MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thế kỷ XXI, “Thế kỷ của đỉnh cao trí tuệ”, báo hiệu sự bùng nổ của tri
thức khoa học và công nghệ. Trí tuệ con người sẽ phát triển cao và đóng vai
trò quyết định đối với sự tiến bộ, cũng như tốc độ phát triển của nền văn
minh nhân loại. Do đó, vấn đề nhân lực và nhân tài là vấn đề sống còn của
mỗi quốc gia. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển.
Nguồn nhân lực con người và tiềm năng con người là nhân tố quyết định.
Giáo dục - Đào tạo là con đường quan trọng để tạo ra nguồn lực con người
chất lượng cao và khai thác tiềm năng con người hiệu quả nhất.
Đảng ta khẳng định "Phát triển giáo dục là nền tảng, nguồn lực chất
lượng cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công
nghiệp hoá- hiện đại hoá, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng
kinh tế nhanh và bền vững” [9, tr.20].
Trong các Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ
tư khóa VII, lần thứ hai khóa VIII đã khẳng định việc đổi mới nội dung,
phương pháp giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ GV, CBQL và
tăng cường cơ sở vật chất các trường học là nhiệm vụ trọng tâm của giáo
dục- đào tạo.
Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban bí thư Trung ương Đảng,
về việc xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu,
là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện phát huy nguồn lực con người. Đây
là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng”. Đồng thời Chỉ thị
cũng chỉ rõ: “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo
dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ
cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống,
lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng
hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn và đánh giá thực trạng đội ngũ
GV THPT tỉnh Điện Biên nhằm xây dựng quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội
ngũ GV THPT tỉnh Điện Biên đến năm 2015 đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo
dục phổ thông tại địa phương.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu: Công tác phát triển đội ngũ GV THPT
tỉnh Điện Biên.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV
THPT tỉnh Điện Biên đến năm 2015.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng quy hoạch đào tạo được nghiên cứu trong luận văn chủ
yếu là quy hoạch đào tạo để nâng chuẩn đào tạo cho giáo viên THPT.
- Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng giáo viên được khảo sát là các cơ sở
đào tạo, bồi dưỡng giáo viên mà tỉnh đã có liên kết từ năm 2002 đến nay.
5. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Nếu xác định được cụ thể nhu cầu về số lượng và nhu cầu đào tạo, bồi
dưỡng của đội ngũ GV THPT tỉnh Điện Biên đến năm 2015 thì có thể xây
dựng được quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV THPT sát hợp với
thực tế của địa phương và từng trường THPT từ đó góp phần nâng cao chất
lượng đội ngũ, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục bậc THPT của tỉnh.
2
6. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
6.1. Nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về xây
dựng, quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV THPT trên địa bàn tỉnh.
6.2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ GV THPT tỉnh
Điện Biên và dự báo số lượng, nhu cầu đào tạo bồi dưỡng của đội ngũ GV
của tỉnh đến năm 2015.
6.3. Xây dựng quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV THPT tỉnh
Điện Điện đến năm 2015.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
văn và đề án trên chưa quan tâm nhiều đến việc đào tạo bồi dưỡng GV. Đặc
biệt chưa đề cập đến việc quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV.
Trên địa bàn tỉnh Điện Biên với một đội ngũ GV THPT có tuổi đời còn
trẻ, số lượng GV mới ra trường chiếm tỷ lệ lớn; vì vậy năng lực sư phạm
còn nhiều hạn chế, kinh nghiệm giảng dạy chưa có nhiều; bộc lộ nhiều điểm
yếu như: Chưa chú ý đổi mới phương pháp giảng dạy, việc sử dụng các
phương tiện dạy học, nhất là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng
dạy còn chưa có hiệu quả; đặc biệt còn lúng túng trong việc vận dụng
phương pháp dạy học mới khi chương trình SGK có sự cải tiến, bổ sung.
Trước yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, thực hiện mục tiêu chuẩn hóa
và từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ GV THPT; vấn đề đào tạo bồi
dưỡng GV đang được nhìn nhận như một nhu cầu không thể thiếu nhằm giúp
GV đổi mới phương pháp giảng dạy và khắc phục những điểm yếu của mình.
Với vai trò là cán bộ quản lý Sở GD&ĐT tỉnh Điện Biên; tôi thấy rằng,
việc quy hoạch đào tạo bồi dưỡng GV THPT tỉnh Điện Biên có tầm quan
trọng đặc biệt, có ý nghĩa quyết định việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV
nói riêng, chất lượng giáo dục nói chung của tỉnh nhà.
1.2. Một số khái niệm công cụ
1.2.1. Giáo dục THPT
Giáo dục THPT nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân “được thực hiện
trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai. HS vào học lớp mười phải
có bằng tốt nghiệp THCS, có tuổi là mười lăm tuổi”.
1.2.2. Đội ngũ GV THPT
“Đội ngũ là một nhóm người được tập hợp và tổ chức thành một lực
lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hay
không nhưng đều có cùng một mục đích nhất định” [30]. Như vậy có thể
hiểu khái niệm đội ngũ hàm chứa yếu tố sức mạnh và có những yêu cầu chặt
chẽ về kỷ cương và chất lượng.
1.2.3. Đào tạo, bồi dưỡng
Có rất nhiều khái niệm về đào tạo: Theo Từ điển Tiếng Việt do nhà xuất
1.3.2.1. Mục tiêu của quy hoạch đào tạo bồi dưỡng GV
Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá,
đảm bảo về chất lượng, đủ về năng lực, về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc
biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị phẩm chất lối sống, lương tâm tay
nghề của nhà giáo; đồng thời bồi dưỡng kiến thức về tin học, ngoại ngữ, hội
nhập quốc tế cho GV nhằm thúc đẩy và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo
nguồn nhân lực có chất lượng, phục vụ quá trình CNH-HĐH đất nước.
Việc đào tạo về số lượng phải đảm bảo sự hợp lý giữa các năm học.
Tránh hiện tượng đào tạo cùng lúc, ồ ạt làm ảnh hưởng đến hoạt động giảng
dạy trong nhà trường.
1.3.2.2. Nội dung của quy hoạch đào tạo bồi dưỡng GV
(i) Xác định nhu cầu GV, nhu cầu đào tạo bồi dưỡng GV của địa phương
(ii) Lựa chọn cơ sở đào tạo, bồi dưỡng
(iii) Phân bổ GV có nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng theo cơ sở đào tạo, bồi
dưỡng
(iv) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch
(v) Đề xuất các giải pháp thực hiện kế hoạch
1.4. Vai trò của dự báo giáo dục trong quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ GV THPT
1.4.1. Dự báo quy hoạch phát triển đội ngũ GV THPT
5
Dự báo quy hoạch phát triển đội ngũ GV THPT trước hết có nhiệm vụ dự
báo về số lượng HS theo từng cấp học, bậc học và theo từng khu vực địa lý.
Để dự báo quy hoạch phát triển đội ngũ GV THPT phải dựa vào dự báo nhu
cầu của xã hội về GD&ĐT và dự báo các nguồn lực mà hệ thống GD&ĐT
có thể sử dụng.
1.4.2. Các phương pháp công cụ dự báo để xây dựng quy hoạch đào
tạo bồi dưỡng GV THPT
Một trong những vấn đề cơ bản của khoa học dự báo là các phương pháp
công cụ dự báo, có thể nói độ chính xác của kết quả dự báo phụ thuộc rất
tế có thể xem xét tới các điều kiện đảm bảo cho sự phát triển.
6
b. Lựa chọn phương pháp dự báo
Như trên đã trình bày việc lựa chọn phương pháp dự báo có vai trò quan
trọng để đảm bảo độ chính xác của dự báo. Có thể có nhiều phương pháp
khác nhau để dự báo, nhưng mỗi phương pháp đòi hỏi phải đáp ứng những
điều kiện nhất định khi áp dụng nó.
Do mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng. Vì thế
nên áp dụng một vài phương pháp dự báo, để từ đó xác định phương án hợp
lý. Phương án hợp lý là phương án phát huy được khả năng tối đa các nguồn
lực và có tính khả thi cao nhất.
Tiểu kết chương 1
Trước đòi hỏi bức thiết của đổi mới phương pháp giảng dạy trong
trường phổ thông, vấn đề đào tạo bồi dưỡng GV đang được nhìn nhận như
một nhu cầu không thể thiếu nhằm giúp GV đổi mới phương pháp giảng dạy
và khắc phục những điểm yếu của mình. Việc quy hoạch đào tạo bồi dưỡng
đội ngũ GV trung học phổ thông là một yêu cầu bức xúc từ thực tiễn của địa
phương; được xây dựng trên cơ sở các văn bản pháp quy hiện hành, là tầm
nhìn có tính chiến lược, có tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa quyết định
việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục bậc
THPT của tỉnh.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG ĐỘI
NGŨ GV THPT TỈNH ĐIỆN BIÊN TỪ NĂM 2002 ĐẾN NAY
2.1. Khái quát về tình hình kinh tế, văn hoá - xã hội tỉnh Điện Biên
2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Điện Biên nằm ở phía tây bắc của tổ quốc. Phía Bắc giáp với tỉnh Vân
Nam Trung Quốc và tỉnh Lai Châu; phía Tây và Tây Bắc giáp với Lào, phía
Đông Nam giáp với tỉnh Sơn La.
Tỉnh Điện Biên có tổng diện tích tự nhiên là 9.562,9 km
sở dạy nghề tư thục).
2.2.2. Khái quát về hệ thống giáo dục THPT tỉnh Điện Biên
Là một phân hệ của hệ thống giáo dục của tỉnh, giáo dục THPT của
tỉnh Điện Biên trong giai đoạn vừa qua đã đạt được những thành tựu nhất
định. Hiện, cấp trung học phổ thông: có 15.624 học sinh; tăng 9.615 học
sinh. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào lớp 10 đạt 78%, tăng
21,2%. Tỷ lệ học sinh dân tộc 67,7%, tăng 33,5% so với năm 2002.
2.2.3. Thực trạng đội ngũ GV THPT tỉnh Điện Biên
Trong giai đoạn 2002-2007, số lượng GV THPT tăng đều hàng năm, so
với năm học 2002-2003, số lượng GV THPT tăng gấp 2,16 lần; tỷ lệ GV
trên chuẩn (có trình độ thạc sỹ) còn rất thấp, năm 2007 có 17/821 (chiếm tỷ
lệ 2.07%);. Tỷ lệ GV/lớp tương đối ổn định; tuy nhiên, tỷ lệ vẫn chưa đủ
theo mức quy định (2,25 GV/lớp). Với số lượng và cơ cấu GV hiện có thì
GV không đồng bộ về cơ cấu; vừa thiếu, vừa không cân đối; thiếu ở các bộ
môn như: Hóa học, Vật lý, Công nghệ.
2.2.4. Thực trạng công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV THPT
trong thời gian qua
Trong những năm qua, công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV THPT
được ngành GD&ĐT quan tâm, cụ thể như sau: Sở GD&ĐT tạo thành lập
Ban chỉ đạo bồi dưỡng cấp tỉnh từng năm học do Giám đốc Sở làm trưởng
ban. Căn cứ vào kế hoạch bồi dưỡng của Bộ GD&ĐT, Ban chỉ đạo xây dựng
kế hoạch, triển khai tổ chức thực hiện, tổ chức kiểm tra thanh tra và tổng kết
rút kinh nghiệm theo từng giai đoạn.
8
2.2.5. Đánh giá chung về công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV
THPT tỉnh Điện Biên giai đoạn từ năm 2002 đến nay
2.2.5.1. Mặt làm được
- Sở GD&ĐT thành lập Ban chỉ đạo bồi dưỡng cấp tỉnh từng năm học
do Giám đốc Sở làm trưởng ban; xây dựng kế hoạch bồi dưỡng theo từng
năm học, ra văn bản hướng dẫn thực hiện cụ thể tới các trường THPT; mua
Để xây dựng và phát triển đội ngũ GV THPT một cách toàn diện, đáp
ứng yêu cầu đổi mới giáo dục bậc THPT của tỉnh. Cần phải quy hoạch đào
tạo bồi dưỡng đội ngũ GV, trước mắt từ nay đến năm 2015. Đây là nhiệm vụ
cấp bách và quan trọng đối với ngành GD&ĐT tỉnh Điện Biên.
9
CHƯƠNG 3
XÂY DỰNG QUY HOẠCH VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
QUY HOẠCH ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GV THPT
TỈNH ĐIỆN BIÊN ĐẾN NĂM 2015
3.1. Các định hướng để xây dựng quy hoạch
Quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên THPT của Tỉnh Điện Biên
được đề xuất dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và những định hướng
cơ bản sau:
- Căn cứ Luật giáo dục (2005).
- Căn cứ Điều lệ trường trung học, (ban hành kèm theo Quyết định số:
23/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/7/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
- Căn cứ Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X; Nghị quyết Đại
hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ XI.
- Căn cứ Chỉ thị số 40/CT-TW, ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung
ương Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục.
- Căn cứ Quyết định số 230/2006/QĐ-TTg ngày 13/10/2006 của Thủ
tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
tỉnh Điện Biên thời kỳ 2006 - 2020.
- Căn cứ Quyết định số 969/QĐ-UBND ngày 07/9/2007 của UBND tỉnh
Điện Biên, về việc Phê duyệt Đề án Nâng cao dân trí và phát triển nguồn
nhân lực tỉnh Điện Biên, giai đoạn đến 2010.
- Căn cứ Quyết định số 31/QĐ-UBND ngày 14/01/2009 của UBND tỉnh
Điện Biên, về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển sự nghiệp Giáo dục và
Đào tạo tỉnh Điện Biên giai đoạn 2008 - 2015 và định hướng đến năm 2020.
- Đến 2015, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và có 100% GV
đạt trình độ chuẩn hoá theo yêu cầu của cấp học; có 100% cán bộ quản lý từ
hiệu trưởng trường THPT, phó trưởng phòng, phó trưởng khoa các trường
TCCN trở lên có trình độ cao cấp lý luận trở lên.
- Đến 2020 có 100% GV các cấp đạt trình độ lý luận theo yêu cầu của
cấp học từ trung cấp trở lên.
3.1.3. Mục tiêu của quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV THPT
đến năm 2015
Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD được chuẩn hoá, đảm bảo
về chất lượng, đủ về năng lực, về số lượng, đồng bộ về cơ cấu. Đặc biệt chú
trọng nâng cao bản lĩnh chính trị phẩm chất lối sống, lương tâm tay nghề của
nhà giáo. Đồng thời bồi dưỡng kiến thức về tin học, ngoại ngữ, hội nhập
quốc tế cho GV, nhằm thúc đẩy và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo
nguồn nhân lực có chất lượng, phục vụ quá trình CNH-HĐH đất nước.
Việc thực hiện quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV THPT tỉnh
Điện Biên giai đoạn từ nay đến năm 2015 cần phải thực hiện được một số
chỉ tiêu cơ bản sau:
+ Phấn đấu đến năm 2015, 100% GV THPT có trình độ chuyên môn
đạt chuẩn, số cán bộ làm công tác quản lý giáo dục tham gia lớp bồi dưỡng
quản lý, 100% có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên.
+ Phấn đấu đến năm 2015, đào tạo 7% đội ngũ GV THPT có trình độ
trên chuẩn (thạc sỹ).
+ Phấn đấu đến năm 2015, từ 50% - 90% đội ngũ GV THPT được bồi
dưỡng ngoại ngữ, tin học và những kiến thức về hội nhập quốc tế.
11
+ 100% đội ngũ GV THPT được bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ
hàng năm và bồi dưỡng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, dạy theo
chương trình, SGK mới.
3.2. Dự báo Quy mô học sinh THPT và nhu cầu GV đến năm 2015
3.2.1. Dự báo dân số của tỉnh Điện Biên đến năm 2015
số trong độ tuổi đến trường của cấp học.
Bảng 3.2d : Dự báo số lượng HS THPT tỉnh Điện Biên đến năm 2015
(theo phương pháp ngoại suy xu thế)
TT Năm học
Tổng dân số trong
độ tuổi (từ 15-17
tuổi)
Y
Quy mô
học sinh
Tỷ lệ % (Tỷ lệ
học sinh/ dân số
độ tuổi)
7 2008-2009 38.364 49,08 18829 51,7
8 2009-2010 39.170 52,45 20544 52,44
9 2010-2011 40.012 55,8 22326 55,79
10 2011-2012 40.852 59,15 24163 59,14
11 2012-2013 41.698 62,5 26061 62,49
12 2013-2014 42.740 65,85 28144 65,84
13 2014-2015 43.275 69,2 29946 69,19
14 2015-2016 44.037 72,55 31948 72,54
12
Phương án 3: Dự báo số lượng học sinh THPT bằng Phương pháp sơ
đồ luồng.
Để dự báo số lượng học sinh, theo phương pháp này cho biết sự biến
động học sinh từng lớp của bậc học, từ đó tính toán được số lượng học sinh
theo từng năm dự báo.
Bảng 3.2e: Dự báo số lượng HS THPT tỉnh Điện Biên đến năm 2015
(Theo phương án sơ đồ luồng)
TT Năm học
ĐT)
Số
HS
Tỷ lệ %
(DS/DSĐT)
Số
HS
Tỷ lệ %
(DS/DSĐT)
1 2008- 2009 38.364 18606 48,5
1882
9
51,7 16117 42,0
2 2009-2010 39.170 19585 50,0
2054
4
52,44 17462 44,6
3 2010-2011 40.012 20926 52,3 22326 55,79 18935 47,3
4 2011-2012 40.852 22861 56,5 24163 59,14
2215
0
55,3
5 2012-2013 41.698 25018 60,0
2606
1
62,49 25412 60,9
6 2013-2014 42.740 27781 65,0
2814
4
65,84
cơ cấu môn học, loại hình, yêu cầu nâng cao của từng giai đoạn. Ngoài ra
còn phải căn cứ vào tỷ lệ GV hao hụt do nghỉ hưu, chuyển công tác sang cơ
quan khác hoặc ra tỉnh khác…
Để có căn cứ lựa chọn phương án tối ưu về kế hoạch phát triển đội ngũ
GV THPT, tương tự như sử dụng các phương pháp dự báo quy mô học sinh
THPT tỉnh Điện Biên, chúng tôi tính số GV bằng việc suy từ quy mô học sinh
qua 3 phương pháp đã nêu ở trên.
a. Dự báo số lượng GV THPT theo mục tiêu phát triển chiến lược
của tỉnh
b. Dự báo số lượng GV THPT bằng phương pháp ngoại suy xu thế
c. Dự báo số lượng GV THPT bằng phương pháp sơ đồ luồng
d. Lựa chọn kết quả
Cũng như việc lựa chọn kết quả dự báo quy mô học sinh THPT, sau khi
phân tích xem xét kĩ lưỡng, chúng tôi lựa chọn kết quả của phương pháp 2,
đó là dùng phương pháp ngoại suy xu thế. Phương pháp này cho kết quả phù
hợp nhất với đặc điểm tình hình thực tiễn của tỉnh, với các yếu tố tỉ lệ hao hụt,
đào tạo bổ sung GV, đầu tư trường, lớp sát thực.
e. Dự báo số lượng GV THPT cần bổ sung đến năm 2015
Trên cơ sở dự báo số lượng GV THPT cần có ở Điện Biên đến năm
2015, chúng tôi dự báo số lượng GV cần đào tạo, tuyển dụng thêm để bổ sung
cho bậc THPT từ nay đến năm 2015 theo công thức: c = m - (a-b). Trong đó:
m là số GV cần có; a là số GV hiện có; b là số GV biến động giảm, không còn
14
trong ngành với nhiều lý do; c là số GV cần đào tạo, tuyển dụng thêm.
Căn cứ diễn biến của tỷ lệ GV giảm (mất, nghỉ hưu, mất sức, tinh giản,
chuyển vùng, chuyển ngành ) trên địa bàn tỉnh những năm từ 2002 trở lại đây,
cùng với thực tế độ tuổi bình quân hiện nay của GV trong tỉnh. Ước tính tỷ lệ
GV THPT của tỉnh giảm mỗi năm trung bình khoảng 1,1%. Kết quả tính toán
số GV giảm và số GV cần bổ sung giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2015 được
thể hiện ở bảng dưới đây:
Số giảm b 9 9 10 11 12 14 15 16 17
Số cần
tuyển
dụng
c 56 82 96 100 104 109 119 106 117
Nhìn vào Bảng dự báo số lượng GV THPT cần bổ sung đến năm 2015 ở
trên. Chúng ta thấy đến năm 2015, tỉnh Điện Biên cần có thêm 889 GV
THPT
f. Dự báo số lượng GV THPT cần bổ sung theo môn học đến năm 2015
Bảng 3.3f: Dự báo số lượng GV THPT cần bổ sung theo môn học đến năm 2015
Môn học Cơ cấu GV Năm 2015 (người)
Tổng số 100% 1597
1.Toán 12.0 191
2. Vật lý 8.0 127
3. Hóa học 7.5 119
4. Tin học 5.5 87
5. Sinh học 5.0 79
6. Ngữ văn 12.0 191
7. Lịch sử 5.5 87
8. Địa lý 5.5 87
9. Giáo dục công dân 3.0 47
10. Thể dục 6.0 95
11. Ngoại ngữ 12.0 191
15
12. Giáo dục quốc phòng 3.5 55
13. Kỹ thuật 3.0 47
Căn cứ số lượng GV THPT cần bổ sung theo môn học đến năm 2015 và
số lượng GV hiện có. Để có đủ số lượng GV theo định mức và đủ số lượng
GV theo cơ cấu từng môn học thì ngành GD&ĐT cần có những giải pháp để
có nguồn GV bổ sung trong 8 năm tới.
b. Đào tạo trên chuẩn
Đến năm 2007, bậc THPT tỉnh Điện Biên mới chỉ có 17 GV đạt trình
độ trên chuẩn (thạc sỹ), chiếm tỷ lệ 2,07%. Con số này rất thấp so với các
tỉnh lân cận như Sơn La, Lào Cai, Yên Bái. Để thực hiện được mục tiêu
chiến lược của tỉnh là đến năm 2015 phấn đấu 7% số GV THPT có trình độ
trên chuẩn
Bảng 3.4: Dự báo nhu cầu ĐT trên chuẩn của GV THPT đến năm 2015
17
TT Chỉ tiêu
Số hiện
có đến
năm
2007
Dự báo
200
8
200
9
201
0
201
1
201
2
201
3
201
4
2015
1 TS GV THPT 821 941
trên sẽ được bồi dưỡng trong năm học tại các nhà trường.
Bảng 3.5- Quy hoạch nhu cầu bồi dưỡng của GV THPT đến năm 2015
TT Chỉ tiêu T.hiện
2007
Dự báo
200
8
200
9
201
0
201
1
201
2
201
3
201
4
2015
1 Tổng số GV THPT 821 941
102
7
1116
120
8
130
3
140
7
3.5.1. Những quan điểm về các giải pháp quy hoạch đào tạo bồi
dưỡng đội ngũ GV THPT
Ngành GD&ĐT tỉnh Điện Biên đã xác định nhiệm vụ chung là: “Xây
dựng đội ngũ CBQL và đội ngũ GV đảm bảo đủ về số lượng và yêu cầu về
chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn hóa về trình độ đúng qui định của Luật
giáo dục, quan tâm nâng cao trình độ trên chuẩn cho một bộ phận cán bộ,
GV nòng cốt, tạo sự chuyển biến về chất lượng và hiệu quả GD - ĐT ở các
cấp học, bậc học và ngành học”.
3.5.2. Các giải pháp
3.5.2.1. Nhóm giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của
Nhà nước đối với giáo dục THPT
Việc thực hiện các chủ trương, chính sách đối với giáo dục phải đặt
dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng, sự quản lý của Nhà nước.
- Xây dựng các tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh ở các trường THPT.
- Quán triệt, triển khai các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị
quyết của Tỉnh Đảng bộ Điện Biên về công tác phát triển giáo dục THPT.
- Quan tâm bồi dưỡng đội ngũ GV, CBQL về chính trị, tư tưởng, chăm lo
công tác xây dựng Đảng các đoàn thể trong trường học, kết nạp Đảng viên.
3.5.2.2. Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng đội
ngũ GV THPT
a. Nâng cao nhận thức về công tác đào tạo bồi dưỡng GV THPT
Việc nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bồi
dưỡng GV THPT phải được thể hiện trên các mặt cơ bản sau đây:
- Mỗi GV THPT phải có nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng
của công tác bồi dưỡng, tự hoàn thiện và nâng cao tay nghề nhằm đáp ứng
19
được yêu cầu giảng dạy, yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
và thực tiễn của sự nghiệp giáo dục- đào tạo trong giai đoạn hiện nay.
- Mỗi CBQL giáo dục phải nhận thức rõ trách nhiệm trong việc xây
dựng, triển khai kế hoạch bồi dưỡng và tạo điều kiện để phát huy hiệu quả
thành phương thức chính yếu của mọi hoạt động giáo dục và đào tạo. Vì
vậy, việc tự học, tự bồi dưỡng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng và thiết thực.
b. Cải tiến, đổi mới nội dung bồi dưỡng GV THPT
20
Đó là những nội dung cơ bản về lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà
nước và những văn bản quy phạm pháp luật của ngành, nhất là những chủ
trương chính sách và pháp luật có liên quan đến sự nghiệp giáo dục.
Những nội dung trên nhằm mục đích nâng cao nhận thức về tư tưởng
chính trị, trau dồi đạo đức tác phong và lối sống, nâng cao nhận thức nghề
nghiệp, giúp GV hun đúc thêm tinh thần “yêu nghề mến trẻ”, “hết lòng vì
HS thân yêu”, tích cực hưởng ứng cuộc vận động trong Ngành “dân chủ, kỷ
cương, tình thương, trách nhiệm”.
c. Đổi mới phương pháp bồi dưỡng cho GV
Yêu cầu đổi mới phương pháp bồi dưỡng GV là đổi mới phương pháp
bồi dưỡng phải được tiến hành đồng bộ với đổi mới nội dung, chương trình,
phương pháp, hình thức tổ chức, kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng và các
điều kiện thiết yếu phục vụ cho công tác bồi dưỡng.
3.5.2.4. Nhóm giải pháp đầu tư các nguồn lực cho công tác đào tạo bồi
dưỡng GV THPT
a. Phát triển nguồn nhân lực cho công tác bồi dưỡng GV THPT
Đội ngũ giảng viên là lực lượng nòng cốt quyết định chất lượng công tác
bồi dưỡng GV, là người tham gia vào việc thiết kế và cải tiến nội dung
chương trình bồi dưỡng và trực tiếp chuyển tải nội dung bồi dưỡng cho đội
ngũ GV thông qua phương pháp giảng dạy.
Nguồn nhân lực cho công tác bồi dưỡng GV bao gồm đội ngũ giảng viên
các trường ĐHSP, bên cạnh đội ngũ giảng viên các trường ĐHSP. Phải đặc
biệt quan tâm xây dựng đội ngũ giảng viên là các CBQL, GV giỏi trong ngành.
b. Đầu tư các điều kiện về CSVC, trang thiết bị kỹ thuật và đồ dùng dạy
học cho công tác bồi dưỡng GV THPT
trình độ. Đặc biệt có chế độ thích hợp cho GV, CBQL đi học thạc sỹ, tiến
sỹ; các chính sách đãi ngộ đối với GV, CBQL cốt cán, GV giỏi.
3.6. Đánh giá tính khả thi của quy hoạch và các giải pháp thực hiện
Để kiểm chứng tính hiện thực và khả thi của quy hoạch và các giải pháp
thực hiện quy hoạch, chúng tôi đã tiến hành lấy ý kiến của các cán bộ QLGD
và quản lí lĩnh vực VH - XH trên địa bàn tỉnh Điện Biên, trong đó chủ yếu là
tại địa bàn thành phố Điện Biên Phủ. Số người được hỏi ý kiến là 75 người.
Số phiếu thu về (75 phiếu); sau khi tổng hợp và xử lý đúng quy trình
được kết quả như sau:
Bảng 3.6: Kết quả tổng hợp tính cần thiết và tính khả thi của nội dung
xây dựng quy hoạch
(Đơn vị tính: %)
Tính cần thiết Tính khả thi
Nội dung xây dựng quy hoạch
Rất
cần
thiết
Cần
thiết
Không
cần
thiết
Rất
khả
thi
Khả
thi
Không
khả thi
Dự báo quy mô HS THPT 81 19 0 85 15 0
Nhóm giải pháp tăng cường sự
LĐ của Đảng, QL của Nhà nước
đối với giáo dục THPT
68 90.66 5 6.66 2 2.66 0 0
2
Nhóm giải pháp nâng cao chất
lượng đào tạo bồi dưỡng đội ngũ
GV THPT
60 80 12 16 3 4 0 0
3
Nhóm giải pháp đổi mới hình
thức, nội dung, phương pháp đào
tạo bồi dưỡng GV THPT
50 66.66 15 20 8 10.66 2 2.66
4
Nhóm giải pháp đầu tư các nguồn
lực cho công tác đào tạo bồi
dưỡng GV THPT
50 66.66 18 24 7 9.33 0 0
5
Nhóm giải pháp đổi mới công tác
quản lý công tác đào tạo bồi
dưỡng GV THPT
45 60 18 24 10 13.33 2 2.66
6
Nhóm giải pháp về cơ chế chính
sách cho đội ngũ GV THPT
45 60 21 26 10 13.33 1 1.33
Qua thống kê kết quả sau trắc nghiệm, phỏng vấn ta thấy 4 nội dung và
6 nhóm giải pháp để thực hiện quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV
học, chưa bồi dưỡng được những kiến thức theo nhu cầu cần được bồi
dưỡng của GV, chưa tạo được động lực khuyến khích GV tích cực, tự giác
bồi dưỡng kiến thức có hiệu quả.
1.3. Với kết quả nghiên cứu nêu ra trong luận văn chúng tôi nhận thấy
rằng công tác xây dựng quy hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV THPT tỉnh
Điện Biên đến năm 2015 là một yêu cầu bức thiết từ thực tiễn phát triển giáo
dục của tỉnh nhà. Có thể xem, quy hoạch đào tạo bồi dưỡng GV là luận
chứng khoa học về công tác bồi dưỡng; được xây dựng trên cơ sở các văn
bản pháp quy hiện hành, là tầm nhìn có tính chiến lược, có tầm quan trọng
đặc biệt, có ý nghĩa quyết định việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đáp
ứng yêu cầu đổi mới giáo dục bậc THPT của tỉnh.
2. Khuyến nghị
2.1. Đối với Bộ GD& ĐT
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và đẩy
mạnh xu thế nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong những năm tới,
Bộ GD&ĐT cần có văn bản hướng dẫn thành lập Ban chỉ đạo công tác bồi
dưỡng GV bậc THPT; sớm ban hành Quy chế, Điều lệ về công tác bồi
dưỡng GV, ban hành khung chương trình từng môn học.
2.2. Đối với UBND tỉnh Điện Biên
24
- Có văn bản chỉ đạo các Sở liên quan như: Kế hoạch - Đầu tư, Tài
chính, Nội vụ phối hợp chặt chẽ với Sở GD&ĐT đẩy mạnh công tác
XHHGD, tăng thêm các nguồn lực phục vụ cho công tác đào tạo bồi dưỡng
GV THPT.
- Có chính sách động viên những CBQL có thành tích cao trong việc tổ
chức, chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng GV; có chính sách khen thưởng; hỗ trợ
kinh phí tham quan; học tập kinh nghiệm những điển hình tiên tiến về giáo
dục và bồi dưỡng GV, kể cả tham quan, học tập nước ngoài. Khuyến khíc,
tạo điều kiện và có chính sách hỗ trợ kinh phí nhiều hơn nữa cho những
CBQL và GV đi học thạc sỹ và tiến sỹ.