Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II
Trường Đại học Thăng Long 180
TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA CHA MẸ CÓ CON BỊ ĐỘNG
KINH ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NHI
TRUNG ƯƠNG
Ths. Hà Thị Huyền
1
, TS. Nguyễn Thị Thanh Mai
2
1
Trường Đại học Thăng Long, email: [email protected]
2
Trường Đại học Y Hà Nội, email: [email protected]
Tóm tắt: Động kinh là bệnh lý thần kinh mạn tính với thời gian điều trị lâu dài, trung
bình từ 2 – 5 năm sau cơn động kinh cuối cùng, đa số người bệnh được điều trị ngoại trú. Kết
quả điều trị động kinh phụ thuộc rất nhiều vào tuân thủ điều trị, bao gồm tuân thủ thuốc và
tái khám đúng hẹn. Với mục tiêu đánh giá tuân thủ dùng thuốc và tái khám, nghiên cứu thực
hiện trên 300 cha mẹ có con mắc động kinh, điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nhi Trung ương
năm 2013 bằng bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp về tuân thủ điều trị. Kết quả cho thấy tuân thủ
đúng về dùng thuốc chống động kinh đạt 89,3%. Lý do không tuân thủ đúng chủ yếu do
cha/mẹ quên vì bận công việc (48,2%), tự thay đổi loại thuốc (56,2%), tự thay đổi liều thuốc
do trẻ hay bị nôn (39,1%). Tuân thủ đưa trẻ tái khám theo hẹn đạt 60,7%. Lý do không tuân
thủ tái khám chủ yếu do cha/mẹ chưa thu xếp được công việc (49,5%). Kết quả này cho thấy
cán bộ y tế cần thường xuyên nhắc nhở cha mẹ trẻ tuân thủ điều trị thuốc, liên lạc nhắc cha
mẹ đưa con đi khám lại theo hẹn và tư vấn giúp giải quyết những khó khăn của họ.
Từ khóa: động kinh, tuân thủ điều trị.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Động kinh là một bệnh phổ biến, đứng hàng thứ hai trong các bệnh thần kinh ở trẻ em
[1], [10]. Trong khoảng 50 triệu người trên thế giới mắc động kinh, có 10,5 triệu là trẻ em
- Bị các bệnh lý tâm thần, thần kinh ảnh hưởng đến chức năng nhận thức, giao tiếp
- Không có khả năng giao tiếp trực tiếp bằng tiếng Kinh/tiếng Việt, không biết đọc và
hiểu tiếng Kinh/tiếng Việt.
- Từ chối tham gia nghiên cứu.
2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu: từ tháng 12/2012 đến tháng 7/2013 tại phòng
khám chuyên khoa - Khoa Thần kinh, Bệnh viện Nhi Trung ương.
3. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu: Tính tỷ lệ cho một nghiên cứu mô tả, kết quả tính cho c mẫu là 300 đối
tượng
Cách chọn mẫu: chọn mẫu liên tiếp tất cả các cha mẹ đủ tiêu chuẩn cho đến khi đủ
300.
5. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi được thiết kế liên quan tới
thực hành về tuân thủ điều trị thuốc chống động kinh và tái khám theo hẹn. Nội dung bộ câu
hỏi dựa trên các khuyến cáo về tuân thủ thuốc và tái khám trên bệnh nhân động kinh, cụ thể
như sau:
* Tuân thủ dùng thuốc:
Tuân thủ dùng thuốc là thường xuyên cho trẻ dùng đúng thuốc, đúng số lần, đúng liều
lượng trong thời gian điều trị theo chỉ định của bác sỹ trong sổ theo dõi khám chữa bệnh của
trẻ. Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, bệnh nhân mắc các bệnh lý mạn tính được coi
là có tuân thủ điều trị thuốc khi phải thực hiện được ít nhất 90% phác đồ điều trị của bác sỹ
trong vòng 1 tháng. Vì vậy trong phạm vi của nghiên cứu này, bệnh nhi động kinh được coi là
đạt tiêu chuẩn tuân thủ điều trị thuốc khi:
- Số lần quên uống thuốc ≤ 3 lần/tháng (với trẻ được chỉ định uống thuốc 1 lần/ngày)
hoặc ≤ 6 lần/tháng (với trẻ được chỉ định uống thuốc 2 lần/ngày).
- Uống đúng loại thuốc được bác sỹ chỉ định dùng
- Uống đúng liều lượng được bác sỹ chỉ định, không tự ý tăng hoặc giảm liều.
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II
89,3
Kết quả bảng 1 và biểu đồ 1 cho thấy tỷ lệ tuân thủ cho trẻ uống đúng loại thuốc được
kê chiếm 94,7%; tỷ lệ tuân thủ số lần cho trẻ uống thuốc (thực hiện được ít nhất 90% theo kê
đơn) chiếm 85,3% và tuân thủ về liều dùng chiếm 92,3%; tổng hợp tuân thủ dùng thuốc đạt cả
3 yếu tố chiếm 89,3%.
2. Tuân thủ cho trẻ tái khám theo hẹn
Biểu đồ 2: Tỷ lệ tuân thủ tái khám
Kết quả biểu đồ 2 cho thấy có 60,7% ĐTNC đưa con đi khám theo đúng hẹn của bác
sỹ điều trị; 39,3% không tuân thủ bao gồm cả sai hẹn và bỏ khám ít nhất 1 lần.
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II
Trường Đại học Thăng Long 183
3. Lý do không tuân thủ
Bảng 2: Lý do cha mẹ trẻ không tuân thủ điều trị
Lý do không tuân thủ
Tần số
Tỷ lệ (%)
Lý do quên cho trẻ
uống thuốc
(n=108)
Cha/mẹ bận công việc
52
48,2
Cho trẻ đi chơi không mang theo
17
15,7
Do trẻ không chịu uống
1
4,3
Do trẻ hay bị nôn khi uống
9
39,1
Trẻ đang phải uống thuốc điều trị
bệnh khác
8
34,9
Khác
5
21,7
Lý do không đưa
trẻ tái khám đúng
hẹn
(n=109)
Chưa thu xếp được công việc
54
49,5
Nhà xa nơi khám lại
29
26,6
Do điều kiện kinh tế
20
18,4
Giang với 59,8% tuân thủ thuốc đạt thì kết quả chúng tôi thu được cũng cao hơn [4], [5]. Điều
này có thể được lý giải là do nghiên cứu của chúng tôi tìm hiểu sự tuân thủ điều trị của trẻ em
thông qua phỏng vấn cha/mẹ của trẻ còn các nghiên cứu trên tiến hành trên tất cả bệnh nhân
động kinh được quản lý ở trạm y tế xã với đa số bệnh nhân là người lớn. Mặt khác sự chênh
lệch này có thể do địa bàn nghiên cứu của chúng tôi là bệnh viện tuyến trung ương, bệnh nhân
và thân nhân cũng có khác biệt so với ở bệnh viện tuyến dưới. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu
của chúng tôi lại thấp hơn trong nghiên cứu ở Bệnh viện Nhi Đồng 2, tỷ lệ cha/mẹ cho con
uống thuốc theo hướng dẫn đạt 97,2% [2]. Có sự khác biệt này là do nghiên cứu của Bệnh
viện Nhi Đồng 2 đánh giá tuân thủ điều trị thuốc của cha mẹ theo tiêu chí định tính có hoặc
không, còn nghiên cứu của chúng tôi đánh giá mức độ không tuân thủ dùng thuốc theo tiêu
chuẩn chặt chẽ hơn: tuân thủ đạt khi thực hiện từ 90% phác đồ điều trị trở lên, không tự ý tăng
liều, không thay đổi loại thuốc.
Về lý do không tuân thủ dùng thuốc: trong các trường hợp không tuân thủ dùng
thuốc, gặp 16/300 trường hợp cha mẹ tự thay đổi loại thuốc và 23/300 trường hợp tự thay đổi
liều thuốc mà không có sự tư vấn và chỉ định của các bác sỹ. Tuy số trường hợp này không
lớn nhưng là những con số quan trọng, báo động về kiến thức cũng như thực trạng thực hành
tuân thủ về dùng thuốc ở những cha mẹ này rất kém, có thể gây hậu quả nguy hiểm. Các
trường hợp không tuân thủ là do quên cho trẻ uống thuốc hoặc tự ý bỏ thuốc có số lượng cao
hơn rất nhiều (134 trường hợp quên/bỏ). Lý do chủ yếu của việc tuân thủ kém này là do
cha/mẹ bận công việc (48,2%), do cha/mẹ tự thay đổi theo kinh nghiệm dựa theo sự xuất hiện
cơn giật (56,2%), do trẻ uống hay nôn trớ (39,1%) hoặc do thấy trẻ không còn cơn nên tự ý
dừng thuốc (34,6%). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự nghiên cứu của Đỗ Lê Thùy
và cộng sự (2011) về lý do tuân thủ không tốt là do bệnh nhân và thân nhân thấy cơn giật tăng
hoặc giảm nên tự thay đổi thuốc hoặc bỏ thuốc [5]. Với 22,2% cha mẹ quên do trẻ đang phải
điều trị bệnh khác, kết quả của chúng tôi tương tự kết quả của Ali Akbar Asadi-Pooya (2005)
[6]. Một lý do nữa cũng là rào cản khiến cha mẹ của trẻ tuân thủ thuốc không tốt là tâm lý lo
sợ uống thuốc lâu dài sẽ có hại cho trẻ, tương tự như kết quả khảo sát của Nguyễn Thúy
Hường và cộng sự (2000) [3]. Hiệu quả điều trị động kinh chịu ảnh hưởng rất lớn từ tuân thủ
dùng thuốc đúng theo chỉ định, do đó việc các cán bộ y tế thường xuyên nhắc lại và nhấn
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II
có bất kỳ thay đổi gì nên trao đổi với bác sỹ điều trị. Bên cạnh đó việc liên lạc với thân nhân
của trẻ để nhắc họ đưa trẻ đi khám theo hẹn nên được thực hiện đều đặn, qua đó cũng giúp
cán bộ y tế tìm hiểu, tư vấn giải quyết những khó khăn của bệnh nhân và thân nhân.
VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Lê Quang Cường (2005), Động kinh, Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội, 281.
[2]. Bệnh viện Nhi Đồng 2 (2009), Khảo sát sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân động
kinh điều trị ngoại trú tai Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 12/2008 đến 8/2009, truy cập ngày
15/11/2012 tại http://benhviennhi.org.vn/news/detail/567/khAo-sAt-sU-tuAn-thU-DiEu-trI-
cUa-bEnh-nhAn-DOng-kinh-DiEu-trI-ngoAi-trU-tAi-bEnh-viEn-nhi-DOng-2-tU-122008-
DEn-82009.html.
[3]. Nguyễn Thúy Hường, Hồ Hữu Lương và Nguyễn Hùng Mưu (2000), "Nhận xét
sự tuân thủ y lệnh điều trị nội khoa ở bệnh nhân động kinh điều trị ngoại trú ", Y học thực
hành, 384(7), tr. 42-44.
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II
Trường Đại học Thăng Long 186
[4]. Dương Hữu Lễ và Vũ Anh Nhị (2006), Tình hình quản lý bệnh nhân động kinh tại
huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, truy cập ngày 15/11/2012 tại
http://www.thankinh.org/HNKH%20truong/2011/2.%20Dong%20kinh%20Vung%20Tau%20
BS%20Truong.pdf
[5]. Đỗ Lê Thùy, Trần Văn Tuấn và Hoàng Thị Kim Huyền (2011), "Đánh giá tình
hình sử dụng thuốc điều trị động kinh trong cộng đồng dân cư tại tỉnh Thái Nguyên", Tạp chí
Y học thực hành, 751(2).
[6]. Ali Akbar Asadi-Pooya (2005), "Drug compliance of children and adolescents
with epilepsy", Seizure 14, pg. 393-395.
[7]. Avani C. Modi (2010), "Development and validation of the Pediatric Epilepsy
Medication Self-Management Questionnaire", Epilepsy and Behavior 18, pg. 94-99.
[8]. Guerrini R (2006), "Epilepsy in children", Lancet, 367(9509), pg. 499-524.
[9]. Helvi Kyngas (2000), "Compliance with health regimens of adolescents with