PHẦN I- ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận:
Trước những thay đổi to lớn của nền khoa học thế giới, nền giáo
dục thế giới đã có bước tiến dài được song hành cùng cuộc cách mạng
khoa học công nghệ. Hòa chung vào dòng biến đổi của thế giới, nền
giáo dục Việt Nam đang từng bước được đổi mới để có thể hòa nhập
vào nền giáo dục của khu vực và thế giới. Đảng ta đã khẳng định:
Giáo dục là “quốc sách hàng đầu”, “ đầu tư cho giáo dục là đầu tư
cho phát triển”, Sinh thời Bác Hồ đã nói: “ Một dân tộc dốt là một
dân tộc yếu”, “ Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm
trồng người”. Thực hiện mục tiêu giáo dục “ nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước. Ngày nay khi đất
nước đang thực hiện đường lối đổi mới và tiến hành công cuộc công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, trong công cuộc đổi mới đã đề ra
những yêu cầu đổi mới với hệ thống giáo dục, phải “xác định lại mục
tiêu, thiết lập lại chương trình, kế hoạch, nội dung, phương pháp giáo
dục và đào tạo”. Sự đổi mới về mục tiêu, nội dung dạy học, đòi hỏi
phải đổi mới về phương pháp dạy học.
Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, người thầy chỉ giữ vai trò tổ
chức, hướng dẫn giúp học sinh tích cực chủ động tìm tòi, khám phá,
lĩnh hội kiến thức mới song song với việc hình thành kỹ năng cơ bản
cho học sinh. Với đặc trưng của môn địa lí một phần là lý thuyết phải
tái hiện lại được kiến thức, một phần phải tự tư duy, tìm tòi áp dụng
được khi làm bài tập, nhất là việc làm quen và khai thác bản đồ, biểu
đồ, tranh ảnh, đặc biệt là tập Atlat địa lí có ý nghĩa rất quan trọng. Mặt
khác trong giai đoạn hiện nay, môn địa lí còn là môn học quan trọng
trong việc giữ gìn, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của nước ta trong thời
kỳ mở cửa, hội nhập với thế giới. Với những đặc trưng đó của môn
Địa lí, thì việc đổi mới phương pháp dạy học là vô cùng cần thiết và
học sinh chủ động tiếp thu những kiến thức theo nội dung bài học, ít
phải ghi nhớ máy móc.
Tuy nhiên, việc khai thác quyển Atlat trong ôn thi ốt nghiệp môn
địa lí còn nhiều học sinh lúng túng trong khi sử dụng Atlat nên chưa
thật sự mang lại hiệu quả. Có rất nhiều các nguyên nhân khác nhau: có
thể do xu thế chung hiện nay của nước ta, học sinh chỉ chú trọng đến
các môn học tự nhiên của khối A, B, D, để sau khi ra trường dễ tìm
kiếm việc làm… Còn môn Địa lí chỉ là môn phụ, môn không bắt buộc
thi tốt nghiệp…và trong thực tế nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp
khối C ra trường không xin được việc làm, hay làm trái nghề…nên
một số học sinh chỉ học để biết, nhưng biết để làm gì khi không vận
dụng thực tiễn cuộc sống…
Hay có thể là do cách sử dụng chưa đúng như: chưa nắm được
phương pháp sử dụng bản đồ trong quyển Atlat, chưa nắm được vấn
đề chung nhất của Atlat, không khai thác theo trình tự khoa học và đặc
2
biệt chưa biết huy động, kết hợp các kiến thức đã học trong sách giáo
khoa vào việc tìm ra mối liên hệ giữa các trang trong quyển Atlat để
khai thác một cách có hiệu quả nhất vì vậy học sinh ngại học, chán
học, ngủ gật, bỏ học chồn tiết môn Địa lí vì phải học nhiều, thuộc
nhiều. Cho nên việc hướng dẫn học sinh sử dụng Atlat một cách thành
thạo trong ôn thi tốt nghiệp là việc làm rất quan trọng và cần thiết, tạo
thói quen làm việc độc lập, sáng tạo của học sinh, học sinh không cảm
thấy nhàm chán, buồn ngủ… mà khơi dậy tính tò mò, say mê học tập,
nghiên cứu môn học.
Trước thực trạng trên, là một giáo viên giảng dạy môn địa lí ở
trường THPT, tôi suy nghĩ, trăn trở, tìm tòi nghiên cứu những phương
pháp tốt nhất dể nâng cao chất lượng giảng dạy môn địa lí, trong nhiều
phương pháp tôi đặc biệt chú trọng phương pháp hướng dẫn học sinh
sử dụng Atlát Địa lí trong ôn thi tốt nghiệp. Từ cơ sở lý luận và thực
I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA ATLAT ĐỊA LÍ VIỆT NAM
TRONG VIỆC ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN ĐỊA LÍ 12:
1. Cấu trúc của Atlat Địa lí Việt Nam do nhà xuất bản Giáo
dục phát hành năm 2012:
- Kí hiệu chung ( trang 30)
- Bản đồ hành chính ( trang 4,5)
- Bản đồ hình thể (trang 6,7)
- Địa chất và khoáng sản ( trang 8)
- Khí hậu ( Trang 9)
- Các hệ thống sông ( trang 10)
- Các nhóm và các loại đất chính ( trang 11)
- Thực vật và động vật ( trang 12)
- Các miền tự nhiên ( trang 13,14)
- Dân số, dân tộc ( trang 15, 16)
- Kinh tế chung ( từ trang 17 đến trang 20) gồm nông nghiệp
chung, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
- Công nghiệp chung, các ngành công nghiệp trọng điểm ( trang
21, 22).
- Giao thông, thương mại, du lịch ( từ trang 23 đến trang 25).
- Các vùng kinh tế: Vùng Trung du và miềm núi Bắc Bộ, vùng
Đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc trung Bộ, vùng Duyên hải Nam
Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ, vùng Đồng bằng
sông Cửu Long ( từ trang 26 đến trang 29)
- các vùng kinh tế trọng điểm ( trang 30) gồm: Vùng kinh tế
trọng điểm phía bắc, vùng kinh tế trọng điểm miền trung, vùng kinh tế
trọng điểm phía nam.
2. Tầm quan trọng của Atlat Địa lí Việt Nam :
Atlat địa lý là cuốn sách giáo khoa thứ đối với học sinh trong khi
học địa lý. Cuốn sách Atlat này có thể sử dụng cho nhiều đối tượng
học sinh từ Trung học cơ sở đến Trung học phổ thông và cả đối với
Kỹ năng khai thác Atlat Địa lý Việt Nam là kỹ năng cơ bản của
môn địa lý. Nếu không nắm vững kỹ năng này thì khó có thể hiểu và
giải thích đươc các sự vật, hiện tượng địa lý, đồng thời cũng rất khó tự
mình tìm tòi các kiến thức địa lý khác. Do vậy, rèn luyện kỹ năng làm
việc với Atlat địa lý Việt nam là không thể thiếu được khi học môn địa
lý.
Thông thường khi khai thác Atlat địa lí Việt Nam học sinh cần
phải nắm vững các kĩ năng sau:
- Tên bản đồ trước để hình dung ra nội dung của bản đồ.
5
- Hiểu hệ thống kí, ước hiệu chung của bản đồ. (Đọc chú giải)
ở trang KÍ HIỆU CHUNG (trang bìa trong).
- Đọc phần chú giải và tỷ lệ dành riêng cho từng trang bản đồ
đó. Đây có thể coi là chìa khóa để hiểu nội dung được thể hiện trong
bản đồ, mặt khác còn rút ra được kiến thức nhất định có tính chất tổng
quát.
- Nhận biết, chỉ và đọc được tên các đối tượng địa lý trên bản đồ
- Biết cách xác định vị trí, hướng, khoảng cách, vĩ độ, kinh độ…
của các đối tượng địa lý trên lãnh thổ.
- Biết rõ mục đích sử dụng để phối hợp trang chung và trang
riêng dành cho từng bản đồ.
- Biết rõ câu hỏi như thế nào có thể dung Atlat
- Biết sử dụng đủ Atlat cho một câu hỏi…
3. Khai thác bản đồ, biểu đồ trong Atlat để rèn luyện cho học
sinh kỹ năng tìm hiểu kiến thức địa lí.
Trong phần này, học sinh phải nắm được nội dung các trang
Atlat từ phần địa lý tự nhiên đến địa lí dân cư, địa lí các ngành kinh tế
cho đến địa lý các vùng kinh tế có nội dung là gì để từ đó dễ dàng tìm
hiểu, trình bày khi làm bài thi môn địa lý, đặc biệt là phải hiểu rõ nội
dung trong bài học từ đó mới có thể vân dụng được vào học tập trong
tây tây nam đối với Nam Bộ, Tây Nguyên,Duyên hải miền
Trung, Tây bắc bộ
• Gió đông nam, nam đông nam đối với Đồng bằng sông Hồng
và Đông bắc Bắc Bộ
Ví dụ:
Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy trình bày
những đặc điểm chính của địa hình vùng núi Tây Bắc? Những đặc
điểm đó có ảnh hưởng đến sự phân hoá khí hậu của vùng này như thế
nào?
Dựa vào Atlat học sinh sẽ trình bày được
- Đặc điểm chính của địa hình vùng núi Tây Bắc
+ địa hình cao nhất nước ta.
+ Hướng tây bắc – đông nam
+ địa hình gồm 3 dải
( có thể thấy được: hai phía đông, tây là những dãy núi cao và trung
bình, ở giữa thấp hơn bao gồm các dãy núi, các cao nguyên, sơn
nguyên và thung lũng sông)
- Ảnh hưởng của địa hình vùng núi Tây Bắc đến sự phân hoá khí
hậu của vùng:
+ Làm cho khí hậu phân hoá theo độ cao.
+ Làm cho khí hậu phân hoá theo hướng địa hình
b. Khai thác bản đồ, biểu đồ trong Atlat để rèn luyện cho học
sinh kỹ năng tìm hiểu kiến thức địa lí dân cư.
Ví dụ:
7
Dựa vào Atlat địa lý Việt nam trang 15 và những kiến thức đã
học hãy trình bày đặc điểm phân bố dân cư không đều ở nước ta ?Kể
tên các loại đô thi đặc biệt, đô thi loại 1?
* Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách phân tích các bản đồ,
biểu đồ trang 15 của Atlat:
- Đô thị đặc biệt gồm: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh
- Đô thi loại 1 gồm: Hải Phòng, Đà nẵng, Huế, Cần Thơ.
8
c. Phân tích các bản đồ kinh tế trong Atlat để rèn cho học sinh
kỹ năng tim hiểu các ngành kinh tế nước ta.
Ví dụ:
Dựa vào Atlát địa lí Việt Nam ( trang 19). Trình bày hiện trạng sản
xuất, phân bố lúa của nước ( diện tích, sản lượng, năng suất).
Bản đồ lúa năm 2007, quan sát bảng chú giải trong bản đồ thấy:
- Diện tích lúa tăng: năm 2000 là 7666( nghìn ha), năm 2005 là
7329
(nghìn ha), năm 2007 là 7207 (nghìn ha).
- Sản lượng Lúa: năm 2000 là 32530 ( nghìn tấn), năm 2005 là
35832 (nghìn tấn), năm 2007 là 35942 ( nghìn tấn)
- Năng suất lúa năm 2000 là: 4,2 tấn/ha, năm 2005 là 4,9 tấn/ha,
năm 2007 là 5,0 tấn/ha.
- Tình hình phân bố cây lúa
+ Những tỉnh có diện tích trồng lúa so với diện tích cây lương
thực chiếm trên 90% gồm các tỉnh của Đồng bằng sông Cửu Long,
một số tỉnh của Đồng bằng sông Hồng ( như Bắc Ninh, Hải Dương,
Hưng Yên, Hải Phòng, Hà Nam, Nam Định, một số tỉnh của Đông
Nam Bộ…
Ví dụ:
Dựa vào Atlat địa lí Việt nam trang 19 và những kiến thức đã
học hãy trình bày hiện trạng phát triển ngành chăn nuôi ở nước ta?
Học sinh dựa vào Atlat trang 19, chăn nuôi năm 2007. Học sinh
quan sát biểu đồ cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi qua 3 năm
2000, 2005, 2007 sẽ trình bày được nội dung sau:
- Giá trị sản lượng năm 2000 là 18505 tỉ đồng, năm 2005 là 26108
tỉ đồng, năm 2007 là 29196 tỉ đồng.
của thuỷ sản và tài nguyên rừng.
Ví dụ:
* Giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào Atlat địa lí trang 21
(công nghiệp chung). Hãy chứng minh rằng nước ta có sự phân hoá
công nghiệp theo lãnh thổ và theo thành phần kinh tế?
- Giáo viên hướng dẫn cho học sinh nghiên, tìm hiểu về ngành
công nghiệp, các trung tâm công nghiệp trong phần chú thích, từ đó
học sinh có thể:
- Khai thác kiến thức trên lược đồ, biểu đồ thấy rõ được đặc
điểm phân hoá công nghiệp nước ta như thế nào?
- Công nghiệp nước ta phân bố không đều theo lãnh thổ mà tập
trung theo từng khu vực, từng vùng như Đồng bằng sông Hồng và
vùng phụ cận, Đông Nam Bộ…
- Giá trị sản xuất của ngành công nghiệp tăng qua các năm. Cơ
cấu giá trị sản xuất công nghiệp của nước ta phân theo nhóm ngành ,
theo thành phần kinh tế, và biết được xu hướng thay đổi.
- Những trung tâm công nghiệp lớn là TP Hồ Chí Minh và Hà
Nội.
10
* Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách phân tích bản đồ
trang 22 (các ngành công nghiệp trọng điểm.)
Phân tích bản đồ trang 22 học sinh có thể nhận biết được một số
ngành công nghiệp trọng điểm, giá trị cũng như tỷ trọng của từng
ngành như : Công nghiệp năng lượng, công nghiệp hàng tiêu dùng,
công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm…
* Giáo viên cho học sinh tìm hiểu các nhà máy thuỷ điện trang
22 các ngành công nghiệp trọng điểm. Hãy xác định các nhà máy
thuỷ điện lớn nhất ở nước ta trên bản đồ và giải thích sự phân bố của
chúng?
- Sau khi nghiên cứu bản đồ công nghiệp chung, giáo viên
Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, vùng núi Duyên hải Nam Trung Bộ.
- Nhiệt điện tập trung ở khu vực Đông Bắc Bộ và Đông Nam Bộ.
Các nhà máy điện có công suất trên 1.000MW: gồm có thuỷ
điện: Hoà Bình, nhiệt điện: Phả Lại, Phú Mĩ.
* Giáo viên tiếp tục hướng dẫn cho học sinh cách phân tích bản
đồ trang 23, 24,25 (các ngành dịch vụ nước ta.)
- Mạng lưới giao thông và đầu mối giao thông vận tải chính ở
nước ta, mối quan hệ giữa ngành giao thông vận tải với các ngành
kinh tế khác.
Giao thông đường bộ ngày càng phát triển.
Giao thông đường thuỷ, đường sắt vận chuyển khối lượng
hàng hoá cao.
Tuyến đường bay trong nước, quốc tế ngày càng phát triển.
- Các hoạt động thương mại như :
+ Nội thương :Biết được cơ cấu tổng doanh thu dịch vụ tiêu
dùng của cả nước, tổng mức bán lẻ hàng hoá phân theo thành phần
kinh tế qua các năm …
+ Ngoại thương :Cơ cấu giá trị các mặt hàng xuất khẩu giữa
công nghiệp ,nông nghiệp, thuỷ sản và tỷ trọng các mặt hàng nhập
khẩu so với xuất khẩu, giá trị xuất nhập khẩu và cán cân thương mại
qua các năm. phân tích bản đồ để thấy được các thị trường xuất khẩu
và nhập khẩu chủ yếu của nước ta.
- Vai trò của ngành du lịch rất quan trọng trong cơ cấu kinh tế
nước ta, tiềm năng to lớn của ngành du lịch được thể hiện qua các
trung tâm du lịch quốc gia, vùng, các điểm du lịch trong cả nước, số
lượng khách du lịch và doanh thu từ du lịch từ năm 1995 đến năm
2007. Cơ cấu khách du lịch quốc tế với Việt Nam năm 2000 và 2007.
Tài nguyên du lịch phong phú thể hiên ở cả tài nguyên du lịch
tự nhiên và tài nguyên nhân văn của nước ta như: Di sản văn hoá thế
giới, di tích lịch sử cách mạng, các làng nghề truyền thống…di sản
thể vận dụng được vào bài thi của mình
Ví dụ:
Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 26 và những kiến thức đã
học. Hãy kể tên các tỉnh và vị trí địa lí của vùng Trung du và Miền núi
Bắc Bộ?
Sau khi tìm hiểu vùng Trung du và Miền núi Bắc Bộ trong Atlat
học sinh xác định được ranh giới của vùng, từ đó biết được vùng này
có 15 tỉnh, thành (Tây bắc 4 tỉnh, Đông bắc 11 tỉnh) thông bản đồ kinh
tế năm 2007, trang 26 và giới thiệu được vị trí địa lí của vùng. Vị trí là
vùng có lãnh thổ lớn nhất cả nước, tiếp giáp với Trung Quốc, Lào, Bắc
Trung Bộ, ĐBSH, Vịnh Bắc Bộ, từ đó rút ra ý nghĩa của vị trí địa lí trong
việc phát triển kinh tế của vùng.
Tương tự dựa vào Atlat trang 22 và trang 8 có thể nêu lên sự phân bố
khoàn sản của trung du và miền núi Bắc Bộ
13
+ Sử dụng bản đồ trang 22 Atlat để thấy rõ thế mạnh thuỷ điện
của vùng rất lớn.
+ Phân tích các bản đồ vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ và
các trang bản đồ về khí hậu, đất đai để tìm hiểu sự phát triển của cây
công nghiệp, cây dược liệu, hoa màu, cây ăn quả cận nhiệt đới và ôn
đới, chăn nuôi gia súc lớn của vùng.
Sau khi nghiên cứu Trung du miền núi Bắc Bộ, giáo viên có thể
giới thiệu Đồng bằng sông Hồng để học sinh có thể tự nghiên cứu và
trình bày
+ Xác định vi trí của vùng (Bản đồ trang 26) phía Bắc và phía
Tây giáp vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ. Phía Nam giáp vùng
Bắc Trung Bộ, phía Đông giáp biển Đông.Từ đó rút ra ý nghĩa của vị
trí địa lí trong việc phát triển kinh tế của vùng:
- Đây là vùng kinh tế trọng điểm, thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp lúa nước, công nghiệp, giao thông vận tải đi các nơi trong
Phân tích bản đồ trang 11 Atlat học sinh rút ra nhận xét về đặc điểm
và sự phân bố các loại đất ở Đồng bằng sông Cửu Long.
- Dân cư trong vùng đứng thứ hai trong cả nước, sau vùng Đồng
bằng sông Hồng. Ngoài người Kinh còn có người Khơ Me, người
Chăm, người Hoa cùng sinh sống và xây dựng kinh tế của vùng. Tuy
nhiên trình độ dân trí chung của vùng chưa cao bằng vùng Đồng bằng
sông Hồng, tỷ lệ dân thành thị còn thấp.
- Đây cũng là vùng kinh tế phát triển toàn diện, tuy nhiên nông
nghiệp vẫn là thế mạnh của vùng, nơi xuất khẩu gạo cao nhất nước ta.
Tương tự ta có thể hướng dẫn học sinh tìm hiểu các vùng
kinh tế khác dựa vào các trang bản đồ trong Atlat như Vùng Bắc
trung Bộ, Vùng Duyên hải nam trung Bộ.
Tóm lại khi phân tích tình hình phát triển kinh tế - xã hội mỗi
vùng chúng ta phải xác định xem nên sử dụng bản đồ nào, từ đó ta
khai thác kiến thức gì theo trình tự : Đặc điểm tự nhiên, xã hội, tình
hình phát triển kinh tế của mỗi vùng . Mỗi kiến thức địa lí tự nhiên,
kinh tế - xã hội của từng vùng nói riêng và cả nước nói chung đều
chứa đựng trong các trang bản đồ của Atlat. Mỗi ước hiệu đều nói lên
một kiến thức địa lí, giáo viên cần cho học sinh tìm hiểu kỹ ngôn ngữ
của bộ môn Địa lí mà các em cần ghi nhớ chính là các ký hiệu, ước
hiệu này.
Như vậy từ nội dung sách giáo khoa kết hợp đọc bản đồ trong
Atlat, học sinh nhận thức sâu hơn, rộng hơn những nội dung học sinh
cần lĩnh hội, giúp cho học sinh trong quá tring ôn tập đỡ phải ghi nhớ
máy móc, không cần học thuộc lòng những kiến thức mà có thể tìm
ngay trong bản đồ, các em có thời gian để luyện kỹ năng vận dụng
kiến thức để làm bài, trình bày bài, và làm các bài tập thực hành.
III. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM, HIỆU QUẢ CỦA
ĐỀ TÀI:
15
11 HS
= 20,7%
7 HS
= 13,2%
12C8 54 6 HS
= 11,1%
26 HS
= 48,1%
14 HS
= 25,9%
8 HS
= 14,9%
12C9 51 6 HS
= 11,7%
24 HS
= 47,0%
15 HS
= 29,6%
6 HS
= 11,7%
Kết quả của các lớp sau khi áp dụng đề tài.
Lớp Sỉ số lớp Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm Yếu
- kém
12C7 50 11 HS
= 22,0%
31 HS
= 62,0%
6 HS
= 12,0%
2 HS
Qua áp dụng đề tài này tôi đã rút ra được những bài học thiết
thực như sau:
1- Khi hướng dẫn học sinh sử dụng Atlat để ôn tập cần đảm bảo
những yêu cầu sau:
- Sử dụng những bản đồ phải có nội dung phù hợp với kiến thức
cần tìm hiểu trong bài .
- Khi phân tích bản đồ cần phải chú ý đọc đúng các ước hiệu, ký
hiệu, mầu sắc và hình dáng kích thước để phân tích mới đảm bảo tính
chính xác, khoa học.
- Khi phân tích bản đồ phải tìm tòi các chi tiết, không bỏ sót một
dữ kiện nào trên bản đồ. Cần chú ý nghiên cứu kỹ các biểu đồ, và các
chú thích kèm theo để nắm vững cả những chi tiết nhỏ nhất.
- Khi hướng dẫn học sinh phải yêu cầu học sinh sử dụng bản đồ
nào, trang nào cho phù hợp với nội dung bài học?
- Phải phân tích từng dữ kiện nào có đặc điểm gì nổi bật? Cần
khai thác bản đồ, lược đồ hay biểu đồ nào để tìm hiểu kiến thức của
bài?
- Khi hướng dẫn học sinh ôn tập cần gắn liền với nội dung kiến
thức đã học trên lớp, gắn liền với các câu hỏi ôn tập. Đông thời phải
thường xuyên kiểm tra khả năng khai thác Atlat của học sinh khi ôn
thi.
2- Trình tự khi khai thác bản đồ trong Atlat:
17
Để phát huy được vai trò quan trọng của tập Atlat cho học sinh
ôn tập môn Địa lí, thì việc phân tích khai thác phải có trình tự, phải
biết khai thác những chi tiết nào, những yếu tố nào và trên bản đồ nào
là phù hợp nhất. Tuỳ theo từng bài cụ thể ta có thể sử dụng một hay
nhiều trang bản đồ để phục vụ cho việc tìm kiếm thông tin thật khoa
học, chính xác. Vì vậy khi hướng dẫn học sinh khai thác atlat cần theo
trình tự sau:
18
- Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, đòi hỏi giáo
viên phải luôn luôn cải tiến các phương pháp giảng dạy so với các
phương pháp trước đây, để tăng tính hấp dẫn với học sinh. Ngược lại,
nếu trong ôn thi tốt nghiệp giáo viên chỉ trình bày theo kiểu thuyết
trình, rồi yêu cầu các em học thuộc vừa mệt thầy, học sinh không
thích, mất tập trung, ngủ gật trong giờ học, bỏ giờ… mà rất dễ nhầm
lẫn kiến thức khi làm bài thi, không thúc đẩy tính độc lập sáng tạo của
trò, hiệu quả ôn tập thấp.
II. Kiến nghị:
Đổi mới phương pháp day học nói chung và đổi mới việc sử
dụng Atlat trong ôn thi tốt nghiệp nói riêng trong dạy học địa lí ở
trường THPT là một yêu cầu cần thiết hiện nay, có tích cực hướng dẫn
học sinh sử dụng đồ dùng trực quan ( Atlat) thì mới nâng cao hiệu quả
học tập của môn địa lí. Từ đó bản thân tôi đưa ra một số kiến nghị sau
1. Các thầy cô giáo cần tích cực hướng dẫn học sinh sử dụng
Atlat không những trong ôn thi tốt nghiệp mà trong dạy học môn đại lí
nói chung để học tập môn Địa lí đạt hiệu quả cao.
2. Trong quá trình ôn tập giáo viên giao những câu hỏi liên quan
đến Atlát để học sinh tự ôn tập ở nhà, nhưng giáo viên phải kiểm tra
mức độ hoàn thành của học sinh, cần phải chấm bài bổ sung kiên thức
còn thiếu cho học sinh.
3. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho việc dạy học
môn đại lí như mua thêm Atlat để thư viện nhà trường thuận tiện trong
viếc sử dụng.
4. Đầu tư xây dựng phòng bộ môn để thuận tiện trong việc trình
chiếu các bản đồ, biểu đồ…
4. Sở GD&ĐT cần mở các lớp tập huấn cho giáo viên kỹ năng
sử dựng Atlat trong dạy học. Tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề về
sử dụng Atlát Việt Nam để GV các trường cùng trao đổi kinh nghiệm,
- Các tài liệu khác
21
MỤC LỤC
Trang
PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ : LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1
I - Cơ sở lý luận
1
II - Cơ sở thực tiễn
2
II. Mục đích nghiên cứu:
2
III. Kết quả cần đạt được:
3
IV. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
3
PHẦN II - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN CÁC KỸ
NĂNG CHO HỌC SINH TRONG ÔN THI TỐT NGHIỆP 12
I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA ATLAT ĐỊA LÍ VIỆT NAM
TRONG VIỆC ÔN THI TỐT NGHIỆP 12
3
1. Cấu trúc của Atlat Địa lí Việt Nam do nhà xuất bản Giáo dục phát
hành 3
năm 2012.
3
2. Tầm quan trọng của Atlat Địa lí Việt Nam
4
II. PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN CÁC KỸ NĂNG CHO HỌC
II- Kiến nghị
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
17
MỤC LỤC
18
23