STT Nội dung Trang
1 Phần thứ nhất: ĐẶT VẤN ĐỀ 3
2 1.Lý do chọn SKKN 3
3 2.Thời gian thực hiện và triển khai SKKN 4
4
Phần thứ 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
5
5 1. Cơ sở lí luận 5
6
2.Một số vấn đề chung của phương pháp đạy học theo nhóm
6
7 3. Thực trạng của việc vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào
dạy Sinh học ở trường THPT hiện nay
10
8 4. Ứng dụng dạy học thảo luận nhóm vào thiết kế phiếu học tập
trong dạy học Sinh học 10
12
9
5.
Thực nghiệm giảng dạy 15
10
6. Kết quả áp dụng của sáng kiến
23
11
KẾT LUẬN
24
12 1. Ý nghĩa của SKKN 24
13
2. Bài học kinh nghiệm
24
14
phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại, trong đó
có phương pháp thảo luận nhóm. Phương pháp này giúp người học tự giác, tích
cực, chủ động tiếp thu kiến thức. Với cách dạy học này, học sinh có nhiều điều
kiện bộc lộ những suy nghĩ của mình, tạo không khí học tập sôi nổi, kích thích
tất cả học sinh tham gia vào quá trình học tập; đồng thời đáp ứng mục tiêu giáo
dục đề ra: “lấy học sinh làm trung tâm”. Vận dụng phương pháp thảo luận
nhóm vào dạy học Sinh Học 10 cũng là tìm đến một phương pháp dạy học mới
3
để giờ học Sinh Học đạt hiệu quả phát huy tính chủ động của học sinh, góp phần
nâng cao chất lượng dạy – học. Trên đây là những lý do khiến tôi quyết định
nghiên cứu Sáng Kiến: ‘Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học
sinh học 10.’’
2. Thời gian thực hiện và triển khai SKKN
Sáng kiến được nghiên cứu từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 4 năm 2014.
4
Phần thứ 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận
Với thuyết mâu thuẫn nhận thức xã hội đã cho rẳng: Trong khi tương
tác cùng nhau , mâu thuẫn nhận thức xã hội xuất hiện đã tạo ra sự mất cân
bằng về nhận thức giữa mọi người, Các cuộc tranh luận được diễn ra liên
tục và được giải quyết. Trong quá trình dó những lí lẽ lập luận chưa đầy đủ
sẽ được bổ sung và điều chỉnh. Như vậy học là một quá trình xã hội, trong
quá trình đó con người luôn đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn nhận thức.
Hay như PGS. TS Nguyễn Hữu Châu đã khái quát học là quá trình cá nhân
tự kiến tạo kiến thức cho mình nhưng đó là những kiến thức thông qua
tương tác với những cá nhân khác, với xã hội và thực tiễn mà có, Từ quan
niệm về việc học, quan niệm về hoạt động dạy và phương pháp dạy học
cũng thay đổi. Hoạt động dạy học là hoạt động cuả giáo viên nhằm tổ chức
và hướng dẫn hoạt động học của người học, để họ tự khám phá và thực hiện
nhiệm vụ học tập. Học tập chịu sự tác động của các tác nhân nhận thức xã
2.Một số vấn đề chung của phương pháp dạy học theo nhóm.
2.1 Khái niệm
Thảo luận nhóm là một phương pháp dạy học xuất hiện từ những năm 70
của thế kỷ 20, ở trường Đại học Sư phạm của một số nước tiên tiến, bắt đầu từ
môn học “Năng động tập thể” (Group dynanies) - một môn học dạy cho sinh
viên kỹ năng làm việc tập thể. Dần dần, môn học này chuyên rèn luyện kỹ năng
làm việc theo nhóm, từ đó hình thành nên phương pháp thảo luận trong dạy học
ở tất cả các cấp học. Ở Việt Nam, phương pháp này được áp dụng rộng rãi trong
dạy học từ những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI.
Theo tác giả Nguyễn Văn Cường “Dạy học nhóm là một hình thức xã hội
của dạy học, trong đó học sinh của lớp học được chia thành các nhóm nhỏ
trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ
học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của nhóm
sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp.” [1, 98]. Tác giả Phan
Trọng Ngọ cũng cho rằng: “Thảo luận nhóm là phương pháp trong đó nhóm
lớn (lớp học) được chia thành những nhóm nhỏ để tất cả các thành viên trong
6
lớp đều được làm việc và thảo luận về một chủ đề cụ thể và đưa ra ý kiến
chung của nhóm mình về vấn đề đó.” [6, 223]. Thống nhất với các quan điểm
trên, Nguyễn Trọng Sửu trong công trình “Dạy học nhóm – phương pháp dạy
học tích cực” viết: “Dạy học nhóm là một hình thức của xã hội học tập, trong
đó học sinh của một lớp được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời
gian nhất định, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở
phân công và hợp tác làm việc, kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình
bày và đánh giá trước lớp.”[7, 21].
Từ các định nghĩa trên, chúng ta có thể đi đến kết luận: thảo luận nhóm là
một phương pháp dạy học hiện đại, lấy người học làm trung tâm.Với phương
pháp này, người học được làm việc cùng nhau theo các nhóm nhỏ và mỗi một
thành viên trong nhóm đều có cơ hội tham gia vào giải quyết các nhiệm vụ học
tập trong một khoảng thời gian nhất định dưới sự hướng dẫn, lãnh đạo của giáo
đề thảo luận. Vấn đề phù hợp với phương pháp thảo luận nhóm là vấn đề có tính
chất tranh luận. Một vấn đề có tính tranh luận là vấn đề có nhiều cách lí giải, suy
tưởng, đôi khi có mâu thuẫn. Sự thành công của thảo luận nhóm là giáo viên đưa
ra được các vấn đề thú vị, thách thức học sinh trả lời, buộc học sinh cùng nhau
hợp tác để tìm ra câu trả lời. Tiếp theo, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm và đọc
tài liệu liên quan đến vấn đề thảo luận. Tài liệu bao gồm sách giáo khoa và các
tài liệu khác sách tham khảo, phim ảnh…Sau cùng, giáo viên tiến hành phân
nhóm. Việc thành lập nhóm (số lượng nhóm và thành viên trong nhóm) dựa trên
số lượng học sinh trong lớp và nội dung bài học. Số lượng thành viên trong
nhóm tối ưu là từ 4 đến 7 người. Cách chia nhóm có thể hoàn toàn ngẫu nhiên,
hoặc tùy theo tiêu chuẩn của giáo viên.
Khi học sinh thảo luận nhóm, giáo viên di chuyển chung quanh các
nhóm, im lặng quan sát các nhóm làm việc. Khi học sinh gặp khó khăn, bế tắc
hay tranh luận ngoài đề, giáo viên kịp thời can thiệp, hướng dẫn nhóm ra khỏi
bế tắc hoặc quay lại vấn đề đang thảo luận. Hướng dẫn ở đây là đưa ra vài chi
tiết liên quan đến giải pháp, đặt lại câu hỏi cho sáng rõ hơn chứ không đưa ra
giải pháp. Nếu nhóm im lặng quá lâu do hết ý hay không ai có ý kiến, giáo
viên tìm hiểu lí do và đặt câu hỏi cho học sinh trả lời. Trường hợp trong nhóm
8
có thành viên “ngôi sao” hoặc có thành viên quá nhút nhát, giáo viên khéo léo
giải quyết vấn đề bằng cách cho rằng ý kiến của thành viên nổi trội là đáng
ghi nhận nhưng giáo viên muốn nghe ý kiến của học sinh nhút nhát.
Cuối buổi thảo luận, nhiệm vụ của giáo viên là nhận xét, bổ sung, định
hướng đúng vấn đề, ghi nhận đóng góp của nhóm, cho điểm.
b. Nhiệm vụ của học sinh
Học sinh phải chuẩn bị ý kiến cho vấn đề thảo luận, tham gia thảo luận.
Nếu ý kiến trùng với ý kiến của bạn đã đề cập trước thì học sinh cần phải bổ túc
thêm hay đưa ra một ý khác. Học sinh bảo vệ ý kiến của mình bằng những dẫn
chứng thuyết phục nếu ý kiến của bản thân khác với ý kiến của cả nhóm và phải
chấp nhận ý kiến đúng đắn. Trong khi thảo luận, học sinh cần ghi chép những ý
Bên cạnh những ưu điểm, thảo luận nhóm cũng có những nhược điểm cần
phải khắc phục:
Thời gian học tập trên lớp bị bó hẹp ở tiết học (45 phút/ tiết), nên giáo viên
sử dụng không khéo sẽ không cung cấp hết nội dung bài học vì phương pháp
này rất mất thời gian.
Do phải tập hợp học sinh thành những nhóm, giáo viên không nói rõ cách
chuẩn bị nhóm trước thì lớp học sẽ rối loạn hoặc mất trật, bị lãng phí nhiều thời
gian.
Nếu trình độ học sinh trong nhóm không đều nhau thì những học sinh giỏi,
khá sẽ lấn lướt những học sinh trung bình, yếu. Các em trung bình, yếu sẽ không
có những điều kiện nói lên ý kiến riêng của mình. Từ đấy, các em sẽ mặc cảm,
bất mãn, lơ là và không chú ý vào buổi thảo luận.
Số lượng học sinh trong lớp quá đông (mỗi lớp khoảng 45 HS) cũng gây
những khó khăn cho việc vận dụng thảo luân nhóm vào việc dạy và học.
3. Thực trạng của việc vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào dạy
Sinh học ở trường THPT hiện nay.
Trong những năm gần đây, phương pháp thảo luận nhóm được giáo viên
trên cả nước sử dụng trong nhiều giờ dạy Sinh học ở các trường trung học phổ
10
thông. Khi dự giờ các tiết học có sử dụng phương pháp này, chúng tôi thấy có
những tiết dạy thành công do giáo viên vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy
học trong đó có phương pháp thảo luận nhóm. Song cũng có một số tiết dạy
chưa thật sự thành công khi vận dụng phương pháp này.
3.1 Về phía giáo viên
Khi vận dụng phương pháp thảo luận nhóm, giáo viên còn lúng túng ở một
số thao tác sau:
Thao tác lựa chọn vấn đề thảo luận: việc lựa chọn vấn đề thảo luận chưa
mang tính chất tranh luận, hấp dẫn nên chưa khơi dậy tính tích cực của học sinh.
Việc lựa chọn vấn đề thảo luân là khâu then chốt quyết định sự thành bại của
phương pháp này. Vấn đề không hay, quá dễ hoặc quá khó không phù hợp với
Vì những hạn chế trên mà phương pháp thảo luận nhóm thường được vận
dụng mang tính hình thức, đối phó, chủ yếu trong các giờ hội giảng, hầu như rất
ít được vận dụng trong những giờ học bình thường. Mặt khác, thảo luận nhóm
là phương pháp mất nhiều thời gian mà quỹ thời gian dành giờ dạy lại hạn chế
và số lượng học sinh trong lớp quá đông cũng là nguyên nhân dẫn đến việc giáo
viên ít vận dung phương pháp này.
4. Ứng dụng dạy học thảo luận nhóm vào thiết kế phiếu học tập trong
dạy học Sinh học 10
Thiết kế phiếu học tập cho hoạt động dạy học thảo luận để dạy bài số 3
đến bài số 6 SGK sinh học 10. Do trình độ nhận thức của học sinh ở các lớp là
không đồng đều nhau, do đó trong quá trình giảng dạy giáo viên cần lưu ý:
Cách thiết kế phiếu học tập cho hoạt động thảo luận nhóm phù hợp với đối
tượng học sinh. Để bài giảng thu
được
kết quả cao nhất. Sau đây tôi xin
đưa
ra
một số mẫu phiếu thảo luận trong dạy học
chương
I phần II sinh học tế bào -
sinh học 10 cơ bản cho hai đối tượng
học sinh trung bình( Tb) - yếu và trung
bình khá - khá.
4.1. Thiết kế phiếu học tập cho bài số 3- Các nguyên tố hóa học.
Phần II- Nước và vai trò của nước trong tế bào sống
a. Phiếu thảo luận nhóm cho học sinh Tb - yếu:
Hãy đọc sách giáo khoa và hoàn thành phiếu học tập sau:
12
Phân tử
đôi?
Đường
đa?
b. Phiếu thảo luận nhóm cho học sinh tb khá- khá: Đọc SGK và hoàn thiện
bảng sau:
Nội dung
Đường
Đặc điểm Số lượng đơn phân Chức năng
Đơn
Đôi
Đa
Hoặc GV có thể sử dụng phiếu học tập sau:
Các loại lipit Cấu tạo Chức năng
Mỡ
Photpholipit
Sterôit
Sắc tố và vitamin
4.3.Thiết kế phiếu học tập cho bài số 5: Prôtêin
Phiếu thảo luận nhóm giành cho học sinh Tb-Yếu
Hãy đọc SGK và hoàn thành phiếu học tập sau:
Phiếu số 1
Prôtêin có cấu tạo theo nguyên tắc… (1)…., các đơn phân là các… (2)
… Liên kết với nhau tạo thành … (3)… Sự đa dạng của prrotêin do sự
13
khác nhau về… (4)…. và … (5)… các axit amin. Do vậy chúng có … (6)
… và … (7)…. khác nhau.
Ph i
ếu số 2.
- Cấu trúc bậc một của prôtêin gồm….(1) chuỗi polipeptit dạng mạch… (2)…
………………
………………
………………
………………
………………
4.4.Thiết kế phiếu học tập cho Bài số 6 - Axitnuclêic.
a Phiếu thảo luận nhóm cho học sinh Tb -yếu:
Đọc sách giáo khoa và hoàn thiện phiếu học tập sau:
1. ADN cấu tạo theo nguyên tắc (1)… Mỗi đơn phân là một (2)…Mỗi
nuclêôtit có cấu tạo gồm 3 phần là: ….(3) , …(4)…. và ….(5) Bazơ nitrơ
gồm 4 loại A, T, G, X, các nuclêôtit chỉ khác nhau về (6) Các nuclêôtit liên
kết với nhau tạo thành chuỗi….(7)….
2. Phân tử ADN gồm mấy chuỗi? Liên kết bổ xung thể hiện
nh
−
thế nào?
c. Phiếu thảo luận nhóm cho học sinh Tb khá- khá:
1. Quan sát hình 6.1 SGK hãy mô tả cấu trúc của phân tử ADN?
2. Đọc sách giáo khoa và hoàn thiện bảng sau:
14
5. THỰC NGHIỆM GIẢNG DẠY
* Thiết kế giáo án thực nghiệm
Ngày soạn………
Tu Ầ n:
Tiết 5: CACBOHIĐRAT VÀ LIPIT,PRÔTÊIN
Axit nuclêic
Nội dung
ADN ARN
Số mạch, đặc điểm mạch.
Thành phần của
Đáp án:
- Nêu vai trò của nước (Mục II-2 bài 4 ).
- Nếu không có nước thì không thể có sự sống.
3. Bài mới .
16
+ Giáo viên: Đưa ra một số loại thực phẩm, hoa quả chứa đường và lipit. Yêu
cầu học sinh chọn ra 2 nhóm chứa cacbohidrat và lipit.
+ Từ đó GV giới thiệu nội dung bài mới và mục tiêu của bài.
Hoạt động 1
Tìm hiểu cacbohyđrat (đường)
Hoạt động của GV,HS Nội dung
? Kể tên các loại đường có trong cơ thể sống
+ Thực hiện yêu cầu của giáo viên(Đường
mía, đường sữa, mach nha)
+ Nêu các thành phần, cấu tạo chung của
cacbohidrat.
+ Cho 1 thìa đường vào cốc nước, khuấy
lên. Nhận xét độ tan của đường.
HS: Quan sát, nhận xét: Dễ tan trong nước.
+ Yêu cầu học sinh đọc SGK mục I trang 19,
quan sát H-4.1 hoàn thành PHT.
HS:Nghiên cứu SGK thảo luận hoàn thành
phiếu học tập. Đại diện báo cáo.
+ GV: Nhận xét, bổ sung.
I.Cacbonhidrat(Đường)
1- Cấu trúc hoá học.
+ Gồm 3 nguyên tố: C, H, O.
+ Cấu tạo theo nguyên tắc đa phân.
N.D
Đường đơn
liên kết với nhau.
- Xenlulôzơ.
+ Các đơn phân liên kết bằng liên
kết glycôrit.
+ Nhiều phân tử Xenlulôzơ liên
kết tạo thành vi sợi Xenlulôzơ.
+ Các vi sợi liên kết tạo nên
thành tế bào thực vật.
Chức
năng
Cung cấp năng
lượng cho tế bào
Là loại đường vận
chuyển trong cây
Dự trữ cacbon, năng lượng, cấu
tạo tế bào.
Hoạt động của GV,HS Nội dung
+ Cho biết chức năng của Cacbohydrat
Nghiên cứu SGK kết hợp thực tế trả lời câu hỏi
+ Liên hệ: Vì sao khi bị đói lả (hạ đường
huyết) người ta thường cho uống nước đường
thay vì ăn các loại thức ăn khác?
Đói lả là do cơ thể không còn năng lượng dự
trữ. Uống nước đường sẽ cung cấp nhanh cho
cơ thể nguồn năng lượng.
- Tại sao người không tiêu hoá được Xenlulôzơ
nhưng trong khấu phần ăn vẫn cần nhiều rau
xanh?
+ Kitin có nhiều ứng dụng: làm chỉ tiêu, sản
xuất kitôđan, kĩ thuật nảy mầm, ra rễ, làm chất
Nội dung
Mỡ Phôtpholipit Sterôit Sắc tố và VTM
Cấu tạo
- Gồm 1 phân tử
Glixêron liên kết
với 3 axit béo (16-
18 nguyên tử C).
- Axit béo no:
Trong mỡ động vật.
- Axit béo không
no: Có trong thực
vật, một số loài cá
- một phân
tử Glixêron
liên kết với 2
phân tử axit
béo và một
nhóm
Phốtphát
- Chứa các
nguyên tử
liên kết
vòng
- VTM là phân tử
hữu cơ nhỏ.
- Sắc tố carotenoit
Chức
năng
- Dự trữ năng
lượng cho tế bào
III. prôtêin
1. Đặc điểm chung:
- Prôtêin là đại phân tử có cấu trúc
đa phân mà đơn phân là các axit
amin (có 20 loại aa)
- Prôtêin đa dạng và đặc thù do số
lượng, thành phần, trật tự sắp xếp
các axit amin khác nhau.
2. Các loại cấu trúc :
Loại cấu
trúc
Đặc điểm
Bậc 1 - Axit amin liên kết với nhau nhờ liên kết peptit tạo thành chuỗi
Pôlipeptit có dạng mạch thẳng
Bậc 2 - Chuỗi Pôlipeptit xoắn lò xo hoặc gấp nếp nhờ liên kết Hiđrô giữa
các nhóm Peptit gần nhau.
Bậc 3 - Cấu trúc bậc 2 tiếp tục co xoắn tạo nên cấu trúc không gian ba chiều
đặc trưng. Cấu trúc bậc ba phụ thuộc vào tính chất của nhóm R trong
mạch Pôlipeptit.
Bậc 4 - Prôtêin có 2 hay nhiều chuỗi Pôlipeptit khác nhau liên kết với nhau.
20
Hoạt động của GV,HS Nội dung
+ Thế nào là hiện tượng biến tính?
Nguyên nhân và tác hại.
- Biến tính là hiện tượng Prôtêin bị
biến đổi cấu trúc không gian.
+ Tại sao một số vi sinh vật sống
được ở suối nước nóng có nhiệt độ
cơ thể.
+ Prôtêin dự trữ: Dự trữ các Axit amin.
+ Prôtêin vận chuyển: Vận chuyển các
chất.
+ Prôtêin bảo vệ: Bảo vệ cơ thể chống
bệnh tật.
+ Prôtêin thụ thể: Thu nhận và trả lời
thông tin.
Ví dụ: Protein thụ thể trên màng.
+ Prôtêin xúc tác: Xúc tác cho các phản
ứng sinh hoá.
4Củng cố:
-Tại sao khi đun nóng nước lọc cua thì Prôtêin của cua đóng thành từng
mảng?
21
- Tại sao một số người khi ăn nhộng tằm, tôm, cua lại bị dị ứng?
5.Dặn dò: Học bài theo câu hỏi trong SGK
6.Rút kinh nghiệm giờ dạy
6. Kết quả áp dụng của sáng kiến tại trường THPT Hồng Quang
Trong quá trình thực hiện tôi đã theo dõi kết quả của học sinh áp dụng
sáng kiến ( lớp 10A2 ) so với học sinh không áp dụng sáng kiến ( lớp 10A3)
các lớp trên đều có trình độ nhận thức tương đương .Kết quả cụ thể qua một bài
kiểm tra 15
’
cùng một đề bài: Cho ví dụ về đường đơn, đường đa, đường đôi.
Phân biệt sự khác nhau về cấu trúc và chức năng của các loại đường trên như
và gợi mở khi học sinh gặp phải bế tắc. Do sự thành công khi vận dung phương
pháp này nằm ở khâu đưa ra vấn đề thảo luận nên chúng tôi tiến hành xây dựng
các dạng bài tập có thể vận dụng với phương pháp này.
3. Kiến nghị
Cần lưu ý là phương pháp thảo luận nhóm không phải là phương pháp sư
phạm độc tôn. Nó cũng có những hạn chế nhất định. Trong quá trình dạy Sinh
học giáo viên cần vận dụng phối hợp nhiều phương pháp khác thì bài dạy mới
mang lại hiệu quả cao.
Đối với học sinh cần phối hợp tích cực với giáo viên và chủ động trong quá
trình học tập.
Đối với các cấp lãnh đạo cần tạo điều kiện và quan tâm với những sáng
kiến của giáo viên khi mới nghiên cứu và áp dụng ở cơ sở. Nếu các sáng kiến
này có hiệu quả ứng dụng cao, cần phổ biến để đồng nghiệp góp ý và hoàn thiện
hơn trước khi áp dụng rộng rãi.
Yên Bái, ngày 10 tháng 2 năm 2015
Người viết
Bùi Thị Thu Hà
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa sinh học 10
–
Chuẩn : Nhà xuất bản giáo dục.
2. Sách giáo khoa sinh học 10
–
Nâng cao: Nhà xuất bản giáo dục.
3. Sách giáo Viên sinh học 10
–
Chuẩn : Nhà xuất bản giáo dục.
4. Sách giáo viên sinh học 10
–