SỬ DỤNG ATLAT ĐỊA LÍ VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC
ĐỊA LÍ LỚP 8,9
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Lí do chọn đề tài
Trước yêu cầu mới của đất nước ta trong sự nghiệp công hoá - hiện đại hoá đã
và đang đặt ra cho ngành Giáo dục và Đào tạo là phải nâng cao chất lượng dạy và
học, nhằm tạo ra được những sản phẩm của ngành "vừa hồng, vừa chuyên" để xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm cho đất nước ngày càng giàu mạnh, đưa đất nước ta
"sánh vai với các cường quốc năm châu" như Bác Hồ đã từng mong muốn. Chính
vì thế, trong những năm gần đây Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngành Giáo dục của địa
phương đã phát động các phong trào thi đua và các cuộc vận động lớn, trong đó
“đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển
năng lực” đặc biệt được quan tâm đẩy mạnh đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới
của đất nước, trong thời đại công nghệ thông tin, thời đại nền kinh tế thị trường,
thời đại của xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá nền kinh tế, nhằm đưa nền kinh tế
- xã hội nước ta hoà nhập nhanh với nền kinh tế - xã hội của khu vực Đông Nam Á
và trên thế giới.
Atlat địa lý Việt Nam đã được xuất bản từ những năm 1990, đã được chỉnh sửa
và tái bản nhiều lần cho phù hợp với chương trình Địa lí từ lớp 8 đến lớp 12. Atlat
là nguồn kiến thức đa dạng phong phú giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy
học, hỗ trợ học sinh học bài cũ, nghiên cứu bài mới. Cho chúng ta biết: qui mô, cơ
cấu, tình hình phát triển, phân bố, mối quan hệ nhân- quả của các đối tượng địa lí.
Sử dụng bản đồ (Atlat) là phương pháp dạy học đặc trưng của môn Địa lí đem lại
hiệu quả cao, song cho đến nay việc sử dụng atlát trong dạy - học ở các nhà
trường, đặc biệt là các trường vùng sâu vùng xa còn một số hạn chế: Giáo viên ít
quan tâm, ít yêu cầu học sinh sử dụng Atlat; Chưa khai thác tối đa các nội dung
kiến thức của Atlat; Kĩ năng sử dụng Atlat của đa số học sinh còn hạn chế.
Mặt khác, trong atlat có những bản đồ địa lí mà sách giáo khoa không có, số liệu
được cập nhật mới và đáng tin cậy. Việc sử dụng atlat sẽ hỗ trợ đắc lực cho giáo
viên trong quá trình giảng dạy. Đối với học sinh, kĩ năng sử dụng tốt atlat ở bậc
Trung học cơ sở là nền tảng để các em học tập tốt trong chương trình địa lí bậc
- Yếu tố kinh tế, xã hội: dân cư, hành chính, các ngành kinh tế, các vùng
kinh tế.
* Trong một trang bản đồ của Atlat còn thể hiện:
- Hình thể của cả nước, một vùng hay hai vùng liền kề nhau.
- Một số biểu đồ như dân số qua các năm, cơ cấu, mật độ dân số, hay biểu
đồ biểu hiện giá trị sản xuất các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, công
nghiệp…
- Một số hình ảnh quan trọng của những địa phương, sản xuất kinh tế,
hoạt động văn hoá…
2.2. Phạm vi áp dụng
Đề tài này đi sâu nghiên cứu phương pháp sử dụng Atlat địa lí Việt Nam trong
dạy học môn Địa lí lớp 8,9.
Trong chương trình Địa lí lớp8, 9 có nhiều nội dung, nhưng trong đề tài này sử
dụng Atlat vào một số nội dung chính sau:
1.Sử dụng Atlat để khai thác kiến thức mới
2.Sử dụng Atlat để kiểm tra đánh giá
3.Sử dụng Atlat để bồi dưỡng học sinh giỏi
Học sinh lớp 8,9 khả năng tư duy chưa cao như học sinh trung học phổ thông
nên tôi chỉ dừng lại ở mức độ rèn cho các em kĩ năng khai thác thấp và trung bình.
Tùy theo khả năng và ý tưởng giảng dạy và trình độ của học sinh tại đơn vị mà
giáo viên có thể nghiên cứu và sử dụng, kết hợp với các phương pháp khác sao cho
phù hợp, hiệu quả.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận
Điều 23 Luật giáo dục nước ta quy định mục tiêu giáo dục phổ thông là: "Giúp
học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng
cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây
dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc
không thể thiếu khi học môn Địa lí.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
2.1. Sử dụng Atlat địa lí Việt Nam để khai thác kiến thức mới
a. Mục tiêu:
- Rèn cho học sinh một số kĩ năng cơ bản: tìm đối tượng địa lí, xác định quy mô,
sự phân bố các đối tượng địa lí, phân tích các mối quan hệ nhân quả,…
- Rèn cho học sinh nhiều kĩ năng và khả năng tư duy, sử dụng số liệu, biểu đồ
trong Atlat.
b. Cách sử dụng:
* Để giúp học sinh nhanh chóng sử dụng được Atlat vào việc học bài, trả lời các
câu hỏi và làm các bài tập địa lí, giáo viên cần hướng dẫn học sinh nắm vững
những yêu cầu sau:
- Tìm hiểu, nắm chắc các kí hiệu chung (ở trang bìa) gồm các kí hiệu về tự
nhiên, kinh tế công nghiệp, nông nghiệp (nông, lâm, thuỷ sản)….. để khi sử dụng
đỡ mất thời gian tra cứu.
- Nắm vững các kí hiệu ở các bản đồ chuyên ngành thông qua (nền chất
lượng) màu sắc thể hiện của kí hiệu (Ví dụ: các miền khí hậu, các vùng khí hậu
… trong bản đồ khí hậu; các nhóm và các loại đất chính trong bản đồ đất đai….)
- Biết cách khai thác các biểu đồ từng ngành (cho các bài học liên quan) như:
các loại biểu đồ hình tròn, hình cột, biểu đồ đường …. để nhận xét về tình hình
phát triển, tổng sản lượng của các ngành, xu hướng phát triển của ngành….Biết
cách tính toán diện tích, năng suất, sản lượng một số ngành sản xuất qua biểu đồ.
- Nắm được cách phân tích Atlat: Atlat cho biết: Quy mô, cơ cấu, phân bố,
mối quan hệ nhân- quả, tình hình phát triển
- Khai thác tối đa những nội dung của Atlat có liên quan đến bài học
Ví dụ: Bài 31: Đặc điểm khí hậu Việt Nam
qua lược đồ địa hình trong sách giáo khoa, căn cứ vào đó để nhận biết lại trong
Atlat.
- Khi làm bài thi địa lí học sinh cần biết sử dụng kết hợp giữa Atlat địa lí và
vốn kiến thức đã học. Dựa vào Atlat địa lí sẽ thấy được những kiến thức về sự
phân bố cụ thể, mối quan hệ về không gian lãnh thổ của các sự vật hiện tượng địa
lí ... và các em đỡ phải mất công ghi nhớ máy móc.
Nhưng nếu chỉ dựa vào Atlat địa lí thì nhiều kiến thức về tình hình phát triển,
nguyên nhân phát triển, về đường lối, chính sách, kinh nghiệm và truyền thống sản
xuất của dân cư …. không được đề cập một cách đầy đủ và hợp lí.
* Khi hướng dẫn học sinh sử dụng Atlat, giáo viên cần đưa ra các loại câu hỏi từ
dễ đến khó để học sinh làm quen dần và hình thành được các kĩ năng sử dụng Atlat
cho học sinh
Ví dụ 1: ở bài 23, mục 1. Vị trí và giới hạn lãnh thổ (SGK Địa lí 8)
- Giáo viên: hướng dẫn học sinh quan sát lược đồ hành chính trang 4,5 (Atlat Việt
Nam) để xác định các điểm cực bắc, nam, đông, tây và xác định tọa độ dựa vào hệ
thống kinh, vĩ tuyến.
- Học sinh:
+ Xác định được vị trí Việt Nam, các điểm cực trên phần đất liền...
+ Xác định được các tỉnh thành giáp biển.
Ví dụ 2: ở bài 23, mục 1. Vị trí và giới hạn lãnh thổ (SGK Địa lí 8)
- Giáo viên: Hướng dẫn HS sử dụng Atlat trang hành chính (trang4, 5) để nêu: các
đặc điểm của vị trí địa lí Việt Nam.
- HS: Dựa vào Atlat kết hợp với kiến thức đã học học sinh dễ dàng nêu được 3 đặc
điểm của vị trí địa lí phần lãnh thổ trên đất liền của nước ta:
+ Toạ độ địa lí phần phần đất liền của nước ta (kinh độ, vĩ độ là bao nhiêu; địa
danh của các địa phương có các điểm cực đó).
+ Dựa vào lược đồ Việt Nam trong Đông Nam Á trong Atlat -> sẽ thấy Việt
Nam nằm ở phía của bán đảo Đông Dương gần trung tâm Đông Nam Á
Thuộc tỉnh
Quy mô
Cơ cấu ngành
Việt Trì
Phú Thọ
Vừa
Khai thác sắt, hoá chất, vật liệu xây
dựng, dệt may, giấy, chế biến nông
sản.
Thái Nguyên
Thái Nguyên Vừa
Khai thác sắt, luyện kim đen, luyện
kim màu, cơ khí, vật liệu xây dựng.
Cẩm Phả
Quảng Ninh Nhỏ
Cơ khí, nhiệt điện, khai thác than.
Hạ Long
Quảng Ninh Vừa
Cơ khí, nhiệt điện, vật liệu xây dựng,
đóng tàu, chế biến.
+ Nhận xét sự phân bố các trung tâm công nghiệp: Phân bố ở vùng trung du,
nơi có địa hình thấp, vị trí địa lý thuận lợi để giao lưu với bên ngoài (Đồng bằng
sông Hồng, các vùng khác, nước ngoài), sẵn nguồn nguyên liệu, nguồn lao động,
thị trường tiêu thụ.
+ Các cửa khẩu: Móng Cái (Quảng Ninh), Hữu Nghị (Lạng Sơn), Tà Lùng, Trà
Lĩnh (Cao Bằng), Thanh Thủy (Hà Giang), Mường Khương (Lào Cai), Ma Lu
Thàng (Lai Châu), Tây Trang (Điện Biên), Pa Háng (Sơn La).
2.3. Sử dụng Atlat địa lí Việt Nam để kiểm tra đánh giá
a. Mục tiêu:
- Kiểm tra một số kĩ năng vận dụng của học sinh: tìm đối tượng địa lí, xác định đối
* Ví dụ 2: dựa vào Atlat địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, trình bày sự phát
triển và phân bố ngành thuỷ sản nước ta. (chủ đề Địa lí kinh tế– lớp 9)
- Về tình hình chung:
+ Khai thác các số liệu về tổng sản lượng thuỷ sản năm 2000, 2005, 2007 sẽ nêu
được sự phát triển đột phá của ngành thuỷ sản.
+ Chia tổng sản lượng thuỷ sản cho dân số sẽ thấy số lượng thuỷ sản trên đầu
ngưòi là khá lớn ......
+ Dựa vào số liệu biểu đồ tính tốc độ tăng trưởng của thuỷ sản nuôi trồng, thuỷ
sản khai thác sẽ thấy -> nuôi trồng thuỷ sản ngày càng chiếm tỉ trọng cao trong cơ
cấu ngành thuỷ sản.
- Khai thác thuỷ sản:
+ Sử dụng số liệu ở biểu đồ về khai thác thuỷ sản năm 2000 (1660,9 nghìn tấn),
2007 (2074,5 nghìn tấn), sẽ nêu được về sự phát triển, tính số lần tăng thêm về sản
lượng khai thác sẽ nêu đựơc về mức độ tăng trưởng của ngành khai thác thuỷ sản.
+ Dựa vào lược đồ khai thác thuỷ sản sẽ trình bày được về phân bố -> tất cả các
tỉnh giáp biển đề đẩy mạnh đánh bắt thuỷ sản, nhưng tập trung nhất là các tỉnh
Duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Các tỉnh dẫn đầu là Kiên Giang, Bà Rịa –
Vũng Tầu, Bình Thuận, Cà mau.
- Nuôi trồng thuỷ sản:
+ Sử dụng số liệu ở biểu đồ về nuôi trồng thuỷ sản năm 2000 (589,6 nghìn tấn),
2007 (2123,3 nghìn tấn), sẽ nêu được về sự phát triển, tính số lần tăng thêm về sản
lượng nuôi trồng sẽ nêu đựơc về mức độ tăng trưởng của ngành nuôi trồng thuỷ
sản.
+ Nhiều loài thuỷ sản đã trở thành đối tượng nuôi trồng, nhưng quan trọng hơn
cả là nuôi tôm và nuôi cá nước ngọt.
+ Dựa vào lược đồ khai thác thuỷ sản sẽ trình bày được về phân bố -> nghề nuôi
tôm, nuôi cá nước ngọt tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long, sau đó là đồng bằng
sông Hồng .........
Tính chất ẩm:
+ Bản đồ lượng mưa trung bình năm trong Atlat cho thấy hầu khắp mọi nơi trên
lãnh thổ nước ta đều có lượng mưa lớn, từ 1600 mm trở lên, tại các sườn núi đón
gió (Sa Pa, Kon Tum …) lượng mưa rất lớn trên 2800 mm.
+ Kiến thức trong bài học -> độ ẩm không khí cao trên 80%, cân bằng ẩm luôn
dương.
Gió mùa: Bản đồ khí hậu chung trong Atlat cho thấy trên lãnh thổ nước ta có sự
hoạt động của các loại gió hướng và tính chất thay đổi theo mùa.
+ Gió tháng I (gió mùa mùa đông) có hướng đông bắc, gắn với mùa ít mưa và
mùa đông lạnh ở miền Bắc.
+ Gió tháng VII (gió màu mùa hạ) hướng gió tây nam, gắn với mùa mưa và
nóng ở 2 miền Bắc và Nam. Riêng vùng duyên hải Trung Bộ do tác động của địa
hình, gió mùa mùa hạ đầu mùa sau khi vượt qua dãy núi Trường Sơn trở thành gió
phơn khô nóng, tạo nên mùa khô kéo dài cho vùng này.
Như vậy dựa vào Atlat địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, với sự hướng dẫn
của giáo viên học sinh dễ dàng chứng minh được các đặc điểm của khí hậu Việt
Nam.
=> Vậy qua bài tập này học sinh rèn luyện được các kĩ năng phân tích tổng hợp, tư
duy sáng tạo.
* Ví dụ 3: Chủ đề Sự phân hóa lãnh thổ (địa lí 9)
Dựa vào Atlat địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy giải thích vì sao Đông Nam
Bộ là vùng có giá trị sản sản xuất công nghiệp lớn nhất cả nước?
- Giáo viên hướng dẫn: Giải quyết câu hỏi này học sinh cần dựa vào nhiều trang
Atlat kết hợp với các kiến thức đã học, để khai thác những nhân tố thuận lợi về vị
trí địa lí, tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng với phát triển công nghiệp.
+ Trang bản đồ các vùng kinh tế cho thấy Đông Nam Bộ có vị trí bản lề, tiếp
giáp Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ, liền kề Đồng bằng sông Cửu Long
…. ; trang bản đồ giao thông cho thấy mạng lưới giao thông của vùng rất phát
triển, có các cảng biển sân bay lớn nhất nước, là đầu mối giao thông vận tải quan
THCS Thiện Tân đều có một cuốn Atlat địa lí Việt Nam để sử dụng.
- Giúp các em phát huy tính tự giác, tìm tòi nghiên cứu và rèn một số kĩ năng cơ
bản: Nhận biết, chỉ và đọc các đối tượng địa lý trên bản đồ; Xác định phương
hướng trên bản đồ; Xác định toạ độ địa lý trên bản đồ; Xác định khoảng cách trên
bản đồ; Xác định vị trí địa lý trên bản đồ; Phát hiện các mối quan hệ địa lý;…
trong học tập, tạo điều kiện cho dạy học theo phương pháp mới có hiệu quả và các
em đạt thành tích cao trong học tập bộ môn địa lí.
- Từ kĩ năng sử dụng atlat địa lí Việt Nam học sinh có thể áp dụng để sử dụng atlat
địa lí Thế giới (Tập bản đồ thế giới).
- Sau thời gian 3 năm áp dụng (từ năm học 2013-2014 đến nay) đề tài này, tôi thu
được kết quả như sau:
+ Mức độ nhận thức cao nghĩa là các em có khả năng thực hiện tốt một số kĩ
năng cơ bản để khai thác.
+ Mức độ nhận thức trung bình nghĩa là các em có khả năng thực hiện khá tốt
một số kĩ năng cơ bản để khai thác.
+ Mức độ nhận thức trung bình nghĩa là các em có khả năng thực hiện chưa tốt
một số kĩ năng cơ bản để khai thác.
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ, KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
1. Kết luận
Trong chương trình Địa lí lớp8, 9 có nhiều nội dung, nhưng trong đề tài này sử
dụng Atlat vào một số nội dung chính sau:
1. Sử dụng Atlat để khai thác kiến thức mới
2. Sử dụng Atlat để kiểm tra đánh giá
3. Sử dụng Atlat để bồi dưỡng học sinh giỏi
Trong quá trình thực hiện đề tài “Sử dụng Atlat địa lí Việt Nam trong dạy học
môn Địa lí 8,9”. Tôi vẫn gặp một số khó khăn:
- Học sinh lớp 8, 9 tuy là lớp lớn trong bậc THCS nhưng khả năng tư duy của các
Hà nội
3. Bộ giáo dục và đào tạo (2014), Sách giáo khoa địa lí 9, Nhà xuất bản giáo dục,
Hà nội
4. GS.TS Lê Thông &nnk (2008), Hướng dẫn học và khai thác Atlat địa lí Việt
Nam, Nhà xuất bản Đại học quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Cục đồ bản Việt Nam (2014), Atlat địa lí Việt Nam, Nhà xuất bản giáo dục, Hà
Nội
PHÒNG GD&ĐT VĨNH CỬU
TRƯỜNG THCS THIỆN TÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Vĩnh Cửu, ngày
tháng
năm 2015
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2015-2016
Tên sáng kiến kinh nghiệm: “Sử dụng Atlat địa lí Việt Nam trong dạy học Địa lí
lớp 8,9”
Họ và tên tác giả: Trần Thị Bích Thanh
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: trường THCS Thiện Tân
Lĩnh vực:
- Quản lí giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn
Tốt
khá
Đạt
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ