Hứng thú là một khía cạnh được các nhà nhiên cứu tâm lý học quan tâm,
đây là một vấn đề phong phú, hấp dẫn và cũng khá phức tạp.
Hứng thú là một mặt biểu hiện trong xu hướng của nhân cách, nó có vai
trò quan trọng trong hoạt động của con người nói chung và các hoạt động trong
xã hội nói riêng. Hứng thú kích thích nhu cầu, tình cảm, mong muốn, nó lôi
cuốn con người tham gia hoạt động với tinh thần trách nhiệm cao và khả năng
hoàn thành nhiệm vụ tốt. Đối với các bạn sinh viên, hứng thú không chỉ quan
trọng trong học tập mà còn có vai trò lớn khi các bạn tham gia vào hoạt động do
Đoàn trường tổ chức. Hứng thú giúp các bạn sinh viên say mê trong hoạt động,
khả năng tập trung chú ý cao, có nhiều ý tưởng độc đáo, sáng tạo, có cách tổ
chức hoạt động khoa học, logic, hợp lý, có khả năng điều chỉnh tốt cho hoạt
động phù hợp với tình hình thực tế.
Ở sinh viên nói chung và sinh viên năm thứ nhất – K4, Học viện Quản lý
giáo dục nói riêng, việc tham gia vào hoạt động Đoàn có ý nghĩa quan trọng đối
với sự phát triển nhân cách của các bạn Hoạt động Đoàn là cơ hội để các bạn
được giao lưu, học hỏi được thể hiện tài năng, bản lĩnh của mình, mối quan hệ
xã hội không chỉ giới hạn trong khoa, trong trường mà được mở rộng, được giao
lưu với nhiều trường cũng như các tổ chức chính trị xã hội. Qua hoạt động Đoàn
sinh viên được rèn luyện nhiều kĩ năng như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng nói trước
đám đông, kĩ năng làm việc nhóm…
Khi nhận ra được điều này, sinh viên sẽ càng cố gắng, tích cực, có nhiều
sáng tạo làm cho hoạt động Đoàn của mình trở nên phong phú, hấp dẫn, độc đáo
hơn. Vì vậy mà hứng thú càng trở nên quan trọng đối với các bạn sinh viên. Chỉ
khi thật sự có hứng thú tham gia hoạt động Đoàn thì các bạn sinh viên với thấy
được điều thú vị trong từng hoạt động cũng như có cách tổ chức tốt để hoạt động
không bị nhàm chán, đơn điệu.
1
Nắm bắt được vai trò, tầm quan trọng của hoạt động Đoàn đối với sự phát
triển nhân cách của sinh viên, trong những năm vừa qua, Đoàn Thanh niên cộng
của những hứng thú đó.
5.3 Đề xuất biện pháp nhằm thu hút sinh viên năm thứ nhất (K4) Học viện
Quản lý giáo dục tham gia hoạt động Đoàn nhằm tiếp tục phát triển phong trào
Đoàn của Học viện trong những năm tới.
0'12"32/"
- Chỉ nghiên cứu hứng thú tham gia hoạt động Đoàn của sinh viên năm thứ
nhất (K4) Học viện Quản lý giáo dục.
- Sinh viên năm thứ nhất (K4) ở 3 khoa: khoa Công nghệ thông tin, khoa
Giáo dục, khoa Quản lý.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 đến tháng 5/ 2011.
45 63$3
7Phương pháp nghiên cứu lí luận: Kham khảo các công trình nghiên cứu,
sách báo, tạp chí về các vấn đề liên quan như: hứng thú, hoạt động Đoàn của
sinh viên…Từ đó hệ thống và khái quát hóa các khái niệm công cụ làm cơ sở lí
luận cho đề tài.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi về các vấn đề:
• Nhận thức về tầm quan trọng của việc tham gia hoạt động Đoàn đối
với sinh viên.
• Thái độ của sinh viên đối với việc tham gia hoạt động Đoàn.
• Mức độ biểu hiện hứng thú tham gia hoạt động Đoàn của sinh viên.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp trò chuyện.
- Phương pháp chuyên gia.
- Phương pháp xử lí số liệu bằng toán thống kê.
3
8993:+
8.1Về mặt lý luận: Bổ sung thêm tri thức về khái niệm hứng thú và hứng
thú hoạt động Đoàn của sinh viên, làm phong phú nguồn tài liệu về xu hướng
nhân cách của sinh viên.
8.2 Về mặt thực tiễn:
Từ những năm 1940 của thế kỷ XX: A.F.Bêliep đã bảo vệ thành công
luận án tiến sĩ về “Tâm lý học hứng thú”. Các nhà tâm lý học như
S.LRubinstein, N.G.Morodov đã quan tâm nghiên cứu khái niệm hứng thú,
5
con đường hình thành hứng thú, và cho rằng hứng thú là biểu hiện của ý chí,
tình cảm.
John Dewey (1859 – 1952) nhà giáo dục học, nhà tâm lý học người Mỹ
năm 1896 sáng lập nên trường thực nghiệm trong đó ưu tiên phát triển hứng thú
của học sinh và nhu cầu của học sinh trong từng lứa tuổi. Ông cho rằng, hứng
thú thực sự xuất hiện khi cái tôi đồng nhất với một ý tưởng hoặc một vật thể
đồng thời tìm thấy ở chúng phương tiện biểu lộ.
Năm 1955 A.P.Ackhadop có công trình nghiên cứu về sự phụ thuộc của
tri thức học viên với hứng thú học tập. Kết quả cho thấy tri thức của học viên có
mối quan hệ khăng khít với hứng thú học tập. Trong đó sự hiểu biết nhất định về
môn học được xem là một tiền đề cho sự hình thành hứng thú đối với môn học.
D.Super trong “Tâm lý học hứng thú” (1961) đã xây dựng phương pháp nghiên
cứu về hứng thú trong cấu trúc nhân cách.
Năm 1966 N.I.Ganbiô bảo vệ luận án tiến sĩ về đề tài “Vận dụng tính
hứng thú trong giảng dạy tiếng Nga. Tác giả cho rằng hứng thú học tập của học
sinh là một phương tiện để nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Nga trong nhà
trường”.
Năm 1967 N.G.Marôsôva nghiên cứu sự khác nhau trong việc hình thành
hứng thú của trẻ em trong sự phát triển bình thường và phát triển không bình
thường. N.G .Marôsôva đã nghiên cứu vấn đề “Tác dụng của việc giảng dạy,
nêu vấn đề đối với hứng thú nhận thức của sinh viên”. Năm 1976 tác giả đưa ra
cấu trúc tâm lý của hứng thú, đồng thời còn phân tích những điều kiện và khả
năng giáo dục hứng thú trong quá trình học tập và lao động của học sinh.
Trong công trình nghiên cứu của mình L.I.Bôzôvitch đã nêu lên quan hệ
giữa hứng thú tính tích cực học tập của học sinh I.G.Sukira trong công trình
“Vấn đề hứng thú trong khoa học giáo dục” (1972) đã đưa ra khái niệm về hứng
trong mối quan hệ với hoạt động” các tác giả này đã coi hứng thú là động hoạt
7
động. Trong xu hướng này còn có nhiều nhà nghiên cứu khác như:
L.X.Rubinstêin, A.V.Daparôzét, M.I.Bôliép, L.A.Gôđôn …
Xu hướng thứ III: Nghiên cứu sự hình thành và phát triển hứng thú theo
các giai đoạn lứa tuổi:
Đại diện là G.I.Sukina “Nghiên cứu hứng thú trẻ em ở các lứa tuổi”.
D.P.Xalônhisư nghiên cứu sự phát triển hứng thú nhận thức của trẻ mẫu giáo.
V.G Ivanôp đã phân tích sự phát triển và giáo dục hứng thú của học sinh lớn
trong trường trung học. V.N. Marôsôva nghiên cứu “Sự hình thành hứng thú trẻ
em trong những điều kiện bình thường và trong điều kiện không bình thường”
(1957). Những công trình nghiên cứu này đã phân tích đặc điểm hứng thú của
từng lứa tuổi, những điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú trong các giai
đoạn phát triển lứa tuổi của trẻ.
B.-+/
Năm 1960, Trương Anh Tuấn, Năm 1970 Phạm Huy Thụ, Năm 1980
Đặng Trường Thanh nghiên cứu “Hứng thú bộ môn của học sinh cấp III”.
Năm 1973, Phạm Tất Dong đã bảo vệ thành công luận án PTS ở Liên Xô
với đề tài “Một số đặc điểm hứng thú nghề của học sinh lớn và nhiệm vụ hướng
nghiệp”. Kết quả nghiên cứu không thống nhất với xu hướng phát triển nghề
nghiệp của xã hội, công tác hướng nghiệp ở trường phổ thông không được thực
hiện nên các em học sinh chịu nhiều thiệt thòi.
Năm 1977 tổ nghiên cứu của khoa tâm lý học giáo dục trường Đại học Sư
phạm Hà Nội I đã nghiên cứu đề tài “Hứng thú học tập của học sinh cấp II đối
với môn học cụ thể”.
Năm 1980 Lê Bá Chương “Bước đầu tìm hiểu về dạy học môn tâm lý học
để xây dựng hứng thú học tập bộ môn cho giáo sinh trường sư phạm 10 + 3”,
( luận án thạc sĩ).
Năm 1981 Nguyễn Thị Tuyết với đề tài luận văn “Bước đầu tìm hiểu
hứng thú học văn học lớp 10 ở một trường THPT tại TP Hồ Chí Minh”
học Khoa học Xã hội và Nhân văn”. Đề tài đã nêu ra được một số yếu tố ảnh
hưởng đến hứng thú nghiên cứu khoa học của sinh viên là do chưa nhận thức
được vai trò của nghiên cứu khoa học, do bản thân chưa nổ lực vượt qua khó
khăn trong quá trình nghiên cứu.
Năm 2005 Phan Thị Thơm trong nghiên cứu luận văn thạc sĩ “Hứng thú
học tập môn tâm lý học đại cương của sinh viên trường Đại học Dân lập Đông
Đô”. Tác giả khẳng định: Hứng thú học tập môn tâm lý học chưa cao, chưa đồng
đều; Nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học tập của sinh viên phải kể đến
yếu tố giảng viên.
Ngoài ra còn một số tác giả khác đề cập đến vấn đề hứng thú như: Phạm
Ngọc Quỳnh với đề tài “Hứng thú học môn văn của học sinh lớp cấp II”; Phạm
Huy Thụ với luận án “Hiện trạng học tập các môn của học sinh cấp II một số
trường tiên tiến”; Dương Diệu Hoa “Bước đầu tìm hiểu hứng thú học tập môn
Tâm lý học địa cương của sinh viên khoa tâm lý học, Trường Đại học sư phạm
Hà Nội”; Phạm Thị Thắng “Nghiên cứu sự quan tâm của cha mẹ đến việc duy trì
hứng thú học tập cho các em thanh niên”…
NO"M"M2P:+J"
Q$./"M
R5 6S)
Nhà tâm lý học I.PH. Shecbac cho rằng, hứng thú là thuộc tính bẩm sinh
vốn có của con người, nó được biểu hiện thông qua thái độ, tình cảm của con
người vào một đối tượng nào đó trong thế giới khách quan. Một số nhà tâm lý
khác cho rằng, hứng thú là dấu hiệu của nhu cầu bản năng cần được thỏa mãn.
Hứng thú là trường hợp riêng của thiên hướng, nó được biểu hiện trong xu thế
của con người.
Annoi nhà tâm lý học người Mỹ lại cho rằng, hứng thú là một sự sáng tạo
của tinh thần với đối tượng mà con người hứng thú tham gia vào.
10
Harlette Buhler, hứng thú là một hiện tượng phức hợp cho đến nay vẫn
chưa được xác định, hứng thú là một từ, không những chỉ toàn bộ những hành
+ Hứng thú xét theo sự lựa chọn của cá nhân đối với thế giới khách quan:
X.L.Rubinstêin: đưa ra tính chất 2 chiều trong mối quan hệ tác động qua
lại giữa đối tượng với chủ. Ông nói hứng thú luôn có tính chất quan hệ 2 chiều.
Nếu như một vật nào đó hoặc tôi chú ý có nghĩa là vật đó rất thích thú đối với
tôi.
A.N.Lêônchiev cũng xem hứng thú là thái độ nhận thức nhưng đó là thái
độ nhận thức đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng hoặc hiện tượng của thế giới
khách quan.
P.A.Rudich coi hứng thú là biểu hiện xu hướng đặc biệt của cá nhân nhằm
nhận thức những hiện tượng nhất định của cuộc sống xung quanh, đồng thời
biểu hiện thiên hướng tương đối ổn định của con người đối với các hoạt động
nhất định.
A.V.Daparôzét coi hứng thú như là khuynh hướng lựa chọn của sự chú ý
và đưa ra khái niệm hứng thú là khuynh hướng chú ý tới đối tượng nhất định là
nguyện vọng tìm hiểu chúng một cách càng tỉ mỉ càng tốt.
B.M.Cheplốp thì coi hứng thú là thiên hướng ưu tiên chú ý vào một đối
tượng nào đó.
+ Hứng thú xét theo khía cạnh gắn với nhu cầu:
Sbinle hứng thú là kết cấu bao gồm nhiều nhu cầu. Quan niệm này là
đồng nhất hứng thú với nhu cầu. Thực chất hứng thú có quan hệ mật thiết với
nhu cầu của từng cá nhân, nhưng nó không phải là chính bản thân nhu cầu, bởi
vì nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu cần được thỏa mãn, là cái con người ta cần,
nhưng không phải mọi cái cần thiết đều đem lại sự hứng thú. Quan điểm này đã
đem bó hẹp khái niệm hứng thú chỉ trong phạm vi với nhu cầu.
12
Trong từ điển tâm lý họccủa GS.TS Vũ Dũng hứng thú được coi là hình
thức thể hiện nhu cầu nhận thức nhằm đảm bảo cho nhân cách ý thức được mục
đích hành động và tạo điều kiện cho việc định hướng, làm quen với những sự
việc mới, cho việc phản ánh hiện thực một cách đầy đủ và sâu sắc hơn.
Ngoài ra nhà tâm lý học A.Phreiet cho rằng: hứng thú là động lực của
tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái
cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động. Khái niệm này vừa nêu được bản
chất cửa hứng thú, vừa gắn hứng thú với hoạt động của cá nhân.
Xét về mặt khái niệm: Hứng thú là một thái độ đặc biệt của cá nhân đối
với đối tượng, thể hiện ở sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối
tượng sự thích thú được thỏa mãn với đối tượng.
Một sự vật, hiện tượng nào đó chỉ có thể trở thành đối tượng của hứng thú
khi chúng thoả mãn 2 điều kiện sau đây:
Điều kiện I:
Có ý nghĩa với cuộc sống của cá nhân, điều kiện này quyết định nhận thức
trong cấu trúc của hứng thú, đối tượng nào càng có ý nghĩa lớn đối với cuộc
sống của cá nhân thì càng dễ dàng tạo ra hứng thú. Muốn hình thành hứng thú,
chủ thể phải nhận thức rõ ý nghĩa của đối tượng với cuộc sống của mình, nhận
thức càng sâu sắc và đầy đủ càng đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và
phát triển của hứng thú.
Điều kiện II:
Có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân. Trong quá trình hoạt động
với đối tượng, hứng thú có quan hệ mật thiết với nhu cầu. Khoái cảm nảy sinh
trong quá trình hoạt động với đối tượng, đồng thời chính khoái cảm có tác dụng
thúc đẩy cá nhân tích cực hoạt động, điều đó chứng tỏ hứng thú chỉ có thể hình
thành và phát triển trong quá trình hoạt động của cá nhân. Biện pháp quan trọng
nhất, chủ yếu nhất để gây ra hứng thú là tổ chức hoạt động, trong quá trình hoạt
động và bằng hoạt động với đối tượng, mới có thể nâng cao được hứng thú của
cá nhân.
14
Cũng như những chức năng cấp cao khác, hứng thú được quy định bởi
những điều kiện xã hội lịch sử. Hứng thú của cá nhân được hình thành trong
hoạt động và sau khi đã được hình thành chính nó quay trở lại thúc đẩy cá nhân
hoạt động. Vì lý do trên hứng thú tạo nên ở cá nhân khát vọng tiếp cận và đi sâu
vào đối tượng gây ra nó, khát vọng này được biểu hiện ở chỗ cá nhân tập trung
là sự kết hợp giữa nhận thức và xúc cảm tích cực và hành động, nghĩa là có sự
kết hợp giữa sự hiểu biết về đối tượng với sự thích thú với đối tượng và tính tích
cực hoạt động với đối tượng.
Bất kỳ những hứng thú nào cũng là thái độ cảm xúc tích cực của chủ thể
với đối tượng. Nó là sự thích thú với bản thân đối tượng và với hoạt động với
đối tượng. Nhận thức luôn là tiền đề là cơ sở cho việc hình thành thái độ.
Cách phân tích hứng thú của N.G.Mavôzôva được nhiều nhà tâm lý tán
thành, điểm quan trọng nhất là tác giả đã gắn hứng thú với hoạt động. Tuy nhiên
cách phân tích này quá chú trọng đến mặt xúc cảm của hứng thú nên đã xem nhẹ
mặt nhận thức. Tác giả đã nhấn mạnh thái độ, xúc cảm của nhận thức mà chưa
nói đến nội dung, đối tượng nhận thức trong hứng thú. Nếu chỉ nói đến mặt nhận
thức, thì chỉ là sự biểu hiện của con người đối với đối tượng. Nếu chỉ nói đến
mặt hành vi, là chỉ đề cập đến hình thái bên ngoài, mà chưa nói đến nội dung
bên trong. Vậy hứng thú phải là sự kết hợp giữa: Nhận thức – Xúc cảm tích cực
– Hành động.
Ba thành tố trên có quan hệ chặt chẽ với nhau trong hứng thú cá nhân. Để
có hứng thú đối với đối tượng nào đó cần phải có các yếu tố trên, nó có quan hệ
mật thiết với nhau, tương tác lẫn nhau, trong cấu trúc hứng thú, sự tồn tại của
từng mặt riêng lẻ không có ý nghĩa đối với hứng thú, không nói lên mức độ của
hứng thú.
16
;$N2M
Hứng thú biểu hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể và khách
thể, do đó biểu hiện của nó khá phong phú đa dạng và hấp dẫn. Dựa vào các tiêu
chuẩn phân loại khác nhau mà người ta phân chia hứng thú của con người thành
các loại khác nhau.
- Nếu căn cứ vào hiệu quả của hứng thú: Chia ra làm 2 loại:
+ Hứng thú thụ động:
Là loại hứng thú tĩnh quan dừng lại ở hứng thú ngắm nhìn, chiêm ngưỡng
đối tượng gây nên hứng thú, không thể hiện mặt tích cực để nhận thức sâu hơn
+ Hứng thú không bền vững: Hứng thú thường bắt nguồn từ nhận thức hời hợt
đối tượng hứng thú.
Nếu căn cứ vào chiều sâu của hứng thú người ta cũng chia làm 2 loại:
+ Hứng thú sâu sắc: Thường thể hiện thái độ thận trọng có trách nhiệm với hoạt
động, công việc. Mong muốn đi sâu vào đối tượng nhận thức, đi sâu nắm vững
đến mức hoàn hảo đối tượng của mình.
+ Hứng thú hời hợt bên ngoài:
Đây là những người qua loa đại khái trong quá trình nhận thức, trong thực
tiễn họ là những người nhẹ dạ, nông nổi.
Căn cứ vào chiều hướng của hứng thú: Chia ra làm 2 loại:
+ Hứng thú trực tiếp:
Hứng thú đối với bản thân quá trình hoạt động, hứng thú với quá trình
nhận thức, quá trình lao động, và hoạt động sáng tạo.
+ Hứng thú gián tiếp:
Loại hứng thú với kết quả hoạt động.
18
&X%.:+M
Mỗi một cá thể khác nhau, hứng thú là khác nhau: có người hứng thú với
hoạt động này, có người hứng thú với hoạt động khác. Xét dưới góc độ biểu
hiện, người ta chia biểu hiện của hứng thứ làm hai mức độ:
Mức độ I: Chủ thể mới dừng lại ở việc nhận thức về đối tượng. Chưa có
xúc cảm tình cảm với đối tượng đó, chưa tiến hành, hoạt động để chiếm lĩnh đối
tượng đó.
Mức độ II: Đối tượng hứng thú thúc đẩy chủ thể hoạt động.
Hứng thú biểu hiện ở nội dung của nó như: Hứng thú học tập, nghiên cứu
khoa học, đi mua hàng, đi dạo chơi
Hứng thú biểu hiện chiều rộng, chiều sâu của nó: Những người có hứng
thú đối với nhiều đối tượng khác nhau, nhiều lĩnh vực khác nhau thường có cuộc
sống hời hợt, bề ngoài. Những người chỉ tập trung hứng thú vào một hoặc một
vài đối tượng thì cuộc sống thường đơn điệu. Trong thực tế những người thành
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội, là người bạn đồng
hành của thanh niên. Trong những năm qua, Đoàn Thanh niên đã không ngừng
tìm các giải pháp thực hiện các chương trình hành động vì sự phát triển của
thanh niên. Làm sao để có thể vừa giúp thanh niên tích cực học tập, vừa đáp ứng
nhu cầu sinh hoạt, giải trí, rèn luyện thể chất và nhân cách của thanh niên, đó là
vấn đề mà tổ chức Đoàn quan tâm, hướng đến.
Điều đầu tiên phải nói tới là các phong trào ở Đoàn trường luôn hướng tới
hướng thiện mỗi con người, khi tham gia những hoạt động ấy sẽ giúp các bạn
sinh viên ý thức hơn về bản thân mình trong nhà trường và xã hội. Tạo cho các
bạn sự tự tin, năng động giúp cho khả năng giao tiếp của bạn tốt hơn, có được
những người bạn tốt, đó là nơi mà không có sự phân biệt tuổi tác, giàu nghèo
Có được một ít trải nghiệm cuộc sống, trải nghiệm của đường đời khi bạn
tham gia các hoạt động như thanh niên tình nguyện, gây quỹ từ thiện hay tham
20
gia các chiến dịch mùa hè xanh…Tham gia bạn sẽ còn có được niềm vui, bạn
như được xả stress sau những giờ học tập căng thẳng. Ngoài ra hoạt động Đoàn
là cơ hội để các bạn thể hiện tài năng của mình như múa, hát, khiêu vũ…
Chúng ta có thể khẳng định rằng vai trò của hoạt động Đoàn đối với
Thanh niên nói chung và với sinh viên nói riêng rất quan trọng, là một trong
những nhân tố góp phần hình thành và phát triển phẩm chất đạo đức của một
người Đoàn viên Thanh niên, giúp các bạn tự tin hơn, vững vàng hơn khi bước
chân vào cuộc sống xã hội.
]%/2P^W _2
Có thể khẳng định, trong bất cứ trường Đại học nào, hoạt động của Đoàn
trường cũng giữ một vị trí và vai trò quan trọng trong hoạt động chung của nhà
trường. Đoàn trường là nơi tổ chức nhiều hoạt động nhất nhằm thu hút sinh viên
tham gia, tuy nhiên không phải Đoàn trường nào cũng có thể làm tốt công tác này.
Hoạt động Đoàn ở trường Đại học hiện nay tập trung vào các hoạt động
cơ bản như: các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao chào mừng các ngày lễ, kỉ
niệm; Tổ chức các cuộc thi: sinh viên thanh lịch, tiếng hát sinh viên…các hoạt
Tiếp cận xã hội học: “Thuật ngữ sinh viên theo tiếng la tinh có nghĩa là
những người làm việc, học tập nhiệt tình, đang khai thác tìm kiếm kiến thức.
theo xã hội học thì sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt gồm
những người đang chuẩn bị cho một hoạt động lao động trong một lĩnh vực nghề
nghiệp nhất định. Ở cấp độ xã hội sinh viên là những người đang chuẩn bị ra
nhập đội ngũ trí thức xã hội. Ở cấp độ cá nhân, sinh viên là người đang trưởng
thành về mặt xã hội, chín muồi về thể lực, định hình về nhân cách, đang học tập,
tiếp thu những tri thức, kĩ năng của một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định”
Tóm lại dù theo hướng tiếp cận nào, những quan điểm trên đây của các
tác giả đều khẳng định: sinh viên là những thanh niên ở lứa tuổi từ 17 đến 25
tuổi, đang trưởng thành về mặt xã hội, chín muồi về thể lực, định hình về nhân
22
cách, say mê học tập nghiên cứu và đang chuẩn bị cho mình một lĩnh vực nghề
nghiệp nhất định trong xã hội
Tuổi sinh viên là giai đoạn hết sức đặc biệt trong đời sống con người, đây
là thời kì của sự trưởng thành xã hội, bắt đầu có quyền của công dân, hoàn thiện
học vấn chuẩn bị cho một trình độ chuyên môn nghề nghiệp nhất định, có quan
điểm chính trị có được nghề ổn định, bắt đầu lao động, giảm phụ thuộc kinh tế,
bước vào hôn nhân…
="Y/LE".T(N$
Học viện Quản lý giáo dục gồm có ba khoa: khoa Quản lý giáo dục, khoa
Giáo dục và khoa công nghệ thông tin. Phần lớn các bạn sinh viên năm thứ nhất
trong độ tuổi từ 18 – 20 tuổi, vừa tốt nghiệp trung học phổ thông. Số lượng nam
sinh viên ít hơn so với nữ sinh, các bạn đến từ nhiều tỉnh thành, các dân tộc khác
nhau. Họ có kế hoạch riêng và hành động độc lập trong hành vi, có những thay
đổi mạnh mẽ về động cơ và thang giá trị xã hội liên quan đến nghề nghiệp trong
tương lai. Họ khát vọng được thể hiện mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống,
khao khát được cống hiến, mong muốn xã hội đánh giá và công nhận. Xã hội coi
họ là những thanh niên chính thức, một người trưởng thành. Tuy nhiên khi đang
ngồi trên ghế nhà trường, chưa tham gia trực tiếp sản xuất của cải vật chất, tinh
của Đảng. Để tỏ rõ được vai trò hoạt động của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ
Chí Minh nói chung và vai trò của Đoàn trường nói riêng trong quá trình rèn
luyện và trau dồi phẩm chất đạo đức cho Đoàn viên, trong thời gian vừa qua
Đoàn trường HV QLGD đã không ngừng tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn
nghệ, TDTT, các hoạt động tình nguyện, tạo điều kiện để mọi Đoàn viên đều có
cơ hội được tham gia. Qua quan sát tinh thần thái độ làm việc của các Đoàn viên
chúng tôi nhận thấy các bạn rất say sưa, nhiệt tình và tham gia với tinh thần
trách nhiệm cao…
24
Căn cứ vào khái niệm hứng thú mà chúng tôi đã đề cập ở trên, ở đây
chúng tôi có đưa ra khái niệm về hứng thú hoạt động Đoàn của sinh viên năm
thứ nhất: Hứng thú hoạt động Đoàn của sinh viên năm thứ nhất chính là thái độ
đặc biệt, là niềm đam mê, lòng nhiệt tình, nhu cầu muốn được cống hiến sức
mình cho công tác Đoàn. Hoạt động Đoàn đó vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống,
vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho sinh viên .
&]%/M2P:+J"Y/L
ZQ&[EBT'a
Tuy nhiên, là sinh viên năm thứ nhất các bạn cũng không tránh khỏi
những bỡ ngỡ khi tổ chức hoặc tham gia một hoạt đông Đoàn, bởi tính chất hoạt
động Đoàn trong môi trường Đại học khác so với hoạt động trong môi trường
học phổ thông. Mặt khác là sinh viên năm thứ nhất kinh nghiệm trong tổ chức,
tham gia hoạt động Đoàn không phải sinh viên nào cũng có thể trang bị cho
mình từ trước, với một số sinh viên có thể đây là lần đầu tiên các bạn được tham
gia một hoạt động tình nguyện hoặc một hội trại…vì thế mà cách thức tổ chức
hoạt động còn manh mún, nhỏ lẻ, chưa biết liên kết các đoàn viên trong việc
thực hiện nhiệm vụ chung.
Một khó khăn mà phần lớn sinh viên năm thứ nhất ở các trường đều gặp
phải chính là sự thay đổi của môi trường sống, học tập. Nhiều sinh viên cảm
thấy chưa tự tin khi đứng trước đám đông, hay tham gia các buổi học tập nhóm,
chưa quen với phương pháp học tập, giảng dạy…Điều đó là cho nhiều bạn mất