1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tim bẩm sinh là những bệnh lý tim mạch có thể đơn giản hoặc phức tạp.
Hiện nay tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em còn khá cao.
Bệnh có xu hướng ngày càng gia tăng gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe,
tàn tật và tử vong cho trẻ. Tỷ lệ trẻ mắc tim bẩm sinh trên toàn cầu là 1012/1.000 trẻ sinh ra sống .
Theo nghiên cứu của Nguyễn Kim Thu, Hồ Sỹ Hà và cộng sự, tại khoa
Tim mạch Bệnh viện Nhi Trung ương, trong 10 năm (1981-1991) cho thấy
nhóm tim bẩm sinh chiếm 28,4% trong tổng số bệnh tim mạch, trong đó cao
nhất là thông liên thất (32,5%) sau đó là Fallot 4 (19,3%), còn ống động
mạch 10,7% .
Theo nghiên cứu của Phạm Việt Tuân, Nguyễn Lân Việt tại Viện Tim
mạch Việt Nam trong vòng 5 năm (2003-2007) trong tổng số bệnh lý tim
mạch ở trẻ em, nhóm bệnh tim bẩm sinh chiếm tỷ lệ lớn nhất 86% và có sự
gia tăng rõ rệt từ 9,9% (năm 2003) lên 26,9% (năm 2007) .
Sự tiến bộ của y học trong việc chẩn đoán sớm từ thời kỳ mang thai và
sàng lọc sơ sinh các dị tật tim bẩm sinh đã giúp ích rất nhiều trong điều trị
bệnh vì nhiều bệnh có thể điều trị phẫu thuật khỏi hoàn toàn ngay từ giai đoạn
sơ sinh. Điều đó làm giảm tỷ lệ tử vong và tăng tỷ lệ phát hiện dị tật tim bẩm
sinh. Theo nghiên cứu của Nguyễn Trung Kiên năm 2011 tại khoa sơ sinh
Bệnh viện Nhi Trung ương, tỷ mắc bệnh tim bẩm sinh trong tổng số trẻ sơ
sinh của khoa là 24,2%, trong đó còn ống động mạch chiếm 68,4% .
Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, phẫu thuật tim mạch được triển khai từ
năm 2003 và cho đến nay đã phẫu thuật thành công rất nhiều loại dị tật tim
bẩm sinh từ đơn giản đến phức tạp. Cùng với đó là sự phát triển của thông tim
trong chẩn đoán và điều trị đã làm thay đổi rất lớn mô hình bệnh tim bẩm
2
4
Bảng 1.1. Các giai đoạn bào thai của quá trình hình thành tim và các dị
dạng tim bẩm sinh (theo O’Rahilly).
Giai đoạn
bào thai
Tuổi thai
(ngày)
1-8
1-20
9
21
10
22-23
11
24-25
12
26-27
Bộ phận phụ ngoài thai (túi noãn,
tế bào rau thai)
Ống tim nguyên thủy, các khoang
Ống tim quay phải hình S, tim bắt
đầu đập
Ống nhĩ - thất chung
Tuần hoàn nhĩ - thất: nhĩ phải –nhĩ
trái – thất trái – thất phải
Hình thành các vách nguyên phát,
các van bán nguyệt, cung chủ III
(động mạch cảnh, cánh tay - đầu)
IV (cung động mạch chủ) và VI
(động mạch phổi và ống động
mạch)
Hình thành các buồng thất, tĩnh
mạch phổi chung
Xuất hiện vách liên thất thứ phát,
phân chia động mạch chủ - phổi,
bắt chéo chủ -phổi
Hình thành lỗ van 2, 3 lá, xuất
hiện vách liên nhĩ thứ phát, phân
chia tuần hoàn chủ - phổi
Hình thành các lá van bán nguyệt,
đóng lỗ liên nhĩ
Đóng lỗ liên thất phần màng
(nhưng có thể muộn sau sinh)
Biệt hóa các van, hình thành hệ
thần kinh tự động tim
Dị dạng hậu quả
5
9 lần sửa đổi đến nay sau hiệu đính lần thứ X, ICD-10 đã được sử dụng ngày
càng rộng rãi và chứng minh được tính ưu việt của nó.
Cách phân loại bệnh tật theo WHO được khuyến khích sử dụng trên toàn
thế giới và là bắt buộc cho tất cả các quốc gia phải báo cáo tình hình bệnh
theo phân loại bệnh tật quốc tế và các vấn đề liên quan đến sức khỏe (ICD).
Đặc điểm nổi bật của ICD là phân loại theo từng chương bệnh, trong mỗi
chương lại chia ra từng nhóm bệnh, từng nhóm bệnh lại chia ra thành các tên
bệnh, cuối cùng là các bệnh chi tiết theo nguyên nhân hay theo tính chất đặc
thù của bệnh.
Hệ thống phân loại này giúp chúng ta có một mô hình bệnh tật đầy đủ và
chi tiết. Nó giúp cho các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà quản lý
có cách nhìn bao quát toàn diện, cụ thể về mô hình bệnh tật để từ đó đưa ra
chiến lược, giải pháp thích hợp, đánh giá hiệu quả của các chương trình chăm
sóc sức khỏe đã và đang triển khai. Bên cạnh đó còn giúp cho các bác sỹ lâm
sàng có cách nhìn bao quát về mô hình bệnh tật đơn vị mình công tác.
Bảng 1.2. Phân loại nhóm bệnh tim bẩm sinh theo ICD-10
Số thứ
Mã
Tên nhóm bệnh
tự
ICD-10
1
Q20
6
người làm công tác thống kê phải có trình độ nhất định để tránh nhầm lẫn,
cũng như đòi hỏi các bác sỹ lâm sàng cần phải có chẩn đoán chính xác và chi
tiết. Điều này có thể làm được bằng cách nâng cao trình độ chuyên môn cho
bác sỹ lâm sàng và tập huấn tốt cho những người trực tiếp mã hóa.
1.4. Phân loại dị tật tim bẩm sinh.
Cho đến nay có nhiều cách phân loại tim bẩm sinh (theo số lượng tổn
thương tim đơn thuần hay phức hợp, theo biểu hiện lâm sàng: tím hay không
tím), nhiều tác giả có xu hướng phân loại theo luồng thông (shunt) vì phù hợp
với chức năng hoạt động và sinh bệnh học của các bệnh hơn.
1.1.
Tim bẩm sinh có luồng thông trái - phải
1.1.1.1. Thông liên thất
Là dị tật tim bẩm sinh do khiếm khuyết bẩm sinh vách liên thất, có thể
có một hay nhiều lỗ thông, bệnh hay gặp nhất chiếm 30- 35% , , , tỷ lệ mắc
0,34 đến 2,58/ 1000 ở trẻ sơ sinh sống đủ tháng . Thông liên thất gồm 4 thể
:
-
VSD phần quanh màng: chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 80%
VSD phần phễu: chiếm tỷ lệ 5-7% ở vị trí dưới van động mạch phổi
VSD phần buồng nhận: chiếm khoảng 5-8%
VSD phần cơ: chiếm khoảng 5-20%.
Siêu âm tim giúp chẩn đoán vị trí, kích thước và chênh áp qua lỗ thông.
Thông tim chỉ được tiến hành ở các trường hợp tổn thương không rõ rệt,
1.1.1.2. Thông liên nhĩ (ASD)
Thông liên nhĩ là một bệnh tim bẩm sinh khá phổ biến, tần suất chiếm
khoảng 6-8% trong các bệnh tim bẩm sinh, tỷ lệ gặp là 0,56/1000 trẻ sinh ra
sống . Có 4 thể thông liên nhĩ thường gặp .
- Thông liên nhĩ lỗ thứ phát: khuyết tương ứng với vị trí lỗ thứ phát ngay
gần lỗ bầu dục. Thể này chiếm khoảng 80% tổng số các trẻ thông liên nhĩ.
8
- Thông liên nhĩ lỗ tiên phát: khuyết tương ứng với vách nguyên phát do
hậu quả không kết dính hoàn toàn vách liên nhĩ vào gờ nội mạc. Thể này
chiếm khoảng 10%.
- Thông liên nhĩ vùng xoang tĩnh mạch: khuyết ở vùng đổ vào nhĩ phải
của tĩnh mạch chủ trên hay dưới. Thể này chiếm khoảng 10%.
- Thông liên nhĩ thể xoang vành: khuyết vùng nóc xoang vành gây thông
thương giữa nhĩ trái và xoang mạch vành.
Siêu âm tim là phương pháp chủ yếu và chính xác để chẩn đoán thông
liên nhĩ. Đối với các bệnh nhân nhỏ tuổi có thể chỉ cần dùng siêu âm qua
thành ngực còn đối với các bệnh nhân lớn tuổi, thành ngực dày, đôi khi cần
làm siêu âm qua thực quản.
Thông tim có thể giúp ích cho việc đánh giá mức độ shunt, ngoài ra còn
xác định chính xác áp lực động mạch phổi, đo cung lượng động mạch phổi,
cung lượng động mạch chủ..... Ngoài ra trong những năm gần đây, thông tim
còn nhằm mục đích để đóng lỗ thông liên nhĩ bằng dụng cụ qua da
(Amplatzer, CardioSeal...) .
Điều trị ngoại khoa tùy theo kích thước lỗ thông đa số tác giả khuyến
cáo nên đóng sớm (tuổi từ 2 -4) khi Qp/Qs > 1,5/1 hoặc nếu khi trẻ < 2 tuổi có
biểu hiện lâm sàng sớm như bội nhiễm, hô hấp, suy dinh dưỡng, suy tim .
10
Hình 1.4. Hình ảnh còn ống động mạch
1.1.1.4. Thông sàn nhĩ thất (AVSD)
Đây là một dị tật tim bẩm sinh phức tạp và để lại hậu quả nặng nề cho
bệnh nhân. Thông sàn nhĩ thất chiếm khoảng 3-5% các dị tật tim bẩm sinh và
tỷ lệ mắc khoảng 0,19/1000 trẻ sinh ra sống , , .
Có nhiều quan điểm phân loại thông sàn nhĩ thất toàn bộ, tuy nhiên hiện
nay quan điểm chia làm hai thể được chấp nhận rộng rãi.
Thể toàn bộ: bao gồm thông liên nhĩ lỗ tiên phát, thông liên thất phần
buồng nhận và tổn thương van nhĩ thất nặng. Van hai lá và van ba lá có chung
một lỗ van nhĩ thất. Van nhĩ thất chung thường có 5 mảnh.
Thể bán phần: Thông liên nhĩ kiểu lỗ thứ nhất hoặc tâm nhĩ độc
nhất. Van hai lá thường có kẽ chia van thành 3 mảnh. Van nhĩ thất chung
trước và sau nối liền bằng một mảnh nhỏ mô van, chia lỗ nhĩ thất thành hai
lỗ riêng biệt.
Tổn thương phối hợp có thể là: hẹp eo động mạch chủ, thất phải hai
đường ra, hẹp van động mạch phổi…
Siêu âm Doppler tim: Giúp xác định vị trí tổn thương, kích thước, chiều
shunt, tình trạng tăng áp động mạch phổi, tình trạng van nhĩ thất, các buồng
tim, chức năng thất trái, tổn thương phối hợp kèm theo…
11
Thông sàn nhĩ thất toàn bộ thường xuất hiện suy tim sớm từ 2-4 tháng
tuổi do đó cần phẫu thuật trong khoảng thời gian từ 3-6 tháng tuổi. Trường
hợp phẫu thuật muộn sau 1 tuổi thường có nguy cơ tăng cao sức cản phổi
Tim bẩm sinh tắc nghẽn đường ra thất phải.
1.2.1.1. Hẹp động mạch phổi đơn thuần (không kèm tổn thương vách liên thất)
Là tổn thương thực thể bẩm sinh gây nghẽn đường máu lên phổi. Tổn
thương có thể tại van, dưới van, nơi các nhánh. Tỷ lệ chiếm khoảng 5-7% các
bệnh tim bẩm sinh .
+ Thể hẹp van điển hình: các lá van dày lồi lên trên (mặt động mạch
phổi) chỉ còn chừa 1 lỗ nhỏ vài milimet hình dạng van giống như vòm nhà.
Ngoài ra các dạng bất thường bẩm sinh tại van có thể: van 1 mảnh; van 2
mảnh; 2 mép dính chừa 1 lỗ hở; thiểu sản van lẫn vòng van; loạn sản van.
+ Các thể hẹp dưới van động mạch phổi có dạng:
• Hẹp phễu: có thể hẹp đơn thuần lỗ phễu trong khi van, vòng van vẫn
bình thường.
13
• Tăng sinh dải điều hòa một cách bất thường và dải hình thành ngay
dưới van hoặc tăng sinh bất thường một mẩu cơ bè từ thành tự do của thất
phải qua vách liên thất làm hẹp lòng thất phải hình thành 1 thất phải giống
như 2 buồng.
+ Thể hẹp trên van: thường phối hợp với các hội chứng đa dị tật như
Alagille, Marfan….được gọi là hẹp động mạch phổi ngoại biên với nhiều thể
khác nhau tùy theo vị trí hẹp như thể trung tâm, đoạn gần, đoạn xa, nơi phân
chia nhánh…
Điều trị nội khoa nhằm mục đích phòng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.
Nong hẹp van động mạch phổi bằng bóng qua da: trong những trường
hợp hẹp van động mạch phổi mức độ nặng hoặc khi siêu âm đo chênh áp
trung bình qua van động mạch phổi ≥ 40mmHg .
Phẫu thuật khi bệnh nhân có hẹp van động mạch phổi và áp lực thất phải
+ Phẫu thuật tạm thời (tạo dòng chảy giữa động mạch hệ thống với động
mạch chủ bằng các cầu nối chủ-phổi): Phẫu thuật Blalock- Taussig (nối động
mạch dưới đòn với động mạch phổi), phẫu thuật Blalock cải tiến (nối chủ
phổi bằng đoạn Gore Tex).
+ Phẫu thuật triệt để: vá thông liên thất và sửa chữa hẹp đường ra thất
phải, động mạch phổi.
Hình 1.6. Hình ảnh tứ chứng Fallot trên siêu âm
1.2.1.3. Teo van động mạch phổi không kèm thông liên thất
Tổn thương này do lỗ van động mạch phổi hoàn toàn bị bịt bởi các van
dày xơ dính hoặc nếu không có van thì như một màng chắn mô cơ, xơ hóa
kèm vách liên thất kín. Bệnh chiếm khoảng 1% các bệnh tim bẩm sinh, tỷ lệ
mắc là 0,09/1000 trẻ sinh ra sống .
15
Siêu âm dopller tim không thấy có dòng máu lên động mạch phổi, giúp
khảo sát thất phải, vòng van 3 lá, kích thước lỗ van động mạch phổi, thân và
các nhánh động mạch phổi.
Điều trị nội khoa để giữ ống động mạch mở bằng cách truyền
prostaglandin E1, hoặc đặt stent ống động mạch. Đôi khi kết hợp phá vách
liên nhĩ bằng bóng khi lỗ PFO hạn chế.
Điều trị phẫu thuật là bắt buộc.
1.3.
Nhóm tim bẩm sinh tắc nghẽn đường ra thất trái.
1.3.1.1. Hẹp động mạch chủ (AS)
Hẹp động mạch chủ hay hẹp đường ra thất trái là tổn thương bẩm sinh do
da, hoặc phẫu thuật theo phương pháp Crafoord (có cải tiến) hoặc phương
pháp Vosschulte.
1.4.
Tim bẩm sinh có luồng shunt hai chiều.
1.4.1.1. Chuyển gốc động mạch (TGA).
Bệnh chiếm khoảng 3% đến 5% bệnh tim bẩm sinh, tỷ lệ mắc khoảng
0,3 đến 0,43/1000 trẻ sinh ra sống , , . Chuyển gốc động mạch có thể đơn
thuần (55%) hay kết hợp thông liên thất và hẹp phổi (45%).
+ Chuyển gốc động mạch đơn thuần: Tim hầu như luôn ở bên trái, động
mạch phổi bắt nguồn từ thất trái và có sự liên tục với van 2 lá, động mạch chủ
xuất phát từ thất phải, động mạch chủ nằm phía trước động mạch phổi và có
thể chếch về phía phải hoặc chếch về phía trái, cũng có khi động mạch chủ và
động mạch phổi nằm song song với nhau.
+ Chuyển gốc động mạch phức tạp: chuyển gốc động mạch đơn giản
phối hợp với một hay nhiều tổn thương sau: thông liên thất, hẹp động mạch
phổi, hẹp eo động mạch chủ, bất thường van ba lá.
Siêu âm tim là phương pháp hữu hiệu để chẩn đoán cũng như đánh giá
các tổn thương kèm theo.
Điều trị tùy thuộc thể bệnh:
- Chuyển gốc động mạch thể đơn thuần: truyền prostaglandine E1 để giữ
ống động mạch trong thời kỳ sơ sinh, có thể mở rộng lỗ PFO bằng bóng trong
thông tim. Phẫu thuật sớm trong vòng 10- 15 ngày sau sinh.
17
- Chuyển gốc động mạch có thông liên thất: phẫu thuật chuyển cả đại
động mạch và động mạch vành, vá lỗ thông liên thất. Tốt nhất mổ trước 6
lớn từ thất phải. Đây là bệnh tim bẩm sinh ít gặp, tỷ lệ mắc từ 0,13 đến
0,28/1000 trẻ sinh ra sống, bệnh chiếm 1-2% tổng số bệnh tim bẩm sinh , , .
Có nhiều thể lâm sàng khác nhau phụ thuộc vào giải phẫu, tương quan các đại
động mạch và bất thường động mạch vành. Phân loại quốc tế theo STS –
EACTS ( 2000) .
- DORV thể thông liên thất dưới van động mạch chủ hay dưới hai van và
không có hẹp phổi.
- DORV thể Fallot gồm: thông liên thất dưới van động mạch chủ hay
dưới 2 van động mạch và hẹp phổi.
- DORV thể thông liên thất dưới van động mạch phổi (thể chuyển gốc
động mạch, thể Taussig – Bing).
- DORV thể thông liên thất xa hai van động mạch (thông liên thất biệt lập).
Siêu âm tim là phương pháp chẩn đoán xác định bệnh và thể bệnh cũng
như mức độ hẹp phổi.
Thông tim chỉ cần thiết khi khảo sát sức cản phổi, động mạch vành và
kích thước nhánh động mạch phổi.
Điều trị có 3 kỹ thuật phẫu thuật triệt để: phẫu thuật sửa chữa trong thất,
phẫu thuật chuyển động mạch kèm đóng thông liên thất, phẫu thuật sửa chữa
trong thất kèm đặt lại động mạch phổi vào thất phải.
1.4.1.4. Tĩnh mạch phổi đổ về bất thường
Các tĩnh mạch phổi đổ về bất thường xảy ra khi các tĩnh mạch phổi thay
vì đổ về nhĩ trái, lại nối liền với nhĩ phải trực tiếp hay qua trung gian một tĩnh
mạch khác như tĩnh mạch chủ, tĩnh mạch cửa, xoang vành. Tỷ lệ bệnh chiếm
khoảng 0,8 đến 1,3% bệnh tim bẩm sinh , , .
19
Tĩnh mạch phổi đổ về bất thường chia làm 2 thể: tĩnh mạch phổi đổ về
bất thường hoàn toàn khi tất cả các tĩnh mạch phổi không đổ về nhĩ trái và thể
20
Siêu âm tim giúp chẩn đoán xác định và xác định tổn thương phối hợp.
Thông tim trong một số trường hợp nặng kèm không lỗ van động mạch
phổi để xác định tuần hoàn bàng hệ (tuổi sơ sinh), hoặc để đo áp lực cũng như
kháng lực động mạch phổi, đánh giá kích thước các nhánh động mạch phổi.
Điều trị: vì đây là bệnh tim bẩm sinh phức tạp nên kế hoạch điều trị gồm
nhiều bước tùy tổn thương phối hợp.
1.5.1.2. Bệnh Ebstein
Bệnh Ebstein hay còn gọi là bất thường Ebstein là tổn thương bẩm sinh
trong đó các lá van 3 lá không dính vào các vòng van một cách bình thường.
Lá van sau và lá vách bị đóng thấp xuống dưới thất phải theo hình xoắn. Tần
suất mắc khoảng 0,6% các bệnh tim bẩm sinh và khoảng 1/210.000 trẻ sinh ra
sống, tỷ lệ nam nữ là như nhau .
Siêu âm tim: là phương pháp rất hữu ích giúp chẩn đoán xác định và có
thể chỉ định phẫu thuật. Trên siêu âm tim có thể thấy hình ảnh bám thấp của
các lá van. Lá vách so với lá trước hai lá, nếu khoảng cách lệch là >8mm/m2
diện tích cơ thể thì xem là bệnh lý.
Điều trị: những trường hợp rất nhẹ không có triệu chứng không có rối
loạn huyết động chỉ cần theo dõi và phòng viêm nội tâm mạc nhiễm trùng,
những trường hợp nặng có chỉ định phẫu thuật. Bệnh Ebstein thể nặng được
phẫu thuật BT shunt, bước tiếp theo là phẫu thuật Glenn và phẫu thuật Fontan.
Những trường hợp bệnh Ebstein có khả năng sửa chữa hai thất: khâu nếp gấp
vùng nhĩ hóa thất phải, tạo hình van 3 lá và vòng van, một số trường hợp phải
thay van 3 lá, vá thông liên nhĩ.
1.5. Các nghiên cứu về dịch tễ và điều trị bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em.
1.6.
Trên thế giới.
Tim bẩm sinh là một bệnh lý ngày càng phổ biến trong nhi khoa, khi mà
tím: 51,7% Fallot 4, 31,3% chuyển gốc động mạch, còn lại là các bệnh tim
bẩm sinh phức tạp khác .
Với sự tiến bộ trong các phương pháp điều trị, kết quả điều trị bệnh tim
bẩm sinh đã đạt được nhiều thành công và làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ mắc
bệnh tim bẩm sinh. Thông tim can thiệp điều trị các bệnh tim bẩm sinh đã trở
thành thường quy ở các trung tâm tim mạch lớn. Theo nghiên cứu của Safaa
Husein Ali (4/2010-4/2013), trong tổng số 176 bệnh nhân được can thiệp điều
22
trị: đóng còn ống động mạch bằng dụng cụ (39,7%), đóng thông liên nhĩ
(18,1%), nong hẹp van động mạch phổi (34,1%), đóng thông liên thất, phá
vách liên nhĩ, nong hẹp eo động mạch chủ, với tỷ lệ biến chứng chung là
11,8% và tỷ lệ tử vong là 0,7% .
Nghiên cứu của Jacek Bialkowsk năm 2004 có 44 trẻ (tuổi trung bình 8,1
± 4,7 năm) được điều trị bằng phẫu thuật và 47 trẻ (tuổi trung bình 10,1 ± 4,9
năm) được điều trị bằng thông tim đóng dù Amplatzer, tỷ lệ thành công là như
nhau ở 2 nhóm: 95,5% ở nhóm phẫu thuật so với 97,5% trong nhóm thông
tim can thiệp, không có bệnh nhân tử vong ở cả hai nhóm, với số ngày nằm
viện trung bình của nhóm phẫu thuật là 7,5 ± 3,1 ngày ngắn hơn nhóm thông
tim 2,2 ± 1,1 ngày với (p
chứng thấp, thời gian nằm viện ngắn dẫn đến giảm giá thành điều trị. Theo Lê
Hồng Quang nghiên cứu trên 298 trẻ có chỉ định can thiệp tim mạch (6/200410/2006) với các thủ thuật đóng ống động mạch, đóng thông liên nhĩ, đóng
thông liên thất bằng dụng cụ, nong hẹp van động mạch phổi, nong hẹp eo
động mạch chủ cho thấy tỷ lệ thành công cao với thời gian nằm viện ngắn, tỷ
lệ biến chứng thấp, tỷ lệ tử vong là 1,34% .
Sự phát triển trong phẫu thuật tim mạch ở trẻ em tại Việt Nam đã đạt
được kết quả tốt trong những năm gần đây. Tại Bệnh viện Nhi Trung ương –
bệnh viện đầu ngành nhi khoa Việt Nam, giai đoạn từ 2003 – 2009, đã có
1031 trường hợp tim bẩm sinh được phẫu thuật tim mở với tỷ lệ sống ra viện
là 96,6% . Theo nghiên cứu của Trần Minh Điển với số bệnh nhân được phẫu
thuật tim mở năm 2010 là 318 ca (50,6% trẻ dưới 6 tháng tuổi; 37,1% cân
nặng dưới 5 kg). Bệnh tim được phẫu thuật nhiều nhất là thông liên thất
24
(56,3%), với tỷ lệ tử vong chung là 5%, bệnh có tỷ lệ tử vong cao nhất là
thông sàn nhĩ thất (27,2%) .
Tại bệnh viện Nhi Đồng 2 theo nghiên cứu của Võ Quốc Bảo năm 2011
có 100 bệnh nhi được phẫu thật tim mở, tỷ lệ mắc bệnh nam/nữ 55/45, cân
nặng từ 5,8 kg đến 30 kg, với các bệnh nhân được phẫu thuật là thông liên
nhĩ, thông liên thất, thông sàn nhĩ thất, bất thường tĩnh mạch phổi .
Với phẫu thuật tim mở ở lứa tuổi sơ sinh cho thấy sự phát triển và tiến
bộ của phẫu thuật tim mạch Việt Nam. Tại bệnh viện Nhi Trung ương giai
đoạn 2006 – 2011: với 38 trẻ sơ sinh tuổi trung bình là 16 ngày, cân nặng
trung bình là 3,2 kg, các dị tật can thiệp ngay giai đoạn sơ sinh chủ yếu là
bệnh chuyển gốc động mạch, teo van động mạch phổi, bất thường tĩnh mạch
phổi, và một số dị tật khác. Kết quả điều trị tỷ lệ sống là 81,58%, trong đó
bệnh teo van động mạch phổi và bất thường tĩnh mạch phổi hoàn toàn 100%
thành công, chuyển gốc động mạch thành công 77,27%; Giai đoạn 2010 2011 có 25/38 trẻ sơ sinh được phẫu thuật tim mở, tỷ lệ sống 88% cao hơn so