MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước
và của toàn dân.Để phát triển sự nghiệp giáo dục, cần tăng cường hiệu quả
quản lý nhà nước về giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, đáp ứng yêu
cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, văn minh.
Chương I, điều 2 – Luật Giáo Dục đã được Quốc hội nước Cộng Hoà
Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005
có chỉ rõ về mục tiêu giáo dục:
“ Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,
có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý
tưởng độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân
cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc …”
Đạo đứùc là mặt cốt lõi của nhân cách, nó chi phối quan hệ con người
với con người; con người với xã hội và thiên nhiên, để hình thành và phát
triển nhân cách thì phải hình thành và rèn luyện các phẩm chất đạo đức. Giáo
dục đạo đức là trách nhiệm của toàn xã hội mà nhà trường giữ vai trò trọng
trách. Vì thế giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là vấn đề cấp thiết, là sứ mệnh
lịch sử mà xã hội đã giao phó cho nhà trường.
“Thiện ác nguyên lai vô định tính
Đa do giáo dục đích nguyên nhân”
(Hồ Chí Minh)
Trong xu hướng toàn cầu hoá diễn ra trong mọi mặt đời sống xã hội,
chúng ta cũng đang phải đối mặt với những thách thức của thời đại: Đó là
hiện tượng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt lý tưởng, chạy theo lối sống thực
dụng trong một số thanh niên, học sinh làm ảnh hưởng tới chất lượng giáo
dục đạo đức của nhà trường. Trước tình hình đó, việc tăng cường giáo dục
đạo đức cho học sinh càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ øhết. Trong các lĩnh
Nhận thức được giáo dục đạo đức là nhân tố nâng cao giáo dục toàn
diện, trong chỉ thị số 22/2005/CT-BGD & ĐT ngày 29 tháng 7 năm 2005 có
đoạn: …” Triển khai thực hiện luật giáo dục 2005 và giai đoạn 2 của chiến
lược phát triển giáo dục 2001 – 2010; tạo bước chuyển biến cơ bản về
quản lý giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục; thúc đẩy sự nghiệp
giáo dục phát triển toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hoá
và hiện đại hoá đất nước …” và trong hướng dẫn số 6744/BGD & ĐT –
GDTrH ngày 04 tháng 8 năm 2005 của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo có chỉ
rõ:”…Đẩy mạnh giáo dục toàn diện, tăng cường giáo dục chính trị tư
tưởng, đạo đức cho học sinh …”
Các trường Trung học phổ thông trong huyện Càng Long, tỉnh Trà
Vinh thuộc trường ở vùng sâu vùng xa, cho nên cũng không thoát khỏi những
2
bất cập, mặt trái của nền cơ chế thị trường. Học sinh bỏ học rất nhiều, phần
lớn bỏ học là do vi phạm đạo đức, hạnh kiểm yếu kém, vi phạm tệ nạn xã hội,
pháp luật …Là Hiệu trưởng nhà trường, tôi rất quan tâm và trăn trở. Chính vì
vậy tôi chọn đề tài “Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho
học sinh của Hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông huyện Càng
Long, tỉnh Trà Vinh”, nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học
sinh.
2. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác giáo dục đạo đức cho học
sinh ở các trường trung học phổ thông trong huyện Càng Long, tỉnh Trà
Vinh. Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học
sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Công tác quản lý giáo dục đạo đức của Hiệu trưởng trường Trung học
phổ thông.
7. Phương pháp nghiên cứu.
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Nghiên cứu tài liệu, văn bản, chỉ thị, nghị quyết, sách báo, tranh ảnh …
có nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu, sàng lọc thông tin, tập hợp
những vấn đề cơ bản làm cơ sở lý luận vững chắc cho đề tài, hỗ trợ cho quá
trình nghiên cứu như: Tìm hiểu các khái niệm, thuật ngữ hoạt động giáo dục
đạo đức, đặc điểm tâm lý, phương pháp giáo dục học sinh trung học phổ
thông, xu thế giáo dục, chương trình đổi mới giáo dục trung học phổ thông.
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
7.2.1 Phương pháp quan sát: Quan sát các cử chỉ, hành vi, thái độ của
học sinh khi tổ chức hoặc tham gia các hoạt động giáo dục đạo đức.
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Tìm hiểu thực trạng,
nhận thức vai trò hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh và các lực lượng
tham gia giáo dục, việc tổ chức các hoạt động này ở các trường trung học phổ
thông trong huyện Càng Long.
7.2.3 Phương pháp toïa đàm: Trò chuyện, trao đổi với học sinh, giáo
viên, phụ huynh học sinh, chính quyền địa phương để đánh giá nhận thức,
hành vi, thái độ, hạnh kiểm của học sinh, đánh giá các biện pháp tổ chức hoạt
động giáo dục đạo đức cho học sinh và ảnh hưởng của nó tới việc hình thành
nhân cách học sinh.
7.2.4 Phương pháp xử lý thông tin: Sử dụng toán thống kê, tin học, xử
lý số liệu thu thập được, lập bảng,vẽ sơ đồ, mô hình hoá … Qua phân tích, so
sánh, tổng hợp rút ra được những nhận định, kết luận.
7.2.5 Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến của cán bộ Sở Giáo Dục &
Đào tạo, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Uỷ ban chăm sóc và bảo
vệ trẻ em, cán bộ pháp lý về việc quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
4
7.2.6 Phương pháp khảo nghiệm tính khả thi của các phương
pháp:Thực hiện thí điểm ở một số lớp, khối lớp để rút ra kết luận và thực
5
Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống XH, trong đời sống của con
người, đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm
bảo cho các cá nhân và cộng đồng tồn tại phát triển: “ Đạo đức đã trở thành
mục tiêu, đồng thời cũng là động lực để phát triển XH ” [27.tr47 ] và“
Đạo đức cũng như ý thức đã là sản phẩm xã hội và vẫn là như vậy chừng
nào con người còn tồn tại ” [ 28. tr21 ]
Vai trò, động lực tinh thần to lớn của Đạo đức đối với sự phát triển, tiến
bộ XH được nhiều nhà khoa học ngày nay thừa nhận và được mọi thời đại
quan tâm. Ở nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tiếp
thu những quan điểm đạo đức Mác - Lê Nin và thật sự làm một cuộc CM
trên lĩnh vực đạo đức.Người gọi đó là đạo đức mới: Đạo đức Cách mạng: “
Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu, nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ
đại, nó không phải là danh vọng của cá nhân mà vì lợi ích chung của
Đảng, của dân tộc, của loài người.” [ 37. tr377 ]
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của người Cách Mạng.
Nội dung cơ bản trong quan điểm đạo đức CM là: Trung với nước, hiếu với
dân; cần kiệm,liêm chính, chí công vô tư; yêu thương con người; tinh thần
quốc tế trong sáng. Quan điểm của Người về đạo đức là những quan điểm
thật sự khoa học, biện chứng. Mác-xít, phù hợp với sự tiến hoá của XH loài
người. Để có được đạo đức CM mỗi người phải chăm lo tu dưỡng, kiên trì
bền bỉ suốt đời: “ Đạo đức Cách Mạng không phải trên trời sa xuống, nó
do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố, cũng
như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [ 36. tr10 ].
Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về ĐĐCM, là mẫu mực kết tinh
tất cả những phẩm chất tốt đẹp nhất của người Việt Nam với đạo đức Cộng
sản cao quý của chủ nghĩa Mác – Lê Nin. Những tư tưởng đạo đức cũng như
tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong hệ
thống di sản tư tưởng của Người. Cho nên, có thể nói toàn bộ sự nghiệp CM
dưỡng nhân tài, đào tạo nhân lực. Trong giai đoạn đẩy mạnh CNH – HĐH
đất nước, thanh niên – cán bộ cần phải dốc lòng học tập, nâng cao vượt bậc
trình độ KH - KT và quản lý rèn luyện tác phong công nghiệp, trong lúc đó
vẫn phải coi trọng đạo đức lý tưởng, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh: “Nâng
cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân.”
Như vậy theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Học tập, rèn luyện đạo đức CM
không chỉ để chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù của giai cấp và dân tộc mà
còn để xây dựng chế độ xã hội mới – xã hội XHCN. “Muốn xây dựng chủ
nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Vì vậy,
GDĐĐ cách mạng cho thế hệ trẻ là vô cùng quan trọng và cấp thiết. Ở nước
ta hiện nay có một số tác giả nghiên cứu về đạo đức và GDĐĐ cho học sinh.
GS.TS Phạm Minh Hạc, nhà nghiên cứu giáo dục hàng đầu ở Việt Nam đã
nêu lên các định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kì
CNH – HĐH đất nước và nêu lên 6 giải pháp cơ bản GDĐĐ cho con người
Việt Nam thời kì CNH – HĐH: “ Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức giáo
7
dục đạo đức trong các trường học, củng cố ý tưởng giáo dục ở gia đình và
cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việc giáo dục
đạo đức cho con người, kết hợp chặt chẽ giáo dục đạo đức với việc thực
hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức
thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện
đạo đức, lối sống cho toàn dân, trước hết cho cán bộ Đảng viên, cho thầy
cô các trường học; xây dựng một cơ chế tổ chức vaø chỉ đạo thống nhất
toàn xã hội về giáo dục đạo đức, nâng cao nhận thức cho mọi người ” [
28. tr171-176 ].
GS.TS Đặng Vũ Hoạt đã đi sâu nghiên cứu vai trò của GVCN trong quá
trình GDĐĐ cho học sinh và đưa ra một số định hướng cho GVCN trong việc
đổi mới nội dung, cải tiến phương pháp GDĐĐ cho học sinh trường phổ
thông .
+ Theo giáo trình “ Đạo đức học ” (NXB Chính trị quốc gia Hà Nội -
Năm 2000 ) “ Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những
nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách
ứng xử của con người trong quan heä với nhau và quan hệ với xa õhội,
chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh
của dư luận xã hội ” [ 24 tr 8 ]
Đạo đức là một hình thái ý thức XH, là một mặt của đời sống XH con
người và là một hình thái chuyên biệt của quan hệ XH, thực hiện chức năng
XH, quan trọng là điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời
sống XH.
+ Theo quan điểm học thuyết Mác – Lê Nin: “ Đạo đức là một hình
thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng
đồng xã hội. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự
chi phối của tồn tại xã hội. Vì vậy tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội
(đạo đức ) cũng thay đổi theo. Và như vậy đạo đức xã hội luôn mang tính
lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc.” (Dẫn theo Nguyễn Kim Bôi [ 7.tr
13 ])
+ GS.TS Phạm Minh Hạc cho rằng: “ Đạo đức theo nghĩa hẹp là
luân lý, những quy định và chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con
người. Nhưng bên trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người
cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực
ứng xử của con người với con người, với công việc và với bản thân, kể cả
với thiên nhiên và môi trường sống. ”
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù
chính trị, pháp luật đời sống.Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách,
phản ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá. Đạo đức
được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh trong sáng, ở hành động giải
quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn.
+ Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Khoa học XH ) thì: “ Đạo đức là
những tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con
nhân loại.Lao động sáng tạo, nguồn gốc của mọi giá trị là một nguyên tắc đạo
đức có ý nghĩa chỉ đạo trong giáo dục và tự giáo dục của con người hiện nay.
ĐĐ có ba chức năng: Nhận thức, giáo dục và điều chỉnh hành vi. Trong
đó, điều chỉnh hành vi hết sức quan trọng vì nó điều chỉnh hành vi con người
trong mọi lĩnh vực của đời sống XH.
Chức năng nhận thức: Nhận thức ĐĐ đem lại tri thức ĐĐ, ý thức
ĐĐ cho chủ thể, các cá nhân nhờ tri thức ĐĐ, ý thức ĐĐ XH đã nhận thức
mà tạo thành ĐĐ cá nhân.Cá nhân hiểu và tin ở các chuẩn mực, lý tưởng, giá
trị ĐĐ XH trở thành cơ sở để cá nhân điều chỉnh hành vi, thực hiện ĐĐ.
10
Chức năng giáo dục: Trên cơ sở nhận thức ĐĐ, chức năng giáo
dục giúp con người hình thành những phẩm chất nhân cách, hình thành hệ
thống định hướng giá trị và các chuẩn mực ĐĐ, điều chỉnh ý thức hành vi
ĐĐ. Hiệu quả giáo dục ĐĐ phụ thuộc vào điều kiện kinh tế XH, cách thức tổ
chức, giáo dục mức độ tự giác của chủ thể và đối tượng giáo dục trong quá
trình giáo dục.
Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức: Sự điều chỉnh hành vi
ĐĐ làm cho cá nhân và XH cùng tồn tại và phát triển, đảm bảo quan hệ lợi
ích cá nhân và cộng đồng. Chức năng này thể hiện bằng hai hình thức chủ
yếu. Trước hết là bản thân chủ thể ĐĐ phải tự giác điều chỉnh hành vi của
mình trên cơ sở những chuẩn mực ĐĐXH. Thứ hai là tập thể cần tạo ra dư
luận để khen ngợi, khuyến khích, đánh giá hoặc phê phán những biểu hiện cụ
thể của hành vi ĐĐ trên cơ sở những chuẩn mực giá trị ĐĐ. Đây là chức
năng XH cơ bản, hết sức quan trọng của ĐĐ: “ Mục đích điều chỉnh của
đạo đức nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển xã hội bằng việc tạo nên sự
hài hoà quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân (và khi cần phải ưu tiên lợi
ích cộng đồng )” [ 24 tr 41 ]
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC :
Giáo dục theo nghĩa rộng là giáo dục XH được coi là lĩnh vưcï hoạt
thống tốt đẹp của ông cha ta và giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc, giáo dục
pháp luật nhà nước XHCN. GDĐĐ cho học sinh phải được tuân thủ theo các
nguyên tắc: Đảm bảo tính thống nhất, tính thực tiễn trong quá trình dạy và
học, đảm bảo các chuẩn mực XHCN được XH thừa nhận.
Quá trình GDĐĐ bao gồm các tác động của rất nhiều nhân tố khách
quan, chủ quan, bên trong và bên ngoài. Do đó, GDĐĐ chỉ đạt hiệu quả khi
nhà sư phạm biết tổ chức và đưa ra các biện pháp tổ chức các hoạt động giáo
dục một cách có hiệu quả nhằm đaït được mục tiêu giáo dục
1.2.2. Khái niệm về quản lý giáo dục đạo đức.
1.2.2.1.Quản lý.
Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý (hay là đối tượng quản lý ) nhằm tổ chức,
phối hợp hoạt động của con người trong các quá trình sản xuất, XH để đạt
được mục đích đã định.
Các Mác đã lột tả bản chất quản lý là: “ Nhằm thiết lập sự phối hợp
giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy
sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động
của các bộ phận riêng lẻ của nó. Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều
khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy ” [ 8 tr 342 ]
Như vậy theo Các Mác: Quản lý là loại lao động sẽ điều khiển mọi quá
trình lao động phát triển XH. Các nhà lý luận quốc tế như: Frederich
Wiliam Taylor (1856 – 1915 ) Mỹ; Henry Fayol (1841 - 1925) Pháp; Max
Weber (1864 – 1920 ) Đức … đều khẳng định: “Quản lý là khoa học,
đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội”.
12
Quản lý là một hoạt động thiết yếu: Nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực
cá nhân, nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản
lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt
được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn của cá
+ Theo quan điểm của tổ chức UNESCO, hệ thống các chức năng quản lý
bao gồm 8 vấn đề sau: xác định nhu cầu – thẩm định và phân tích dữ liệu –
13
xác định mục tiêu kế hoạch hố (bao gồm cả phân cơng trách nhiệm, phân
phối các nguồn lực, lập chương trình hành động ) – triển khai cơng việc –
điều chỉnh – đánh giá – sử dụng liên hệ và tái xác định các vấn đề cho q
trình quản lý tiếp theo.
+ Theo quan điểm quản lý hiện đại, từ các hệ thống chức năng quản lý
nêu trên, có thể khái qt một số chức năng cơ bản sau:
1. Kế hoạch
2. Tổ chức
3. Chỉ đạo (bao gồm cả sửa chữa, uốn nắn và phối hợp )
4. Kiểm tra (bao gồm cả thanh tra, kiểm sốt và kiểm kê ).
Như vậy, tuy có nhiều cách phân loại chức năng quản lý khác nhau (khác
về số lượng chức năng và tên gọi các chức năng ). Suy về thực chất các hoạt
động có những bước đi giống nhau để đạt tới các mục tiêu. Ngày nay còn có
thể có các tác giả trình bày chức năng quản lý nói chung (hoặc chức năng
QLGD nói riêng ) theo những quan điểm phân loại khác nhau, nhưng nền
tảng của vấn đề vẫn là 4 chức năng cơ bản theo quan điểm quản lý hiện đại.
CHƯÙC NĂNG QUẢN LÝ VÀ CHU TRÌNH QUẢN LÝ:
Biểu thị mối liên hệ và tác động trực tiếp
Biểu thị mối liên hệ ngược hoặc thơng tin phản hồi
trong q trình quản lý.
1.2.2.2 Quản lý giáo dục.
Quản lý giáo dục là một bộ phận trong quản lý XHCN Việt Nam.
và với từng học sinh.” (Phạm Minh Hạc: Một số vấn đề về giáo dục và
khoa học giáo dục - Hà Nội 1986 )
“Quản lý giáo dục thực chất là tác động một cách khoa học đến nhà
trường làm cho nó tổ chức được tối ưu quá trình dạy học, giáo duïc thể
chất, theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được
nhưõng tính chất trường trung học phổ thông xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, bằng cách đó tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng
mới. ” (Những cơ sở khoa học quản lý – NXB Khoa học XH – Hà Nội
1976 )
“Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp
quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo
đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà
trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy
học , giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến,
15
tiến lên trạng thái về chất.” (Nguyễn Ngọc Quang – Những khái niệm
cơ bản về lý luận quản lý – Trường CBQL TW 1 – Hà Nội 1989 )
Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể khái quát như sau: Quản
lý giáo dục là hệ thống những tác động có kế hoạch và hướng đích của chủ
thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các bộ phận của hệ
thống nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống giáo dục vận hành tối
ưu, đảm bảo sự phát triển mở rộng về cả mặt số lượng cũng như chất lượng
để đạt mục tiêu giáo dục.
1.2.2.3. Quản lý trường học .
Quản lý trường học với tư cách là một tổ chức giáo dục ở cơ sở
vừa mang tính đặc thù của giáo dục vừa mang tính XH, trực tiếp đào tạo
giáo dục thế hệ trẻ, là tế bào chủ chốt của hệ thống giáo dục từ TW đến địa
phương. Do vậy, trường học chính là khách thể cơ bản của mọi cấp quản lý,
Hiệu trưởng và các hoạt động của giáo viên là chủ thể quản lý trực tiếp vận
trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục,
mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục ” (Phát triển giáo dục, phát triển
con người phục vụ XH phát triển KT – NXB Khoa học – Hà Nội 1996 )
Theo M.I Kôn-đa-cốp: “ Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh,
chúng ta hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường ) là hệ thống xã
hội – sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý
thức, có khoa học và có hướng của chủ thể quản lý lên tất cả các mặt của
đòi sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội – kinh tế và tổ
chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên ”
(Cơ sở lý luận khoa học giáo dục – Trường CBQL Giáo dục và viện
KHGD – Hà Nội 1984)
Công tác quản lý giáo dục nói chung, quản lý nhà trường nói riêng,
gồm có quản lý các hoạt động giáo dục diễn ra trong nhà trường và các quan
hệ giữa nhà trường với XH trên các nội dung sau:
+ Quản lý hoạt động dạy và học
+ Quản lý hoạt động GDĐĐ
+ Quản lý hoạt động lao động sản xuất
+ Quản lý hoạt động giáo dục thể chất và vệ sinh.
+ Quản lý các hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề
+ Quản lý các hoạt động xã hội, đoàn thể.
Người trực tiếp quản lý trường học và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt
động của trường học là hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng giúp việc hiệu
trưởng.
17
Tóm lại: Quản lý nhà trường có thể được minh hoạ bằng sơ đồ sau: 1.2.2.4 Quản lý giáo dục đạo đức.
Quản lý đối tượng GDĐĐ là sự tác động có ý thức của chủ thể quản
Quản lý môi trường
giáo dục
1.3.1. Mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục đaọ đức cho học sinh trung học
phổ thông trong giai đoạn công nghiệp hoá – hiện đại hoá.
1.3.1.1. Mục tiêu giáo dục đạo đức.
Mục tiêu GD – ĐT đã được khẳng định trong luật giáo dục cho các
cấp học. trong đó nhấn mạnh mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh
phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm
hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN.
Mục tiêu GDĐĐ là giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị
đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, biết sống vì mọi người, trở thành một
công dân tốt, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước
Nhà trường phải trang bị cho học sinh những tri thức cần thiết về
chính trị, tư tưởng đạo đức, lối sống đúng đắn, kiến thức pháp luật, văn hoá
XH. “ Nâng cao nhận thức chính trị, hiểu rõ các yêu cầu của sự nghiệp
CNH – HĐH đất nước. Nắm vững những quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển con người toàn diện,
gắn liền với sự nghiệp đổi mới của nước nhà, có nhân sinh quan trong
sáng, có quan điểm rõ ràng về lối sống, thích ứng với những yêu cầu của
giai đoạn mới .” [ 36 tr 13 ]
Hình thành ở học sinh thói quen, hành vi đạo đức đúng đắn, trong sáng
với bản thân, mọi người trong XH và sự nghiệp cách mạng XHCN của Việt
Nam.Rèn luyện ở học sinh ý thức tự giác thực hiện những chuẩn mực
ĐĐXH, chấp hành nghiêm pháp luật, ý thức tổ chức kỷ luật lao động, yêu lao
động, yêu khoa học và những thành tựu, giá trị văn hoá tiến bộ của loài người
và không ngừng phát huy những truyền thống cao đẹp của dân tộc Việt
Nam.Giáo dục cho học sinh THPT tình yêu tổ quốc Việt Nam XHCN, gắn
với tinh thần quốc tế vô sản.
1.3.1.2.Nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ
thông giai đọan công nghiệp hoá – hiện đại hoá.
ganh đua quyết liệt và từng con người được phát triển cao và hoà hợp với XH
thì tập thể cộng đồng mới có sức mạnh, có chất lượng, mới phù hợp với
những đòi hỏi của giai đoạn phát triển mới của đất nước ( Giáo trình I:
Đường lối – chính sách trường CBQLGD – ĐT năm 2002 )
Nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
trong giai đoạn công nghiệp hoá – hiện đại hoá.
+ Làm cho học sinh thấm nhuần sâu sắc thế giới quan Mác – Lê
Nin, tư tưởng đạo đức CM Hồ Chí Minh, tính chân lý khách quan của các giá
trị đạo đức, nhân văn, nhân bản của tư tưởng đó, coi đó là kim chỉ nam cho
hành động của mình
+ Trên cơ sở đó, thông qua việc tiếp cận với cuộc đấu tranh CM của
dân tộc và hoạt động của cá nhân để củng cố niềm tin và lẽ sống, lý tưởng
sống, lối sống theo con đường XHCN
+ Thấm nhuần chủ trương, chính sách của Đảng, biết sống và làm
việc theo pháp luật, sống có kỉ cương nề nếp, có văn hoá trong các mối quan
hệ giữa con người với tự nhiên, với XH và giữa con người
20
+ Nhận thức ngày càng sâu sắc nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực và
các giá trị ĐĐ XHCN. Biến các giá trị đó thành ý thức tình cảm hành vi, thói
quen và cách ứng xử trong đời sống hàng ngày.
+ Phát triển nhu cầu đạo đức cá nhân, hình thành và phát triển ý thức
ĐĐ, rèn luyện ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử ĐĐ. Phát triển các giá
trị ĐĐ cá nhân theo những định hướng giá trị mang tính đặc thù dân tộc và
thời đại.
Nhiệm vụ của quá trình GDĐĐ này không những định hướng cho
các hoạt động GDĐĐ mà còn định hướng cho hoạt động dạy học nói chung,
dạy môn đạo đức nói riêng.
1.3.2.Đặc điểm học sinh trung học phổ thông.
Các nhà tâm lý học cho rằng học sinh THPT (15 đến 18 tuổi ) ở giai
của nhiều em là thiếu tính độc lập. Nhiều khi các em chưa chú ý phát huy hết
năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính
hoặc thiên về tái hiện tư tưởng của người khác.Nhà trường cần đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập sáng tạo của
người học.
1.3.2.3. Sự phát triển ý thức.
Sự phát triển ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân
cách của HS THPT với những đặc điểm cơ bản sau:
+ Các em tiếp tục chú ý đến hình dáng bên ngoài của mình, hình ảnh
về thân thể là một thành tố quan trọng của sự tự ý thức của thanh niên mới
lớn.
+ Ở tuổi thanh niên, quá trình phát triển tự ý thức diễn ra mạnh mẽ, sôi
nổi và có tính chất đặc thù riêng. Thanh niên tìm hiểu và đánh giá những đặc
điểm tâm lý của mình theo quan điểm về mục đích và hoài bão của mình
+ Sự tự ý thức của họ xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt
động: Địa vị mới trong tập thể, những quan hệ mới với thế giới xung quanh.
Các em hay ghi nhật ký, so sánh mình với nhân vật mà họ coi là tấm gương,
là thần tượng.
+ Nội dung của tự ý thức cũng khá phức tạp, các em không chỉ nhận
thức về cái tôi của mình trong hiện tại mà còn nhận thức vị trí của mình trong
XH, hiện tại và tương lai.
+ Thanh niên còn có thể hiểu rõ những phẩm chất phức tạp, biểu hiện
những quan hệ nhiều mặt của nhân cách và biết cách đánh giá nhân cách của
mình trong toàn bộ những thuộc tính nhân cách.
+ Các em có khả năng đánh giá sâu sắc những phẩm chất, mặt mạnh,
mặt yếu của những người cùng sống và chính mình. Đồng thời các em cũng
có khuynh hướng độc lập trong việc phân tích, đánh giá bản thân. Song việc
tự đánh giá bản thân nhiều khi chưa khách quan, có thể sai lầm, cần giúp đỡ
khéo léo để các em hình thành một biểu tượng khách quan về nhân cách của
mình.
Ở tuổi HS THPT, quan hệ bạn bè chiếm vị trí hơn hẳn so với những
người khác, do lòng khao khát muốn có một vị trí bình đẳng trong cuộc sống,
các em được sinh hoạt với caùc bạn cùng tuổi, cảm thấy mình cần cho nhóm,
có uy tín, có vị trí nhất định trong nhóm.Các em thích giao lưu với bạn bè
cùng lứa tuổi, cùng lớp, cùng tường, hoặc ngoài trường. Trong công tác
GDĐĐ cho HS THPT cần chú ý tới ảnh hưởng của nhóm – hội tự phát ngoài
nhà trường và có thể tránh được hậu quả xấu của nhóm tự phát bằng cách tổ
chức các hoạt động tập thể có tổ chức, đoàn thể để phát huy được tính tích
cực của thanh niên.
23
Đời sống tình cảm của thanh niên mới lớn rất phong phú và nhiều vẻ,
đặc biệt là tình bạn: các em có nhu cầu lớn về tình bạn, các em có nhu cầu
cao hơn về tình bạn (tính chân thật, tin tưởng và giúp đỡ lẫn nhau …). Các
em có khả năng đồng cảm tình bạn. Tình bạn của các em mang tính xúc cảm
cao. Các em thường lý tưởng hoá tình bạn. Ở thanh niên mới lớn, quan hệ
giữa nam và nữ được tích cực hoá rõ rệt. Nhóm bạn ở THPT thường có nam
và nữ. Do vậy, nhu cầu về tình bạn khác giới được tăng lên. Ở một số em,
xuất hiện những sự lôi cuốn đầu tiên mạnh mẽ: tình yêu. Tình yêu ở HS
THPT thường là trong trắng, tươi sáng, hồn nhiên, giàu cảm xúc và khá chân
thành. Nhà trường phải giáo dục cho HS một tình yêu chân chính dựa trên cơ
sở thông cảm hiểu biết, tôn trọng và cùng có một mục đích, lý tưởng chung.
Để GDĐĐ cho HS THPT có hiệu quả, chúng ta cần chú ý xây dựng
mối quan hệ tốt đẹp với các em, đó là mối quan hệ bình đẳng, tôn trọng lẫn
nhau. Chúng ta cần tin tưởng các em, tạo điều kiện để các em phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo độc lập, giúp các em nâng cao tinh thần trách
nhiệm của bản thân và tạo điều kiện thuân lợi cho sự phát triển nhân cách HS
1.3.3.Vai trò của giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông.
Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đang tiến hành cải cách giáo dục,
đổi mới chương trình giáo dục THPT, hướng vào thực hiện giáo dục có chất
đúng đắn để các em trở thành người công dân chân chính, có ích cho XH.
Dưới sự giáo dục của nhà trường, bản thân học sinh phải có ý thức tu dưỡng,
rèn luyện, tự hoàn thiện nhân cách của mình.Chủ tịch Hồ Chí Minh từng
khẳng định: “ Con đường học vấn là lý tưởng cao đẹp ở mỗi con người, để
phát triển nhân cách con người, đó là sự rộng lớn, muốn đạt được học vấn
đích thực thì phải có đạo đức trong sáng, có sự chí tâm, sự thành ý, đem
kết quả học tập của mình phục vụ cho hạnh phúc của nhân dân …” [ 25 tr
179 ]
GDĐĐ ở trường THPT là một hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế
hoạch nhằm biến những nhu cầu, chuẩn mực đạo đức theo yêu cầu của XH
thành những phẩm chất, giá trị ĐĐ của cá nhân HS; nhằm góp phần phát
triển nhân cách của mỗi cá nhân và thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của XH.
Quản lý tốt hoạt động GDĐĐ học sinh ở trường THPT là góp phần thực hiện
nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của GD – ĐT trong thời kỳ CNH – HĐH là “
Nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc
lập dân tộc và CNXH ”
1.3.4.Nội dung, con đường và phương pháp giáo dục đạo đức trong
trường trung học phổ thông.
1.3.4.1.Nội dung giáo dục đạo đức trong trường trung học phổ
thông.
Nội dung giáo dục đạo đức cho đối tượng HS THPT theo văn bản
mục tiêu và kế hoạch đào tạo THPT: Quyết định 329 do Bộ trưởng Bộ GD –
ĐT ký ngày 31 tháng 3 năm 1990, đó là: “ Giáo dục thế giới quan, tư tưởng,
chính trị, pháp luật, đạo đức và cư xử có văn hoá.”
25