Khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên năm thứ nhất khoa giáo dục học viện quản lý giáo dục - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------

Nguyễn Thị Thanh Huyền

KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT KHOA GIÁO DỤC
- HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------

Nguyễn Thị Thanh Huyền

KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT KHOA GIÁO DỤC
- HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 04 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM THỊ THU HOA

điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn.
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên
luận văn còn nhiều thiếu, rất mong nhận được ý kiến góp ý của thầy/cô và các
bạn học viên.

Hà Nội, tháng 10 năm 2014.
Học viên

Nguyễn Thị Thanh Huyền


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
Chương 1: .................................................................................................. 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HỌC TẬP ...... 4
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề................................................... 4
1.1.1. Ở nước ngoài ....................................................................... 4
1.1.2. Ở Việt Nam........................................................................... 6
1.2. Một số vấn đề lý luận của đề tài .......................................................... 10
1.2.1. Học tập của sinh viên Học viện Quản lý giáo dục ............. 10
1.2.2. Khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên Học viện Quản
lý giáo dục .................................................................................... 18
Chương 2: ................................................................................................ 28
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................ 28
2.1. Nghiên cứu lý luận ................................................................................ 28
2.1.1. Mục đích nghiên cứu lý luận ............................................. 28
2.1.2. Nội dung nghiên cứu lý luận ............................................. 28
2.1.3. Phương pháp nghiên cứu .................................................. 28
2.2. Nghiên cứu thực tiễn ............................................................................. 28
2.2.1. Giai đoạn thiết kế bảng hỏi ................................................ 28


ĐH, CĐ

: Đại học, cao đẳng

GD ĐT

: Giáo dục đào tạo

GV

: Giáo viên

HVQLGD

: Học viện Quản lý giáo dục

KHXHNV

: Khoa học xã hội nhân văn

KKTL

: Khó khăn tâm lý

KTX

: Ký túc xá

SV


Bảng 3.4

Khó khăn tâm lý của sinh viên năm thứ nhất trong đọc

46

sách
Bảng 3.5

Khó khăn tâm lý của sinh viên năm thứ nhất trong nghe

48

giảng và ghi chép
Bảng 3.6

Khó khăn tâm lý của sinh viên năm thứ nhất trong thuyết

49

trình, thảo luận
Bảng 3.7

Khó khăn tâm lý của sinh viên năm thứ nhất trong ôn tập

50

bài
Bảng 3.8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Tên bảng
Biểu đồ 3.1

Nội dung
Thời gian tự học trong 1 ngày sau những giờ lên lớp

Trang

62


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đối với mỗi người, học tập là một trong những hình thức hoạt động chính
không thể thiếu nhằm tiếp thu, lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội - lịch sử của
loài người đã được tích lũy qua nhiều thế hệ. Đối với sinh viên đại học, học tập là
một dạng hoạt động cơ bản mà thông qua nó người sinh viên có thể “nắm vững
kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành về nghề, có khả năng phát hiện và giải
quyết các vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo”, trở thành chuyên
gia trong lĩnh vực đào tạo, có khả năng lao động nghề, nuôi sống bản thân và
đóng góp, phục vụ cho xã hội trong tương lai. Do đó hoạt động học tập cần sự
quan tâm, nghiên cứu, tìm hiểu nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cũng như
giảm bớt những khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên.
Đối với sinh viên năm thứ nhất, để phát triển, xây dựng và hoàn thiện
nhân cách, hình thành bước đầu kinh nghiệm về tương lai, họ phải tiến hành hoạt
động học tập với sự làm quen, thích nghi với một môi trường học tập mới hoàn
toàn so với ở bậc phổ thông. Trong quá trình này sẽ nảy sinh ra nhiều khó khăn,
gây cản trở sự thích ứng với hoạt động học tập của họ, dẫn đến hiệu quả trong
học tập không cao. Như vậy, khó khăn tâm lý trong học tập chính là những nét

Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Khó
khăn tâm lý trong học tập của sinh viên năm thứ nhất khoa Giáo dục - Học
viện Quản lý giáo dục”.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Làm rõ các khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên năm thứ nhất khoa
Giáo dục - Học viện Quản lý giáo dục và các nguyên nhân gây ra khó khăn tâm lý
này. Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị để tháo gỡ những khó khăn tâm lý
trong học tập của các em, đồng thời góp phần vào việc nâng cao hiệu quả học tập
ở sinh viên.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và xây dựng cơ sở lý luận về khó khăn tâm lý, những biểu
hiện của khó khăn tâm lý, nguyên nhân khó khăn tâm lý trong học tập của sinh
viên.
- Làm rõ thực trạng khó khăn tâm lý và những nguyên nhân gây ra khó khăn
tâm lý trong học tập ở sinh viên.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm giảm bớt những khó khăn tâm lý trong học
tập của SV năm thứ nhất khoa Giáo dục - Học viện Quản lý giáo dục.
4. Đối tượng nghiên cứu
Khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên năm thứ nhất khoa Giáo dục Học viện Quản lý giáo dục và tác động của các yếu tố này đến việc học tập của
các em.

2
-


5. Khách thể nghiên cứu
160 sinh viên năm thứ nhất khoa Giáo dục - Học viện Quản lý giáo dục.
6. Giả thuyết khoa học của đề tài
Đa số sinh viên năm thứ nhất khoa Giáo dục - Học viện Quản lý giáo dục
đều gặp phải những khó khăn tâm lý trong học tập ở cả ba mặt: nhận thức, thái độ


Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG HỌC TẬP
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử nghiên cứu, vấn đề khó khăn tâm lý đã được nhiều nhà tâm lý
xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều loại khách thể với nhiều lĩnh vực khác nhau.
Tuy nhiên, nghiên cứu phát hiện ra những khó khăn tâm lý trong hoạt động học
tập của sinh viên năm thứ nhất đã được đề cập nhưng chưa nhiều. Ở Việt Nam
các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu những khó khăn tâm lý trong giao tiếp,
ngoài ra còn một số tác giả xem xét nghiên cứu những khó khăn tâm lý trong hoạt
động học tập nhưng chưa đi sâu vào các mặt cụ thể.
1.1.1. Ở nước ngoài
Đối với con người, học tập là phương thức để tiếp thu tri thức, kỹ năng
nhằm mục đích nhận biết, tác động, cải tạo thế giới hiện thực, phục vụ cho lợi ích
của con người. Loài người đã chứng minh, chỉ thông qua con đường học tập,
những di sản văn hoá vật chất, tinh thần từ thế hệ trước mới được lưu truyền cho
thế hệ sau và cũng nhờ đó mà những giá trị này mới còn tồn tại. Tuy nhiên, học
tập không phải là một hoạt động đơn giản. Trong quá trình biến tri thức của nhân
loại thành vốn kinh nghiệm riêng của cá nhân mỗi con người đã gặp không ít khó
khăn, trong đó khó khăn về mặt tâm lý cũng nằm trong số đó.
Nghiên cứu KKTL trong học tập là công việc được nhiều nhà khoa học quan
tâm. Người ta đã đưa ra nhiều loại khó khăn tâm lý trong học tập.
Trước tiên, chúng tôi đề cập đến nghiên cứu của tác giả A.V. Petrovxki. Khi
bàn về KKTL của trẻ em đi học lớp 1, ông cho rằng có 3 loại khó khăn: [7]
Loại 1: Những khó khăn có liên quan đến đặc điểm của chế độ học tập.
Loại 2: Khó khăn trong việc thiết lập quan hệ giao tiếp mới với thầy cô và
bạn bè.
Loại 3: Khó khăn trong việc thích nghi với hoạt động mới, lúc đầu trẻ được
sự chuẩn bị của gia đình, nhà trường và xã hội nên trẻ có tâm lý vui, thích, sẵn
sàng đi học, về sau giảm dần khát vọng và chán học.

- Bản chất tâm lý của những khó khăn trong giao tiếp liên nhân cách.
- Vị trí của hiện tượng giao tiếp, khó khăn trong cấu trúc của vấn đề tâm lý
xã hội.
- Những đặc điểm của việc nhận thức các nguyên nhân gây ra khó khăn
trong giao tiếp công việc.
- Nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của các yếu tố khó khăn đến quá
trình giao tiếp công việc.

5
-


Qua quá trình nghiên cứu này, tác giả đã phát hiện được một số khó khăn
tâm lý trong giao tiếp và nguyên nhân nảy sinh chúng. Nhưng ông chưa đưa ra
được các định nghĩa về khó khăn tâm lý trong giao tiếp và chưa phân loại chúng
một cách cụ thể. [37].
Một số tác giả như Maurice Debesse, Bianka Zazzo…đã nghiên cứu về
khó khăn tâm lý của trẻ khi đi học lớp 1. Các tác giả đã phát hiện được khó khăn
tâm lý và đã xác định được một số nguyên nhân làm cản trở trẻ thích ứng với hoạt
động mới, hoạt động học tập.
Tóm lại, các tác giả nước ngoài khi nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong
hoạt động học tập của học sinh ít nhiều chỉ ra được vấn đề lí luận trong bản chất
của khó khăn tâm lý, nguyên nhân dẫn đến khó khăn đó, đồng thời tác giả cũng
chỉ ra được ảnh hưởng của nó tới hoạt động học tập của học sinh… Tuy nhiên so
với các lĩnh vực khác, vấn đề khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập còn ít
được các nhà khoa học nước ngoài quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt, nghiên cứu
khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm nhất chưa được
nghiên cứu nhiều. Mặc dù đây là vấn đề quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết
quả học tập của sinh viên. Vì vậy, nghiên cứu khó khăn tâm lý trong hoạt động
học tập của sinh viên nói chung và sinh viên năm nhất nói riêng cần các nhà khoa

khác nhau hạn chế năng lực giải toán của học sinh tiểu học. [10, tr.25].
Năm 1998, Tác giả Nguyễn Thanh Sơn, trong bài viết “Những khó khăn
của học sinh miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam” [21] đã phân
tích những khó khăn của của học sinh miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển
Việt Nam và chỉ ra những khó khăn mà học sinh gặp phải là:
- Hoàn cảnh giao tiếp thông tin của học sinh miền núi bị hạn chế.
- Vốn từ ngữ của học sinh miền núi còn thiếu và yếu.
- Năng lực cảm thụ một câu thơ, một đoạn thơ yếu…
Theo tác giả, nguyên nhân của những khó khăn của học sinh miền núi khi
học tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam là do tầm văn hoá, vốn sống, vốn hiểu
biết của các em còn hạn chế. Vì vậy muốn nâng cao năng lực cảm thụ văn học
của các em phải mở rộng tầm hiểu biết cuộc sống, xã hội cho các em. Những hoạt
động ngoại khoá, du lịch, câu lạc bộ văn hoá.. là những hoạt động có tác dụng tốt
đối với học sinh.
Năm 2000, trong tác phẩm "Nỗi khổ của con em chúng ta", bác sĩ Nguyễn
Khắc Viện đã nêu ra những khó khăn tâm lý mà học sinh lớp một gặp phải đó là:
Trẻ phải giữ kỷ luật lớp học; trẻ phải học một chương trình nặng hơn so với tuổi
mẫu giáo; trẻ ít được bố mẹ vỗ về âu yếm hơn trước và trẻ luôn chịu sự kiểm tra,
đánh giá của bố mẹ. [26]

7
-


Năm 2001, tác giả Nguyễn Thị Nhân Ái với luận văn "Tìm hiểu những khó
khăn tâm lý trong quá trình giải bài tập hình học của học sinh lớp 11 trung học
phổ thông”. Đề tài này, tác giả đã nêu ra những khó khăn tâm lý mà học sinh gặp
phải là những yếu tố bên ngoài, như điều kiện, phương tiện hoạt động… có thể là
những yếu tố bên trong như: sự thiếu hiểu biết sâu sắc đối tượng, việc chủ thể
thực hiện các thao tác, hành động không thích hợp. Tác giả tập trung vào những

những học sinh lớp 1 học kém.
Năm 2006, tác giả Nguyễn Xuân Thức, trong bài viết "Các nguyên nhân
dẫn đến khó khăn tâm lý của học sinh đi học lớp một" đã nêu ra các nguyên nhân
cụ thể sau: Các nguyên nhân chủ quan: Trẻ chưa hiểu rõ nội quy; trẻ được chuẩn
bị quá kỹ trước khi tới trường; trẻ không được chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học; do
tính cách của trẻ; do trẻ chưa đủ tuổi đến trường; do trẻ mắc một số bệnh bẩm
sinh. Các nguyên nhân khách quan: Nhóm nguyên nhân thuộc về gia đình; nhóm
nguyên nhân thuộc về nhà trường; nhóm nguyên nhân thuộc về xã hội. Tác giả
cho rằng, các nguyên nhân chủ quan là những nguyên nhân gây ra khó khăn tâm
lý nhiều hơn cho học sinh lớp một. Ngoài ra tác giả cũng đưa ra một số giải pháp
sư phạm để tháo gỡ những khó khăn tâm lý cho trẻ. Tác giả cho rằng, các nguyên
nhân chủ quan là những nguyên nhân gây ra khó khăn tâm lý nhiều hơn cho học
sinh lớp một. Ngoài ra tác giả cũng đưa ra một số giải pháp sư phạm để tháo gỡ
những khó khăn tâm lý cho trẻ [23, tr.12 - 15].
Năm 2007, luận văn thạc sĩ “Những khó khăn tâm lý trong hoạt động học
tập của SV các dân tộc thiểu số năm thứ nhất trường CĐSP Sơn La”. Mục đích
của luận văn này chính là phát hiện những khó khăn tâm lý trong học tập của SV
các dân tộc thiểu số năm thứ nhất, nguyên nhân của những khó khăn đó, từ đó
đưa ra các biện pháp, cách thức tác động nhằm hạn chế những khó khăn.
Năm 2007, luận văn thạc sĩ “Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của
sinh viên năm nhất Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh”. Luận văn này tìm
hiểu một số khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất
trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó đề xuất một số biện
pháp nhằm giảm bớt những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh
viên. [15]
Năm 2008, tác giả Nguyễn Xuân Thức với luận văn “Khó khăn tâm lí
trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học sư phạm Hà
Nội”[22]. Mục đích của luận văn cũng là tìm ra những khó khăn tâm lý trong hoạt
động học tập của sinh viên năm nhất trường sư phạm.


bằng cấp đạt được trong quá trình học. Quá trình học của họ theo hệ chính quy,
tức là họ đã phải trải qua các bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân: mầm non,
tiểu học, trung học, trung học phổ thông.
Quy chế công tác học sinh, sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1584/GD-ĐT ngày 27 tháng 7 năm 1993 của

10
-


Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) nêu rõ: “Người đang học trong hệ đại học và
cao đẳng gọi là sinh viên”.
Ngày nay, “Học, học nữa, học mãi”(Lê Nin) là khẩu hiệu của toàn xã hội
và học tập là công việc suốt đời. Các trường Cao đẳng và Đại học mở rộng cửa
cho tất cả những ai có nguyện vọng và điều kiện không phân biệt lứa tuổi, giới
tính, giàu nghèo... đều có thể học bằng nhiều con đường, hình thức khác nhau:
Chính quy, chuyên tu, tại chức, liên thông, văn bằng 2. Do đó, với khái niệm sinh
viên như trên thì ngoại diên của nó rất rộng.
Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứu với đối
tượng là sinh viên hệ chính quy. Vì vậy, tôi sử dụng khái niệm sinh viên trong
quy chế công tác học sinh, sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng làm khái
niệm công cụ. Có thể thu hẹp nội hàm của khái niệm này như sau:
- Đó là những người đã tốt nghiệp trung học phổ thông.
- Họ đã vượt qua kỳ thi tuyển sinh vào trường Đại học, Cao đẳng và đỗ
vào trường.
- Họ thuộc nhóm thanh niên, nam nữ từ 18 trở lên
- Họ chưa có nghề nghiệp, việc làm xác định, vì vậy lệ thuộc gia đình về
kinh tế.
- Họ là nhóm xã hội đặc biệt gồm những thanh niên từ các tầng lớp xã hội
khác nhau đang trong quá trình học tập, chuẩn bị nghề nghiệp chuyên môn để

hoạt động mới. Trong giai đoạn này, người sinh viên phải đối mặt với những khó
khăn nhất định cả về vật chất lẫn tinh thần. Sự thay đổi của môi trường, sự thay
đổi của phương thức hoạt động… đòi hỏi người sinh viên phải giải quyết để có
thể học tập tốt nhằm hình thành cơ sở vững chắc cho nghề nghiệp tương lai. Việc
giải quyết hiệu quả những khó khăn giúp cho người sinh viên có niềm tin đúng
đắn cho việc chọn nghề, là cơ sở củng cố nghề nghiệp tương lai cũng như tạo điều
kiện cho sự phát triển nhân cách được thuận lợi.
Tuổi sinh viên là thời gian quan trọng nhất cho sự phát triển nhân cách,
nhân cách nghề nghiệp. Đây là lứa tuổi mà các chức năng tâm lý, đặc biệt là sự
phát triển các năng lực trí tuệ diễn ra hiệu quả nhất. Tuy nhiên, để phát triển nhân
cách toàn diện, điều quan trọng là người sinh viên phải hiểu được tính không lặp
lại trong tính cách của mình. Với lứa tuổi sinh viên B.G.Ananhiev đã viết: “Lứa
tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm đạo đức và thẩm mỹ,
là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách. Đặc biệt là vai trò xã hội của người
lớn” [17, tr.61]. Sự phát triển nhân cách của sinh viên diễn ra trong suốt quá trình
học tập ở đại học - cao đẳng diễn ra với mục đích trở thành một người chuyên gia
có trình độ năng lực và đạo đức nghề nghiệp trong tương lai. Vốn hiểu biết, kinh

12
-


nhiệm sống, kinh nghiệm nghề nghiệp… được hoàn thiện và dần dần nghề nghiệp
hoá. Phần lớn sinh viên năm nhất - khoa Giáo dục - Học viện Quản lý giáo dục
đều nằm trong lứa tuổi sinh viên, vì vậy họ cũng có những đặc điểm tâm lý chung
của lứa tuổi sinh viên.
* Đặc điểm sinh viên năm thứ nhất
SV năm thứ nhất, họ là những người vừa rời khỏi ghế nhà trường PT bước
vào ngưỡng cửa ĐH, CĐ. Thông thường họ có độ tuổi 17, 18 với đầy sức trẻ,
hoài bão và có ý chí vươn lên. Nhân cách của họ đã và đang phát triển mạnh, họ

nhiên và học có mục đích.
+ Học ngẫu nhiên: Đây là dạng học được thực hiện một cách không chủ định. Kết
quả của hoạt động này chỉ thu được những tri thức rời rạc, không hệ thống, ngẫu
nhiên, tiền khoa học. Mục đích của cách học này là nhằm ứng phó với những tình
huống, những vấn đề cụ thể trong cuộc sống. Tuy nhiên để tồn tại và phát triển
cũng như tác động, cải tạo thế giới hiện thực con người không chỉ dừng lại ở
những tri thức kinh nghiệm mà đòi hỏi cần có một hệ thống tri thức khoa học, có
tính khái quát cao để áp dụng vào mọi tình huống trong thực tiễn. Để đạt được
mục đích này con người cần tiến hành hoạt động học có hiệu quả hơn đó là học
có mục đích.
+ Học có mục đích: là một dạng hoạt động đặc thù của con người. Hoạt động học
chỉ có thể thực hiện được khi con người phát triển ở một trình độ nhất định, có
khả năng điều chỉnh những hành động của mình theo mục đích đã được ý thức.
Khả năng này thường bắt đầu hình thành vào lúc 5-6 tuổi.Và khi hoạt động học
được tiến hành đúng nghĩa của nó thì mới có thể hình thành hệ thống tri thức
khoa học, kỹ năng, cấu trúc tương ứng của hoạt động tâm lý giúp phát triển toàn
diện nhân cách cho con người.[24, tr.93].
Khi bàn về vấn đề học tập có rất nhiều quan điểm khác nhau tùy vào cách
tiếp cận của các nhà nghiên cứu.
I.B.Intenxon cho rằng, học tập là một loại hoạt động đặc biệt của con
người nhằm mục đích nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và các hình thức
nhất định của hành vi. Nó bao gồm cả ý nghĩa nhận thức và thực tiễn.
A.N.Leonchiev, P.IA Galperin lại coi học tập xuất phát từ mục đích trực
tiếp và từ nhiệm vụ giảng dạy được biểu hiện ở hình thức tâm lý bên ngoài và bên
trong của hoạt động.
V.V.Davudov quan niệm học tập dựa trên cơ sở nâng cao trình độ tư duy
lý luận.

14
-

đổi chính bản thân chủ thể. Đây chính là điểm độc đáo, khác biệt giữa việc học
tập với các loại khác. Có thể việc học tập cũng làm thay đổi khách thể ở một mức
độ nhất định nhưng mục đích mà học tập hướng vào là làm thay đổi nhận thức

15
-


của người học và hướng vào tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt
động, có nghĩa là hướng vào học cách tiến hành hoạt động học tập, học phương
pháp học tập. Học tập chỉ có thể thực hiện được khi con người phát triển ở một
trình độ nhất định, có khả năng điều chỉnh những hành động của mình theo mục
đích đã được ý thức.
1.2.1.4. Hoạt động học tập của sinh viên
* Khái niệm
“Hoạt động học tập của sinh viên là một loại hoạt động nhận thức cơ bản
của sinh viên, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy, nhằm lĩnh
hội, nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ năng về một loại nghề nào đó, làm cơ sở
cho hoạt động nghề nghiệp trong tương lai” [17, tr.89]
* Đặc điểm hoạt động học tập của sinh viên
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục, đào tạo ở bậc Cao đẳng - Đại học là đào
tạo nguồn nhân lực có chuyên môn cao về nghề để đáp ứng yêu cầu xã hội. Do đó
việc học tập của sinh viên ngoài việc mang những đặc điểm của hoạt động học
tập nói chung còn có những đặc điểm riêng sau đây [14, tr127-175]
- Tính chuyên nghiệp: thể hiện trong mục đích của hoạt động học tập ở
sinh viên là nhằm hướng vào việc hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách
người chuyên gia trong các lĩnh vực nghề nghiệp tương ứng. Vì vậy học tập ở đại
học có sự khác biệt rất lớn so với học ở phổ thông. Học tập của sinh viên mang
tính đặc trưng của hoạt động nghề nghiệp tương lai.
- Tính độc lập cao trong học tập: Do yêu cầu cao của việc học để trở thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status