tiểu luận Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ và chủ trương của Đảng Cộng Sản Đông Dương trong cuộc đấu tranh giành chính quyền - Pdf 26

Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Câu hỏi: Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ và chủ trương của Đảng
Cộng Sản Đông Dương trong cuộc đấu tranh giành chính quyền?
Trả lời:
Chiến tranh thế giới thứ II là cuộc chiến tranh có quy mô lớn nhất trong
lịch sử nhân loại. Chiến tranh lan rộng khắp toàn cầu và diễn ra trên nhiều mặt
trận: Mặt trận Tây Âu (mặt trận phía Tây), mặt trận Xô - Đức (mặt trận
phương Đông), mặt trận Bắc Phi, mặt trận Châu Á – Thái Bình Dương và một
mặt trận rộng lớn là cuộc chiến đấu trong lòng địch của nhân dân các nước bị
phát xít chiếm đóng. Chiến tranh đã diễn ra trong vòng 6 năm (1939 - 1945).
Ngày 1/9/1939, nước Đức phát xít xâm lược Ba Lan trái với những toan tính
của Anh và Pháp. Ngày 3/9/1939, Anh, Pháp buộc phải tuyên chiến với Đức.
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và mau chóng lan rộng khắp thế giới.
Ở nước Pháp, chính phủ Đaladiê lợi dụng tình hình chiến tranh đã thi
hành một loạt các biện pháp đàn áp Cộng sản và lực lượng tiến bộ trong nước
cũng như ở các thuộc địa. Mặt trận nhân dân Pháp tan vỡ. Đảng Cộng sản
Pháp bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Về kinh tế, chính quyền thực dân Pháp
thực hiện chính sách kinh tế chỉ huy, tăng cường vơ vét tài nguyên, nhân lực
của Đông Dương để phục vụ cho chiến tranh ở nước Pháp.
Ở Đông Dương, toàn quyền Catơru bắt tay vào chiến dịch khủng bố.
Ngày 8/9/1939, Catơru ra lệnh cấm mọi hoạt động chính trị nhằm đánh vào
Đảng Cộng Sản Đông Dương và các quần chúng của Đảng.
“Cấm hết thảy mọi hoạt động có tính chất trực tiếp hay gián tiếp, tuyên
truyền các khẩu hiệu của Quốc tế Cộng sản hay những tổ chức do Quốc tế
Cộng sản kiểm soát.
Giải tán hết thảy các hội ái hữu hay các cá nhân nào có liên hệ với Đảng
Cộng sản, những tổ chức có hay không có liên hệ với Đảng Cộng sản mà hoạt
động theo khẩu hiệu của Đệ tam Quốc Tế cũng bị giải tán …
Tạ Thị Mến – K52 KTCT
1
Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam

Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
phá hoại như hồi năm 1930- 1931 mà trái lại còn bén rễ vào hàng triệu nông
dân lao động, làm cho phong trào cách mạng càng thêm vững mạnh.
Tóm lại, chiến tranh thế giới thứ II đã ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc
đến nước ta. Thực dân Pháp tham chiến. Ở Đông Dương, chúng thực hiện
chính sách thời chiến tăng cường vơ vét bóc lột, thủ tiêu mọi quyền tự do dân
chủ, đỉên cuồng tấn công Đảng Cộng Sản Đông Dương và các đoàn thể quần
chúng nhân dân.
Mùa thu 1940, phát xít Nhật tràn vào Đông Dương, thực dân Pháp từng
bước đầu hàng, dâng Đông Dương cho Nhật. Đế quốc Pháp và phát xít Nhật
câu kết với nhau, bóc lột nhân dân Đông Dương đến tận xương tủy. Đời sống
nhân dân khốn cùng, mâu thuẫn giữa các dân tộc Đông Dương với Pháp và
Nhật càng căng thẳng và sâu sắc hơn bao giờ hết.
Ngay khi chiến tranh thế giới thứ II sắp nổ ra, Đảng đã rút vào hoạt
động bí mật, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn đồng thời vẫn chú trọng
tới các đô thị.
Khi chiến tranh nổ ra, Đảng ra thông báo trong đó nhận định: hoàn cảnh
Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề giải phóng dân tộc. Vì lúc này, quyền
lợi của tất cả các giai cấp đều bị cướp giật, vận mệnh dân tộc đang nguy vong
hơn lúc nào bằng. Cho nên Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ
6 (11 – 1939) và Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng thứ 8 (5 - 1941)
đã chủ trương điều chỉnh chiến lược “cách mạng tư sản dân quyền”.
Đối với Hội nghị Trưng ương lần thứ 6 do đồng chí Nguyễn Văn Cừ -
tổng bí thư thứ ba của Đảng làm chủ trì. Dự hội nghị có các đồng chí Phan
Đăng Lưu, Lê Duẩn, Võ Văn Tần… quyết định thành lập Mặt trận dân tộc
thống nhất phản đế Đông Dương để đoàn kết các tầng lớp nhân dân, các giai
cấp, các dân tộc Đông Dương và chĩa mũi nhọn vào kẻ thù của cách mạng dân
tộc là chủ nghĩa đế quốc phát xít. Lực lượng chính của cách mệnh là công
Tạ Thị Mến – K52 KTCT
3

4
Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Nhân dân Việt Nam đang đấu tranh để thực hiện những chủ trương mới
của Đảng thì tình hình trong nước và thế giới có nhiều chuyển biến dồn dập.
Tháng 6 – 1940, nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng. Tháng 9 – 1940,
Đông Dương bị phát xít Nhật xâm lược. Thực dân Pháp đã đầu hàng phát xít
Nhật, chịu cho quân đội Nhật vào chiếm đóng Đông Dương. Nhưng nhân dân
Việt Nam vốn có truyền thống đấu tranh bất khuất, lại được Đảng ta giáo dục
đã liên tiếp nổi dậy chống Pháp - Nhật. Ngày 22 – 9 – 1940, quân Nhật đánh
vào Lạng Sơn, quân đội Pháp thua chạy rút qua châu Bắc Sơn kéo về miền
xuôi. Ngày 27 – 9 – 1940, nhân dân Bắc Sơn, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ
địa phương đã nổi dậy khởi nghĩa, nêu khẩu hiệu chống đế quốc Pháp - Nhật,
tước vũ khí của quân đội Pháp để tự vũ trang cho mình. Cuộc khởi nghĩa đang
tiếp diễn thì Nhật – Pháp đã thỏa hiệp với nhau để cho thực dân Pháp rảnh tay
đàn áp cách mạng Việt Nam. Xứ ủy Bắc Kỳ phái đồng chí Trần Đăng Ninh
đến Bắc Sơn, trực tiếp chỉ huy cuộc khởi nghĩa. Nhân dân Bắc Sơn đang họp
mitting ở Vũ Lăng để thành lập chính quyền cách mạng thì họ thiếu kinh
nghiệm và tinh thần cảnh giác không đủ nên đã bị quân Pháp đánh úp. Quân
khởi nghĩa rút vào rừng, thành lập đội du kích đầu tiên ở Việt Nam do Đảng ta
lãnh đạo.
Để hưởng ứng phong trào Bắc Sơn, một số địa phương nhận được chỉ
thị của Trung ương đã đấu tranh phối hợp đặc biệt là ở Ngọc Trạo (huyện
Thạch Thành – Thanh Hóa). Cuộc đấu tranh đã dẫn đến tổ chức lực lượng vũ
trang nhưng sau đó phải phân tán vào trong nhân dân.
Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn tuy bị thất bại nhưng đã bóc trần âm mưu của
phát xít Nhật – Pháp và đã đẻ ra lực lượng vũ trang đầu tiên của nhân dân ta
kể từ khi Đảng ta lãnh đạo cách mạng. Lực lượng vũ trang đó dần dần phát
triển thành “Việt nam cứu quốc quân”. Với cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, nhân
dân ta đã mở ra một trang lịch sử đấu tranh vũ trang mới. Cuộc khởi nghĩa
Tạ Thị Mến – K52 KTCT

Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Hội nghị nhận định rẳng: một cao trào cách mạng của nhân dân Đông
Dương nhất định sẽ nổ ra, vì thế Đảng phải lãnh đạo các dân tộc Đông Dương
chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa giành lại tự do và độc lập dân tộc.
Hội nghị còn nghe đồng chí Trần Đăng Ninh báo cáo về cuộc khởi
nghĩa Bắc Sơn và quyết định nhiệm vụ phải duy trì lực lượng vũ trang Bắc
Sơn, thành lập những tiểu đội du kịch hoạt động phân tán và tiến tới thành lập
căn cứ địa du kích, lấy vùng Bắc Sơn – Vũ Nhai làm trung tâm.
Về đề nghị của Đảng bộ Nam Kỳ, Hội nghị nhận định rằng: vì cuộc
khởi nghĩa Bắc Sơn đã thất bại và điều kiện khởi nghĩa ở Nam Kỳ và trong cả
nước đều chưa chín muồi cho nên chưa thể khởi nghĩa được mà nhiệm vụ
trước mắt của Đảng bộ Nam Kỳ là dùng những hình thức đấu tranh chính trị
và kinh tế chống thực dân Pháp và phát xít Nhật, phản đối chiến tranh Pháp –
Xiêm. Đồng thời, Đảng ra sức tuyên truyền, giáo dục, tổ chức quần chúng
nhân dân và binh lính, chuẩn bị điều kiện, chờ thời cơ tốt, chờ toàn quốc, sẽ
vũ trang khởi nghĩa đánh đuổi Pháp - Nhật. Nếu khởi nghĩa ngay thì sẽ bị cô
độc và có thể bị quân đội Pháp - Nhật liên hợp lại cùng tiêu diệt ta.
Đồng chí Phan Đăng Lưu về đến Nam Bộ thì được tin lệnh khởi nghĩa
đã phát đi các nơi rồi và đâu đó đã sẵn sàng, không thể thu hồi lệnh đó được
nữa. Đêm 23-11-1940, cuộc khởi nghĩa ở Nam Kỳ bùng nổ, Vì nổ ra trong
tình hình chưa trực tiếp cách mạng, lực lượng chủ yếu của cách mạng chỉ là
một số anh em binh lính trong quân đội địch, kế hoạch khởi nghĩa lại bị lộ và
cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã bị thất bại. Đế quốc Pháp tàn sát cực kỳ dã man
nhưng nhân dân Việt Nam không hề lùi bước. Khói lửa của khởi nghĩa Nam
Kỳ chưa tắt thì binh lính Đô Lương (Nghệ An) lại nổi dậy.
Các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ Đô Lương chưa giành được
thắng lợi nhưng đã nêu cao tình thần anh dũng, bất khuất của nhân dân Việt
Nam. Bao nhiêu đầu rơi, máu chảy đã để lại cho Đảng ta và nhân dân ta một
Tạ Thị Mến – K52 KTCT
7

Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
5-1941 ở Pác Pó (Cao Bằng), sát biên giới Trung Quốc. Dự hội nghị có các
đồng chí: Nguyễn Ái Quốc, Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh, Hoàng Quốc
Việt, Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan…
Hội nghị nhận định rằng: từ ngày Đông Dương chịu hai tầng áp bức của
phát xít Pháp - Nhật, mâu thuẫn giữa các dân tộc Đông Dương với đế quốc
xâm lược trở thành mâu thuẫn chủ yếu nhất vì ách áp bức quá nặng nề, các
dân tộc Đông Dương không thể nào chịu nổi. Đế quốc Pháp - Nhật chẳng
những áp bức các giai cấp thờ thuyền, dân cày mà chúng nó còn áp bức cả dân
tộc…Quyền lợi của các giai cấp đều bị cướp giật, vận mệnh dân tộc đang rất
nguy vong. Hội nghị xác định nhiệm vụ đánh Pháp đuổi Nhật không phải là
nhiệm vụ riêng của giai cấp công nông mà là nhiệm vụ chung của toàn thể
nhân dân Đông Dương. Do đó, Hội nghị nhấn mạnh: “Trong lúc này, quyền
lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, sự tồn vong của quốc
gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải
phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những
toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ
phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.
(3)
Vì vậy, Hội nghị
tiếp tục đặt nhiệm vụ giải phóng lên hàng đầu.
Để tập hợp các tầng lớp nhân dân đông đảo, các lực lượng cách mạng
của dân tộc chống kẻ thù chính của dân tộc là đế quốc phát xít Pháp - Nhật,
Hội nghị chủ trương trương thành lập Việt Nam độc lập đồng minh hội tức là
Mặt trận Việt Minh, cái tên đấy ý nghĩa và dễ động viên tinh thần dân tộc của
quần chúng.
Hội nghị đã nêu cao khẩu hiệu giải phóng dân tộc nên mục đích của các
hội quần chúng chủ yếu cũng là cứu nước và tên các hội quần chúng cũng đều
thống nhất là Hội cứu quốc.
Tạ Thị Mến – K52 KTCT

10
Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Nhưng lại chưa có “văn hóa cứu quốc”. Lập ra tổ chức “Hội cứu quốc
Việt Nam” là để thu hút những người thuộc giai cấp tư sản hoặc địa chủ tán
thành đánh Pháp đuổi Nhật. Chúng ta phải áp dụng chính sách mềm dẻo đối
với kẻ thù nhằm giải phóng dân tộc một cách nhanh chóng nhất. Chủ trương
giải phóng vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương. Mỗi dân
tộc ở Đông Dương sẽ phải tự giành lấy độc lập, tự do và trên cơ sở đã độc lập
tự do mà tự quyết vấn đề ở lại hay tách ra khỏi liên bang Đông Dương. Việt
Nam giúp Lào thành lập “Ai Lao độc lập đồng minh” và giúp Campuchia
thành lập “Cao Miên độc lập đồng minh” tiến tới thành lập Mặt trận chung
cho toàn Đông Dương với mục đích duy nhất “đánh đuổi Nhật – Pháp ra khỏi
Đông Dương”.
Hội nghị quyết định phải xúc tiến ngay công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ
trang, coi đây là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và của nhân dân ta trong giai
đoạn hiện tại. Để đưa cuộc khởi nghĩa vũ trang đến thắng lợi thì cần phải ra
sức phát triển lực lượng cách mạng và hình thức tổ chức thích hợp, tiến hành
xây dựng căn cứ địa. Phải tăng cường lãnh đạo lực lượng vũ trang, Trung
ương chỉ định đồng chí Phùng Chí Kiên và đống chí Lương Văn Chi cùng với
đồng chí Chu Văn Tấn lập thành Ban chỉ huy của các đội du kích ở Bắc Sơn –
Vũ Nhai lấy tên là “Việt Nam cứu quốc quân”.
Tám tháng du kích ở Bắc Sơn – Vũ Nhai đã nêu một bài học về đấu
tranh du kích như sau: dưới hai ách của phát xít Nhật – Pháp, nhân dân ta do
Đảng ta lãnh đạo có thể lập được căn cứ địa cách mạng và đánh du kích
trường kì để tiêu hao và tiêu diệt bọn đế quốc mạnh hơn rất nhiều nhưng phải
có cơ sở quần chúng rộng rãi để cho quân du kích hoạt động và phát triển.
Quy luật của chiến tranh du kích là dựa vào quần chúng, sinh sôi nảy nở, cơ
động cao độ, biến hóa không cùng. Nếu quân du kích giữa thế thủ và tự co
mình lại, xa lìa quần chúng thì sẽ bị tiêu diệt. Chiến tranh du kích là một hình
Tạ Thị Mến – K52 KTCT

Tạ Thị Mến – K52 KTCT
12
Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
phận tán thành Việt Minh. Số thân Pháp mỗi ngày một ít, số tưởng lầm rằng
có thể lợi dụng Nhật thì càng ngày càng thấy rõ bộ mặt phát xít đế quốc Nhật
và đâm ra thất vọng và sự ảnh hưởng của Việt Minh ngày càng tăng. Đảng ta
nhận thấy rằng đã đến lúc cần phải giúp giai cấp tư sản dân tộc và những
người trí thức tư sản Việt Nam thành lập một Đảng cách mạng để tranh thủ
giai cấp tư sản dân tộc Việt Nm và giới trí thức Việt Nam đứng trong Mặt trận
Việt Minh. Và như thế là một mặt phá chính sách lừa bịp “Đại Đông Á” của
đế quốc Nhật ở Việt Nam, mặt khác mở rộng thêm Mặt trận dân tộc thống
nhất chống phát xít Nhật – Pháp.
Đảng ta còn chủ trương vận động ngoại kiều dân chủ chống phát xít kể
cả những phần tử Pháp Đờ Gôn ở Đông Dương, thành lập Mặt trận dân chủ
Đông Dương chống phát xít đồng thời ra sức vận động binh lính Vỉệt Nam,
lính lê dương và lính Pháp.
Do những chủ trương đúng đắn đó của Đảng, uy tín của Việt Minh ngày
càng to lớn, ảnh hưởng của Việt Minh ngày càng tăng, phong trào cách mạng
Việt Nam ngày càng phát triển. Bọn phát xít Nhật – Pháp cảm thấy không thể
chỉ đàn áp, khủng bố mà có thể dập tắt được ngọn lửa cách mạng Việt Nam,
cho nên chúng cho hồi phục những đồi phong bại tục, truyền bá những tư
tưởng cải lương và phản động, lôi kéo thanh niên vào phong trào mà chúng
gọi là “khỏe để phụng sự” hòng đẩy thanh niên xa lìa con đường cách mạng,
qua đó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tuyển thanh niên đi lính.
Hội nghị Trung ương tháng 5- 1941 đã nhấn mạnh: “Việc đào tạo cán
bộ nay đã trở thành công tác gấp rút, không thể bỏ qua một giờ, một phút, tất
cả các cấp bộ chỉ huy của Đảng phải đặc biệt chú ý công tác này”. Những lớp
huấn luyện ngắn ngày được mở tương đối đều để đào tạo và bồi dưỡng cán bộ.
Những công tác bí mật, công tác tổ chức cơ quan, tổ chức giao thông liên lạc,
cũng được đúc thành kinh nghiệm để phổ biến cho cán bộ, đảng viên.

Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Sự điều chỉnh chiến lược cách mạng đúng đắn của Đảng có ý nghĩa
quyết định chiều hướng vận động của phong trào dân tộc, trực tiếp quyết định
thắng lợi của cách mạng Tháng 8.
Dẫn theo:
(1)
Dẫn theo Trần Văn Giàu: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế
kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, tập 3. Nhà xuất bản thành phố HCM,
1993, tr.166 – 167.
(2)
Trích Nghị quyết của Hội nghị Trung ương tháng 11- 1939.
(3)
Trích Nghị quyết của Hội nghị Trung ương tháng 5-1941.
(4)
Trích Nghị quyết của Hội nghị thường vụ Trung ương tháng 2- 1943.
Tài liệu:
1) Ba mươi năm đấu tranh của Đảng, tập I, Ban tuyên giáo trung ương –
Ban nghiên cứu lịch sử Đảng xuất bản.
2) Lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 1945, nhà xuất bản Đại học Sư Phạm.
3) Tìm hiểu môn học Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhà xuất bản lý
luận chính trị.
4) Giáo trình lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhà xuất bản chính trị
Quốc Gia.
5) Văn kiện Đảng toàn tập (1940 - 1945), nhà xuất bản chính trị Quốc Gia.
Tạ Thị Mến – K52 KTCT
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status