1.2.2. Ở nước ngoài
Đối với con người, học tập là phương thức để tiếp thu tri thức, kỹ năng
nhằm mục đích nhận biết, tác động, cải tạo thế giới hiện thực, phục vụ cho lợi ích
của con người. Lịch sử loài người đã chứng minh, chỉ thông qua con đường học tập,
thì những di sản văn hoá vật chất, tinh thần từ thế hệ trước mới được lưu truyền cho
thế hệ sau và cũng nhờ đó mà những giá trị này mới còn tồn tại. Tuy nhiên, học tập
không phải là một hoạt động đơn giản. Trong quá trình biến tri thức của nhân loại
thành vốn kinh nghiệm riêng của cá nhân con người đã gặp không ít khó khăn, trong
đó có nhưng khó khăn về mặt tâm lý.
Khi bàn về khó khăn tâm lí trong học tập, tác giả A.V.Pêtrốpxki hướng đến
đối tượng là khó khăn tâm lý của trẻ em khi đi vào lớp một. Ông chia những khó
khăn này ra làm ba loại:
Loại 1: Những khó khăn có liên quan đến đặc điểm của chế độ học
tập mới.
Loại 2: Khó khăn trong việc thiết lập mối quan hệ giao tiếp mới với thầy
cô và bạn bè.
Loại 3: Khó khăn trong việc thích nghi với hoạt động mới. Lúc đầu trẻ
được sự chuẩn bị của gia đình, nhà trường, xã hội nên có tâm lý vui thích và sẵn sàng
đi học. Về sau trẻ giảm dần khát vọng và chán học.
Bên cạnh đó, tác giả đề cập những nguyên nhân dẫn đến khó khăn và ảnh
12
hưởng của chúng đến đời sống của trẻ đồng thời đề xuất biện pháp giải quyết khó
khăn cho trẻ.
khăn, gay go, khắc nghiệt đòi hỏi nhiều nỗ lực để khắc phục [25].
Như vậy, từ cách định nghĩa của các từ điển trên ta có thể thấy khi nói đến
khó khăn có nghĩa là nói đến những gì cản trở, trở ngại, đòi hỏi nhiều nỗ lực để vượt
qua.
Trong thực tiễn, khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào con người đều
gặp phải những khó khăn, làm cho hoạt động chệch hướng, làm giảm đi hiệu quả mà
con người mong muốn, thậm chí không đạt hiệu quả hoạt động. Những khó khăn
này, được gọi chung là những khó khăn trong quá trình hoạt động của con người
được tạo nên bởi các yếu tố mang tính chất tiêu cực. Đó là những yếu tố khách
quan (bên ngoài) và yếu tố chủ quan (bên trong).
Những yếu tố bên ngoài, được hiểu là những điều kiện, phương
tiện, môi trường .v.v Đây là những yếu tố có ảnh hưởng gián tiếp đến tiến trình hoạt
động của con người.
Những yếu tố bên trong, chính là những yếu tố xuất phát từ bản thân mỗi cá
nhân khi tham gia vào hoạt động đó, như nhận thức, thái độ tình cảm, năng lực,
vốn kinh nghiệm, thao tác kỹ năng tiến hành hoạt động. Xét theo phương diện nguồn
gốc xuất phát, các yếu tố bên trong có thể chia làm hai loại: yếu tố sinh học và yếu tố
tâm lý. Những khó khăn do yếu tố tâm lý tạo nên gọi là những khó khăn tâm lý.
Chính yếu tố bên trong này ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình và kết quả hoạt động
của con người.
Xuất phát từ quan điểm, khái niệm trên, khó khăn tâm lý trong đề tài này
được hiểu: khó khăn tâm lý là những nét tâm lý cá nhân, nảy sinh trong quá trình
hoạt động của chủ thể, gây cản trở, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình và hiệu quả
hoạt động của chủ thể.
2.2.1.2 . Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên.
14
Đối với sinh viên năm thứ nhất nói chung, sinh viên quân đội năm thứ nhất
nói riêng, để phát triển, xây dựng và hoàn thiện nhân cách, hình thành bước đầu kinh
nghiệm về tương lai, họ phải tiến hành hoạt động học tập với sự làm quen, thích nghi
với môi trường học tập mới hoàn toàn khác so với ở bậc phổ thông. Trong quá trình
chiều hướng hoạt động nhằm đạt mục đích nào đó, là những gì thôi thúc con người
có những ứng xử nhất định [19]. Mặt khác, theo A.N.Leonchiev và B.Ph.Lomov thì
"Lĩnh vực động cơ của nhân cách có liên quan chặt chẽ đến những nhu cầu, chế
định hành vi con người một cách khách quan và có quy luật. Động cơ là sự biểu
hiện chủ quan của nhu cầu, là vị trí gián tiếp của nhân cách trong xã hội. Ngược lại,
nhu cầu là cơ sở của động cơ. Trên thực tế động cơ và nhu cầu gắn bó mật thiết với
nhau đến mức thường không thể phân tách chúng ra được." [22]. Do đó, việc xác
định cho được động cơ học tập cũng chính là xác định được nhu cầu học tập của
bản thân sinh viên. Nhu cầu học tập la thành tố quan trọng của động cơ hoạt động,
là nguồn gốc tính tích cực học tập, biểu hiện qua tính tự giác, thái độ nghiêm túc,
luôn vượt lên mọi khó khăn để giải quyết các nhiệm vụ học tập, qua đó nâng cao
hiệu quả học tập.
Trên cơ sở mối quan hệ giữa động cơ học tập - nhu cầu học tập như phân tích
trên, thì việc không xác định được động cơ học tập, tức động cơ học tập không rõ
ràng sẽ là một khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên.
- Nhận thức về đối tượng học tập: nhận thức ở đây không có nghĩa là khả năng nhận
thức nội dung môn học của sinh viên mà người nghiên cứu muốn nhấn mạnh đến
sự nhận thức của sinh viên về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của đối tượng học tập
đối với sự phát triển của bản thân chủ thể học tập. Như chúng ta đã biết, học tập của
sinh viên luôn gắn liền với việc trở thành chuyên gia trong một lĩnh vực cụ thể ở
tương lai, trở thành một người hoạt động nghề phục vụ cho nhu cầu xã hội và chính
hoạt động học tập ở đại học sẽ giúp họ đạt được mục tiêu này. Chính vì thế, việc
nhận thức đúng đắn vai trò, vị trí, tầm quan trọng của đoi tượng học tập sẽ giúp
16
sinh viên tích cực học tập và ngược lại sẽ gây ra việc sinh viên thiếu tâm thế học
tập, học đối phó, dẫn đến hoạt động học tập kém hiệu quả.
Thái độ
Đây là thái độ, tình cảm của sinh viên đối với việc học tập. Có thể nói khó
khăn tâm lý biểu hiện ở dạng thái độ, tình cảm là việc xuất hiện những xúc cảm
âm tính đối với hoạt động học tập như coi thường việc học tập, chán ghét, thờ ơ, lo
thứ nhất.
Khó khăn tâm lý của học viên quân đội năm thứ nhất được biểu hiện qua các
mặt sau:
Đặc trưng của hoạt động học tập ở bậc đại học so với bậc phổ thông được
xác định bởi sự khác biệt trong phương pháp học tập, cách thức tổ chức học tập
mà trong đó vai trò của người sinh viên là tích cực chủ động dưới sự hướng dẫn
của giáo viên. Và như đã trình bày ở các phần trên, chúng ta thấy rằng tính độc lập
cao trong học tập là một trong những đặc điểm của hoạt động học tập của sinh viên.
Chính vì thế, khi gặp những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của mình, hầu
như người sinh viên cũng tự mình tìm cách khắc phục. Việc khắc phục những khó
khăn tâm lý này có lúc là sự ngẫu nhiên, là việc rút kinh nghiệm sau những lần thất
bại trong học tập ở trường quân đội. Điều này cũng làm mất không ít thời gian
trong quá trình học tập. Nhưng cũng có khi người sinh viên không ý thức được
những khó khăn tâm lý mà mình gặp phải để rút ra bài học kinh nghiệm nhằm cải
thiện hoạt động học tập của mình. Đặc biệt đối với sinh viên năm thứ nhất, phần
lớn mới kết thúc bậc phổ thông. Họ bước vào đại học với nhiều bỡ ngỡ, lạ lẫm,
đồng thời vừa làm quen với cuộc sống mới, trường mới, bạn mới, những môn học
mới, cách thức tổ chức học tập mới, phương pháp giảng dạy mới. Những vấn đề
này, khi học ở phổ thông, ít học sinh nào quan tâm hoặc được quan tâm nhắc nhở để
chuẩn bị tâm thế. Do đó ít nhiều, hầu hết các học viên năm nhất đều gặp phải cảm
giác hẫng hụt, lo lắng. Trong quá trình học, bên cạnh những sinh viên có tính thích
18
ứng cao, dần làm quen với môi trường mới, hoạt động học tập đi vào ổn định thì
còn không ít sinh viên gặp nhiều khó khăn trong việc tìm cách giải quyết những
van đề này một cách đúng đắn khoa học. Thực tế cho thấy, sinh viên năm thứ nhất
thường lấy sự chăm chỉ, cần cù của mình để mong đổi lấy một kết quả học tập cao.
Chính vì thế, đôi khi ngay cả ở những sinh viên khá giỏi vẫn xảy ra việc không có
phương pháp học tập khoa học. Họ thường lấy việc tập trung nghe giảng trên lớp,
ghi chép cẩn thận, chăm chỉ tìm những tài liệu có liên quan theo sự hướng dẫn của
giáo viên, làm bài tập theo mẫu, học thuộc lòng để thay thế cho việc học tập khoa
nhất nói riêng, về mặt chủ quan, có thể gặp một khó khăn tâm lý khác là nhận thức
động cơ học tập chưa rõ ràng. Động cơ học tập của học viên quân đội bao gồm những
động cơ có ý nghĩa cá nhân và những động cơ mang ý nghĩa xã hội như: động cơ
nhận thức khoa học, động cơ nghề nghiệp, động cơ xã hội, động cơ tự khẳng
định mình và động cơ vụ lợi. Những động cơ đó được cụ thể hoá ở mục đích học
tập mà học viên quân đội cần phải đạt tới. Vì vậy, việc xác định động cơ học tập
rõ ràng là tiền đề giúp cho người học viên quân đội hình thành nhu cầu học tập,
làm nảy sinh tính tích cực học tập hướng vào việc hình thành, phát triển nhân cách
người quân nhân tương lai. Ngược lại, nếu học viên quân đội không xác định được
động cơ học tập của mình thì không thể nảy sinh nhu cầu học tập trở thành người
quân nhân. Từ đó, dẫn đến sự thiếu tích cực trong hoạt động học tập, hiệu quả hoạt
động học tập sẽ không cao [22].
Tóm lại, việc thiếu sự hiểu biết nghề và trường bộ đội, về đối tượng học tập,
cụ thể là về nội dung, chương trình, hoạt động của trường quân đội, cũng như nhận
thức không rõ ràng động cơ học tập của bản thân là những khó khăn tâm lý biểu
hiện ở mặt nhận thức trong hoạt động học tập của học viên quân đội.
*Khó khăn tâm lý biểu hiện ở mặt thái độ
Trong quá trình học tập luôn có sự tham gia của các trạng thái tình cảm cũng như
thái độ của chủ thể học tập với hoạt động học tập của mình. Đó là thái độ của chủ thể
20
học tập với hoạt động học tập.
Thực tế cho thấy, học viên năm thứ nhất nói chung, học viên quân đội năm thứ
nhất nói riêng, phần lớn đều là học sinh vừa rời khỏi nhà trường phổ thông, bước
đầu làm quen với môi trường học tập mới, học tập ở bậc đại học. Vì thế đối với
hoạt động học tập ở trường đại học còn nhiều xa lạ đối với các em. Từ đó, ở các
em có thể nảy sinh nhiều thái độ, tình cảm khác nhau đối với hoạt động học tập.
Xét trên phương diện tích cực, ở các em có thể xuất hiện những thái độ, tình cảm
dương tính đối với hoạt động học tập ở một môi trường mới như: tính tò mò đối với
học tập, tính ham học hỏi, niềm khao khát, lòng quyết tâm học tập, niềm vui, hứng
thú học tập, tinh thần kiên trì vượt khó vv. Ở trạng thái thái độ, tình cảm này sẽ
Nghề ngiệp hậu cần là một lĩnh vực lao động đặc biệt, đòi hỏi mỗi học viên trong
quá trình rèn luyện, học tập phải có ý thức chính trị xã hội cao, sẵn sàng chiến đấu, hi
sinh cho sự nghiêp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cho cuộc sống hòa bình của nhân
dân.
Để đạt được những tiêu chuẩn của một người quân nhân hậu cần như trên thì
ngay từ năm đầu tiên học tập tại trường đại học, học viên phải không ngừng phấn
đấu học tập đạt hiệu quả.
Mặt khác, đối tượng học tập của học viên quân đội lại có khối lượng khá lớn
và rộng bao gồm: hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và cách thức chiếm lĩnh
chúng thuộc các lĩnh vực khoa học chuyên ngành, nghiệp vụ quân sự. Đứng trước
sự mâu thuẫn giữa khối lượng tri thức cần tiếp thu lớn với thời gian đào tạo trong
trường đại học là giới hạn, người học viên quân đội cần phải có những phương
pháp, kỹ năng học tập khoa học cũng như khả năng sử dụng những kỹ năng học tập
thành thục.
Hệ thống kỹ năng, kỹ xảo mà các trường đại học cần trang bị cho sinh viên
cũng như một sinh viên cần phải có để có thể học tập bao gồm: hệ thống kỹ năng, kỹ
xảo nền tảng và hệ thống kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt. Trong đó, hệ thống kỹ năng
22
kỹ xảo nền tảng, đúng như tên gọi của nó, làm cơ sở, làm nền tảng cho sự hình
thành và phát triển hệ thống kỹ năng, kỹ xảo thứ hai - hệ thống những kỹ năng, kỹ
xảo liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ công tác trong tương lai của sinh viên cũng
như làm cơ sở cho mục tiêu học tập suốt đời của một cá nhân. Vì lẽ đó, sinh viên
nói chung, học viên quân đội năm thứ nhất nói riêng cần phải quan tâm trang bị và
rèn luyện hệ thống kỹ năng học tập nền tảng này.
Trước khi đề cập những kỹ năng học nền tảng, chúng ta cần bắt đầu từ
cách học, phương pháp học. Bởi kỹ năng là những thể hiện cụ thể của phương pháp
học.
Bàn về cách học tập có rất nhiều cách phân loại khác nhau do các tiếp cận
khác nhau từ nhiều tác giả. Tuy nhiên, do tính chất chủ động của chủ thể học là sinh
viên thì cách phân loại cách học, phương pháp học theo hoạt động học (theo cách tác
Tác động qua thông tin phản hồi mô hình các phương pháp tự kiểm tra, tự điều chỉnh
tương ứng là các kỹ năng kiểm tra, đánh giá:
- Đọc, phân tích vấn đề trước khi giải quyết một nhiệm vụ học tập hoặc trong khi
làm bài kiểm tra.
- Lập dàn ý, xây dựng đề cương bài kiểm tra.
- Phân bố thời gian hợp lý khi thực hiện một bài kiểm tra.
- Viết, trình bày câu trả lời.
- Đánh giá, rút kinh nghiệm sau mỗi lần kiểm tra hoặc phải giải quyết một nhiệm
vụ học tập nào đó.
Tóm lại, kỹ năng học tập nền tảng là một đòi hỏi quan trọng và cần thiết đối
với sinh viên nói chung, học viên quân đội năm thứ nhất nói riêng để giúp cho hoạt
động học tập của họ đạt hiệu quả. Do đó, có thể nói, việc không biết hoặc biết
không rõ cách thực hiện các kỹ năng học tập nền tảng, sử dụng chúng không thành
thục hoặc thái độ xem thường, cho rằng kỹ năng học tập nền tảng là không cần
thiết chính là những khó khăn tâm lý biểuhiện ở mặt hành vi trong hoạt động học tập
24
của học viên.
2.2.1.5. Nguyên nhân gây ra khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập
Khi tiến hành mỗi hoạt động luôn có những khó khăn và cần phải có
những điều kiện cần thiết để hoạt động diễn ra suôn xẻ. Hoạt động học tập là
một trong những hoạt động vất vả, khó khăn. Do đó để đảm bảo được các
điều kiện cho hoạt động học diễn ra thuận lợi là một điều kiện hết sức cần
thiết. Các điều kiện này nếu được đảm bảo sẽ tạo thuận lợi cho quá trình học
tập và ngược lại nếu không đáp ứng được các yêu cầu của học tập thì nó sẽ là
nguyên nhân nảy sinh những khó khăn nói chung và khó khăn tâm lý nói
riêng trong hoạt động học tập.
Như vậy, có thể nói nguyên nhân gây ra những khó khăn tâm lý trong
hoạt động học tập của học viên là do các điều kiện cần cho hoạt động học tập
không được đảm bảo. Nó bao gồm các điều kiện khách quan và chủ quan-
xuất phát từ chính chủ thể học viên.