SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"HƯỚNG DẪN HỌC SINH LUYỆN TẬP PHÉP TU TỪ SO SÁNH
TRONG TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ LỚP 4, 5"
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Trong đời sống hàng ngày, khi giao tiếp, trò chuyện với những người xung quanh,
có lẽ không ai không một lần sử dụng phép tu từ so sánh.
So sánh tu từ là biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối
tượng khác nhau của thực tế khách quan- có nét giống nhau nào đó nhưng không hoàn
toàn đồng nhất nhằm diễn tả một cách hình ảnh và đem đến lối tri giác mới mẻ về đối
tượng. Với khả năng tạo hình- biểu cảm, phép tu từ so sánh (PTTSS)được sử dụng phổ
biến trong văn miêu tả, giúp biểu đạt đối tượng một cách vừa chân thực, cụ thể và vừa có
chiều sâu. Nhờ thể hiện sự nhận thức, sự thụ cảm riêng của người viết, bài văn miêu tả có
được nét tinh tế, độc đáo và có phong cách riêng.
Ở tiểu học, ngay từ lớp 2 học sinh đã được làm quen với thể loại văn miêu tả thông
qua việc quan sát tranh và trả lời câu hỏi. Lên các lớp 3, 4, 5 thì nội dung này lại được cụ
thể hơn và yêu cầu cũng cao hơn. Bên cạnh đó, ở lớp 3 - SGK Tiếng Việt đã giới thiệu sơ
bộ về phép tu từ so sánh nhưng chưa đi sâu về lý thuyết của phép tu từ so sánh mà chỉ
hình thành những hiểu biết và kỹ năng ban đầu về so sánh thông qua hệ thống các bài tập
thực hành. So sánh được xem là một trong những phương thức tạo hình, gợi cảm, gợi ra
những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh, đẹp đẽ cho con người. Qua
đó giúp học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp của những hình ảnh thơ văn đồng thời
giúp học sinh vận dụng phép tu từ so sánh vào quan sát các sự vật, hiện tượng và con
người xung quanh các em. Từ đó, giúp học sinh thể hiện vào các bài văn miêu tả được tốt
hơn, sâu sắc hơn và sinh động hơn.
Thế nhưng, trong thực tế, cả giáo viên và học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc
vận dụng phép tu từ so sánh vào dạy và học văn miêu tả. Nguyên nhân chủ yếu là do giáo
viên chưa nắm được bản chất của PTTSS; Chưa có những hiểu biết cơ bản về lí thuyết
của thể loại văn miêu tả, chưa có cái nhìn tổng quan về kết cấu trong từng dạng bài tập để
hình thành kiến thức cho HS Vì vậy, hiệu quả của việc dạy học văn miêu tả chưa cao.
văn miêu tả ở lớp 4, 5 sẽ được nâng cao.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, đề tài sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu
sau đây:
5.1. Phương pháp phân tích - tổng hợp
Nhằm phân tích, khái quát, thu thập các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu: khảo
sát, đánh giá nội dung dạy học phép tu từ so sánh, dạy học văn miêu tả theo chương trình
sách giáo khoa Tiếng Việt.
5.2. Phương pháp quan sát - điều tra
Nhằm nghiên cứu thực tế dạy học phép tu từ so sánh, dạy học văn miêu tả ở lớp 4, 5 để
phát hiện ra những vấn đề cần nghiên cứu, cần có giải pháp khắc phục.
5.3. Phương pháp thực nghiệm
Nhằm kiểm tra tính hiệu quả của các đề xuất về quy trình dạy học văn miêu tả.
6. Dự báo những đóng góp mới của đề tài
* Về mặt lý luận
Thứ nhất, GV và HS sẽ được nhận thức đầy đủ về mục đích, nội dung, phương pháp và
tầm quan trọng của thể loại văn miêu tả, của Phép tu từ so sánh ở chương trình Luyện Từ
và Câu lớp 3 và chương trình văn miêu tả lớp 4, 5.
Thứ hai, Khi hiểu đúng, đủ về bản chất của Phép tu từ so sánh và tầm quan trọng của thể
loại văn miêu tả thì GV, cán bộ quản lí sẽ có định hướng trong việc thay đổi phương
pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học.
* Về mặt thực tiễn
-Thứ nhất, Kích thích hứng thú học văn của các em và các em sẽ tạo ra được những trang
văn hay nhờ quá trình thiết kế, định hướng, tổ chức sáng tạo của thầy.
- Thứ hai, Dù tất cả các kỳ thi được tổ chức trên công nghệ máy tính thì việc dạy và học
văn ở tiểu học nói chung và dạy học thể loại văn miêu tả nói riêng sẽ không bị mai một.
7. Thời gian nghiên cứu
Từ học kỳ 2 của năm 2012- hết học kỳ 1 năm 2013, tại các trường Tiểu học: Thạch
Châu, Mai Phụ, Hộ Độ, Thạch Bằng (Lộc Hà), Bắc Hà (Thành Phố Hà Tĩnh). Tôi đã
nghiên cứu trên 2 đối tượng: Học sinh thành phố và học sinh vùng nông thôn.
Các bài tập ở phần Nhận xét có mục đích chính là giúp HS phân tích ngữ liệu để rút ra
các khái niệm hoặc quy tắc cần ghi nhớ. Mỗi bài tập ở phần này sẽ tương đương với một
bộ phận tri thức lí thuyết ở phần Ghi nhớ.
Đối với kiểu bài Luyện tập thực hành thường bao gồm một tổ hợp bài tập. Các bài tập
của kiểu bài Luyện tập thực hành và các bài tập ở mục Luyện tập của kiểu bài Hình thành
kiến thức mới đều có mục đích và hình thức giống nhau. Chúng bao gồm hai loại: bài tập
nhận diện và bài tập vận dụng.
Bài tập nhận diện có mục đích giúp HS củng cố các kiến thức lí thuyết đã được hình
thành trong bài (với các bài tập ở phần Luyện tập) và các kiến thức lí thuyết HS đã học ở
những tiết trước (với các kiểu bài tập ở bài Luyện tập thực hành).
Bài tập vận dụng có mục đích giúp HS ứng dụng lí thuyết về các kiểu bài của văn miêu
tả, ứng dụng cách trình bày nói và viết các phần trong một bài văn miêu tả theo nhiều
cách khác nhau trước một đề bài, một gợi ý, một tình huống cụ thể.
Tóm lại, qua thống kê và phân tích chương trình SGK Tiếng Việt ta thấy nét khác biệt cơ
bản là chương trình cũ không dạy về lí thuyết văn miêu tả còn chương trình mới dạy lí
thuyết văn miêu tả như: Khái niệm về văn miêu tả; Cấu tạo của bài văn miêu tả: cây cối,
con vật, đồ vật, tả cảnh, tả người. Tất cả hệ thống lí thuyết này đều được dạy thông qua
kiểu bài Hình thành kiến thức mới và thông qua kiểu bài Luyện tập thực hành lại tiếp tục
củng cố và khắc sâu tri thức lí thuyết.
1.2. Phép tu từ so sánh và việc dạy phép tu từ so sánh trong chương trình Tiếng Việt
ở tiểu học
* Phép tu từ so sánh là gì?
So sánh tu từ là biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng
khác nhau của thực tế khách quan- có nét giống nhau nào đó nhưng không hoàn toàn
đồng nhất nhằm diễn tả một cách hình ảnh và đem đến lối tri giác mới mẻ về đối tượng.
Dạng 1: * Mô hình so sánh hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố
Mặt tươi như hoa
1 2 3 4
Trong đó 1 là hình ảnh so sánh ( Mặt ), 2 là đặc điểm so sánh ( tươi), 3 là liên từ so sánh (
như), 4 là cái được so sánh (hoa ).
tàu dừa) để tạo nên một hình thức so sánh có âm điệu nhịp nhàng. Cách so sánh thứ nhất
vừa đúng vừa lạ: những quả dừa có khác gì đàn lợn con mà đàn lợn con này lại nằm trên
cao. Cách so sánh thứ hai vừa đẹp vừa lạ: tàu dừa mà thành chiếc lược, mây xanh mà
thành suối tóc thì thật kì diệu và thơ mộng.
Ngoài ra, còn có trường hợp yếu tố (1) và yếu tố (4) đổi chỗ cho nhau, còn gọi là so sánh
đổi chỗ.
Ví dụ:
Trên trời mây trắng như bông
Ở giữa cánh đồng bông trắng như mây
(Ca dao)
Có khi dùng cặp từ “bao nhiêu ”, “bấy nhiêu ” để so sánh.
Ví dụ:
Qua đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.
(Ca dao)
Trong so sánh tu từ, còn có hình thức kết hợp một vế so sánh, một đối tượng so sánh với
nhiều đối tượng được so sánh.
Ví dụ: Đất Ê-ti-ô-pi-a là cha, là mẹ, là anh em ruột thịt của chúng tôi.
(TV3, t.1, tr. 85)
* Chức năng của phép tu từ so sánh
a) Chức năng nhận thức
b) Chức năng biểu cảm, cảm xúc
* Căn cứ về mặt ngữ nghĩa người ta có thể chia phép so sánh thành các dạng:
Dạng 1: So sánh ngang bằng
Dạng 2: So sánh hơn - kém
Dạng 3: So sánh tuyệt đối - (so sánh bậc cao nhất)
Tóm lại, so sánh tu từ là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai
đối tượng khác loại của thực tế khách quan, không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ
có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối
tượng.
học sinh. Và có 30,62% nắm được đặc điểm của văn miêu tả, số giáo viên còn lại khi
được phỏng vấn đều trả lời chung chung 69,38%. Điều này chứng tỏ ở giáo viên sự thiếu
hụt về lý thuyết văn miêu tả còn chiếm một số lượng lớn. Đa số giáo viên đều cho rằng
Tập làm văn khó dạy, đặc biệt là thể loại văn miêu tả, không biết diễn đạt thế nào, lựa
chọn hình thức dạy học ra sao để học sinh dễ hiểu. 73,12% giáo viên gặp khó khăn trong
quá trình dạy Tập làm văn. Ngoài kiểm tra những hiểu biết chung của giáo viên về văn
miêu tả, trong quá trình điều tra chúng tôi cũng tiến hành khảo sát về nhận thức cũng như
thực trạng sử dụng phép tu từ so sánh trong khi dạy học văn miêu tả. Có 28,12% giáo
viên đã vận dụng biết pháp tu từ so sánh trong khi hướng dẫn HS nói, viết đoạn văn, bài
văn miêu tả. Tuy nhiên, mức độ và hiệu quả chưa thực sự cao.
Có 41,87% giáo viên nắm được khái niệm của phép tu từ so sánh. 33,12% giáo viên nhận
biết được phép tu từ so sánh. 56,25 % giáo viên nắm được các dạng so sánh ở tiểu học.
Có thể thấy rằng: những hiểu biết về mặt lí luận của giáo viên về văn miêu tả và phép tu
từ so sánh đang còn là một khoảng trống với họ vì thế việc vận dụng vào thực tiễn dạy
học còn gặp nhiều khó khăn.
Ngoài những thực trạng cụ thể mà chúng tôi khảo sát ở trên ở giáo viên còn tồn tại một số
nhược điểm chung sau đây:
- Giáo viên chỉ có một con dường duy nhất hình thành các hiểu biết về lí thuyết thể văn,
các kĩ năng làm bài thông qua việc phân tích các bài mẫu.
- Để đối phó với học sinh làm bài kém, để bảo đảm "chất lượng" thi định kì nhiều thầy
giáo, cô giáo cho học sinh học thuộc một số bài mẫu để các em khi gặp một đề bài tương
tự và như thế cứ việc chép ra.
- Ra đề bài văn miêu tả không cần biết đến đề đó có thích hợp với học sinh của mình
không. Giáo viên quá lệ thuộc vào sách giáo khoa và sách giáo viên, chưa có sự chủ
động, linh hoạt trong mỗi lần ra đề, chưa chú ý đến đặc điểm của từng vùng miền.
- Qua thực tế giảng dạy của bản thân ở trường tiểu học chúng tôi cũng dễ dàng nhận thấy
một điều: Tất cả các giờ học Tập làm văn không chỉ riêng thể loại văn miêu tả mà các giờ
TLV còn lại đều được tiến hành trong bốn bức tường chật hẹp. Đa số học sinh được hỏi
đều có câu trả lời: "cô giáo chỉ ghi đề bài ở bảng lớp, sau đó cho học sinh đọc gợi ý
trong SGK và tiếp theo là chúng em tự làm bài văn".
miêu tả chưa đem lại kết quả như mong đợi.
+ Hình thức dạy học và đồ dùng trực quan còn nghèo nàn nên học sinh không có những
hiểu biết, những hình dung cụ thể và rõ nét về đối tượng miêu tả. Bởi vậy, học sinh nói và
viết mơ hồ, chung chung, không có sắc thái biểu cảm, hay nói cách khác trong mỗi bài làm
chưa đưa ra được yếu tố liên cá nhân.
+ Chương trình Tiếng Việt hiện hành với một quan điểm mới về mục đích, nội dung, phương
pháp dạy học và định hướng mới về dạy học văn miêu tả cũng là điều kiện để cho những đề
xuất của đề tài có điều kiện ứng dụng trong thực tế dạy học, khẳng định cơ sở khoa học và tính
khả thi của những đề xuất mà chúng tôi đã ra.
Thực trạng nhận thức về mục đích, nội dung, phương pháp và tầm quan trọng của việc
luyện tập phép tu từ so sánh vào dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 còn có nhiều
tồn tại và bất cập. Những hạn chế trong khâu ra đề của giáo viên cũng như của SGK,
những nhược điểm còn bắt gặp ở học sinh sẽ là vấn đề để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu,
tìm kiếm một quy trình cụ thể hơn cho từng bài học.
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LUYỆN TẬP PHÉP TU TỪ SO SÁNH TRONG TẬP
LÀM VĂN MIÊU TẢ LỚP 4, 5
Bước 1: Hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng miêu tả
Quan sát là sử dụng các giác quan để nhận biết sự vật. Dạy HS quan sát chính là dạy cách
sử dụng các giác quan để tìm ra đặc điểm của sự vật. Muốn quan sát đối tượng miêu tả, GV
cần hướng dẫn HS thực hiện các thao tác sau:
- Lựa chọn vị trí quan sát
Vị trí quan sát tốt sẽ giúp các em cảm nhận đồ vật, cây cối, cảnh vật rõ ràng, cụ thể và
tinh tế hơn, do vậy, miêu tả cũng hồn nhiên, sinh động và hấp dẫn. Quan sát làm bài văn
miêu tả, cần tìm ra những đặc điểm chung và đặc điểm riêng biệt của từng đồ vật, con
vật, cây cối . Ví dụ: Dạy quan sát cây bút chì của em, giáo viên hướng dẫn học sinh nhận
xét không chỉ màu sắc của vỏ bút chì mà còn nhận xét những dòng chữ in trên vỏ, các
đặc điểm khác ở vỏ mà chỉ riêng bút chì của em mới có (có chỗ nào bị sứt không? có vết
mực ở đoạn nào? ).
- Phân chia đối tượng quan sát.
Để có thể quan sát một bức tranh, một con vật, một con vịt, một quyển lịch, GV cần dạy
kiểu:
+ Liên tưởng tương tự. Ví dụ: thấy một tảng đá trên mỏm núi cao, liên tưởng tới hình
ảnh một người đàn bà ôm con chờ chồng trở về từ biển khơi. Hoặc thấy hình ảnh dê con
đang chăm chú kéo xe hàng của mình ở chiếc cặp bạn học sinh ngày ngày mang tới
trường, cậu học sinh liên tưởng đến chuyện dê con như đang muốn nhắc nhở mình phải
thật chăm học.
+ Liên tưởng cặp đôi: Thấy bạn con đến thăm, người mẹ bật khóc nhớ đứa con hi sinh
trong chiến tranh.
+ Liên tưởng trái ngược: Miêu tả biển lúc hiền dịu, bình yên lại liên tưởng nhớ đến biển
những ngày dữ dội, đáng sợ của những ngày bão tố.
- Xét theo quan hệ của cấp độ giữa các sự vật với nhau thì có liên tưởng cùng cấp và khác
cấp:
+ Liên tưởng cùng cấp:
Từ câu chữ này nghĩ đến những câu chữ khác. Ví dụ, khi thấy các chữ "mình" và " ta"
trong câu thơ của Tố Hữu:
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
(Việt Bắc
Ta liên tưởng đến những chữ "mình", "ta" đậm đà hương vị dân gian trong câu ca dao.
Mình về ta chẳng cho về
Ta nắm vạt áo, ta đề bài thơ.
+ Liên tưởng khác cấp: Từ các câu chữ gợi ra hình ảnh, hình tượng. Ví dụ, khi nhà thơ Tố
Hữu viết:
Tôi viết bài thơ cho các con
Mừng Bác năm nay tám mươi tròn.
(Theo chân Bác)
thì nhà thơ Xuân Diệu đã bình là: nhà thơ đã hạ rất đắt từ " tròn". "Tròn" ở đây không chỉ
hiểu là Bác đã tròn tám mươi, mà qua đó, ta còn hiểu thêm là sự tròn đầy của nhân cách,
tài năng, sự nghiệp, cuộc đời một con người. Như vậy, một từ "tròn" mà gợi lên được cả
tầm vóc của Bác Hồ.
- Giáo viên cần hướng dẫn học sinh làm bài vào giấy nháp, lưu ý cách trình bày để bài
viết bố cục đẹp, rõ ràng, hợp lí, lưu ý sử dụng câu chuyển để giữa các đoạn văn có sự
móc nối, liền mạch. Câu chữ diễn đạt, ngắn gọn, súc tích, tránh viết dài dòng, không
đúng trọng tâm, xa đề.
- Giáo viên động viên, uốn nắn, ân cần chỉ bảo phương hướng, khêu gợi nguồn hiểu biết
để các em hồi tưởng lại để các em phấn khởi dồn hết tâm trí vào bài làm.
- Giáo viên theo dõi nếu trong bài làm của HS nếu chưa có những câu văn sử dụng phép
tu từ so sánh có thể gợi ý để HS làm bài, tuy nhiên khi sử dụng phép tu từ so sánh không
được quá lạm dụng vì như thế bài làm của các em sẽ trở nên gượng ép, thiếu tính tự
nhiên.
Bước 4: Hướng dẫn học sinh nói, viết đoạn văn, bài văn miêu tả có sử dụng phép từ
so sánh.
a) Hướng dẫn HS nói có sử dụng hình ảnh so sánh:
Để bài nói của học sinh tốt cả giáo viên và học sinh phải có sự chuẩn bị tỉ mỉ, công phu
thì khi đó mới đem lại kết quả như mong đợi. Mặt khác, để bài nói của học sinh trở nên
thuần thục, giáo viên phải cho học sinh luyện tập qua nhiều lần, qua nhiều dạng đề khác
nhau. Và cứ sau mỗi bài tập như thế, giáo viên cùng học sinh trong lớp nhận xét, đánh giá
để học sinh đó và những học sinh khác đúc rút kinh nghiệm. Khi các em đã được luyện
nói đoạn văn, bài văn có sử dụng hình ảnh so sánh giáo viên tiến tới yêu cầu cao hơn cho
các em viết đoạn văn, bài văn có sử dụng hình ảnh so sánh.
b) Hướng dẫn HS viết đoạn, bài văn miêu tả có sử dụng hình ảnh so sánh.
Nội dung đủ, phong phú và bố cục rõ ràng là yêu cầu không thể thiếu được của một bài
văn tốt. Ở bước này có thể xem là sự vận dụng các động tác cơ bản của múa ba lê vào
một vở kịch múa trọn vẹn. Đây là một bước nhảy vọt về chất vì từ diễn đạt ngôn ngữ nói
sang ngôn ngữ viết.
Chúng ta có thể nhận biết quy trình 4 bước về việc hướng dẫn HS luyện tập phép tu từ so
sánh trong văn miêu tả qua ví dụ minh họa sau:
Đề bài - Tả cây hoa hồng đang ra hoa.
Bước 1: Hướng dẫn HS quan sát
cây hoa hồng
hoa; Cánh hoa; Hương thơm, vẻ
đẹp của hoa.
- HS trả lời theo nhận xét riêng của
từng em.
- HS có thể nêu về thời tiết, (nắng,
gió), chim chóc (tiếng hót), ong
bướm bay lượn
Bước 2: Hướng dẫn HS liên tưởng,
tưởng tượng
- Hoa hồng bắt đầu nở- vừa độ nở-
nở rộ có những nét gì đặc biệt?
Bông hoa hồng có vẻ đẹp gì đáng
nói? Gợi cho em liên tưởng đến
điều gì?
- Hương thơm của hoa hồng có gì
hấp dẫn? Hương thơm của hoa
hồng gợi cho em liên tưởng đến
điều gì?
- Bằng sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế HS
nêu được đặc điểm nổi bật của hoa;
Liên tưởng tới sự e ấp, ngập ngừng
khoe sắc.
- Hương thơm lan tỏa, dịu ngọt, gợi
trong em sức quyến rũ lạ kỳ.
Bước 3: Hướng dẫn HS xây dựng
hình ảnh so sánh
- Cánh hoa, hương thơm của hoa
có thể so sánh với những hình ảnh
nào?
- Sờ vào cánh hoa, em có cảm giác
- HS vận dụng các kỹ năng để làm
bài
* Một số yêu cầu
Để hướng dẫn học sinh luyện tập phép tu từ so sánh trong Tập làm văn miêu tả lớp
4, 5 chúng ta phải đảm bảo một số yêu cầu: Quy trình luyện tập phép tu từ so sánh trong
làm văn miêu tả 4, 5 phải phù hợp với mục tiêu, đặc điểm văn miêu tả, đặc điểm tâm sinh
lý HSTH, phải phù hợp với quy trình dạy TLV nói chung, văn miêu tả nói riêng
Để học sinh làm văn miêu tả có hiệu quả, tạo được hứng thú với các em cần luyện tập
phép tu từ so sánh thông qua việc hướng dẫn cho học sinh: Quan sát đối tượng miêu tả;
Hướng dẫn các em liên tưởng, tưởng tượng; Hướng dẫn HS xây dựng các hình ảnh so sánh
và Hướng dẫn HS nói viết đoạn văn, bài văn miêu tả có sử dụng phép tu từ so sánh.
Giáo viên cần linh động trong khâu ra đề cho các HS cho phù hợp với học sinh từng vùng
miền. Nếu tranh minh họa hoặc đề ở SGK chưa rõ, GV có thể minh họa tranh ảnh thực để
HS có được biểu tượng rõ nét về đối tượng tả của mình.
* KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
* Về mặt định lượng: Để xử lý kết quả thực nghiệm tôi đã sử dụng phương pháp thống
kê toán học, cụ thể là phương pháp thống kê mô tả, trong đó chủ yếu sử dụng các thông số
sau:
Tỉ lệ % để phân loại kết quả học tập, mức độ hứng thú làm cơ sở so sánh kết quả giữa
nhóm lớp thực nghiệm và nhóm lớp đối chứng.
Giá trị trung bình
X
được tính theo công thức sau:
X
=
i i
i 1
n .x
N
=