Khoá luận tốt nghiệp Đại học sư phạm nghệ thuật Trung
ương
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Nghệ thuật tạo hình hiện đại phương Tây thế kỷ XX là bước tiến quan
trọng nhất trong lịch sử mỹ thuật thế giới. Các họa sĩ thời kì này chịu ảnh hưởng
lớn bởi tính ước lệ của mỹ thuật phương Đông. Nghệ thuật truyền thống phương
Đông luôn mang tính ước lệ cao, chỉ gợi chứ không tả, tạo hình cô đọng với
đường nét khúc triết, hình mảng rõ ràng, màu sắc tươi tắn trong trẻo, giàu tính
trang trí. Điều này đã làm các họa sĩ phương Tây thích thú và thử nghiệm phong
cách tạo hình mới, dựa trên tinh thần sáng tạo của nghệ thuật Châu Á. Đưa tính
ước lệ vào tạo hình, hội họa hiện đại dần hình thành nên nhiều phong cách vẽ,
nhiều trường phái hội họa mang tính trang trí cao, vô cùng sáng tạo, đa dạng và
giàu biểu cảm.
Các trường phái đã hình thành và có tầm ảnh hưởng quan trọng đối với hội
họa thế giới sau này như: trường phái Dã thú với H.Mattise, Siêu thực với
S.Dali, M.Chagall, Lập thể với đại diện là P.Picasso, Braque … đều thể hiện sự
ảnh hưởng nhất định của tính trang trí trong tạo hình.
Có thể thấy, tính trang trí có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của
hội họa hiện đại nói riêng và nghệ thuật tạo hình nói chung. Hội họa thế kỷ XX
đã vô cùng thăng hoa với sự nở rộ của nhiều trào lưu nghệ thuật và nhiều phong
cách tạo hình độc đáo, sáng tạo, giàu biểu cảm, sử dụng tính trang trí trong tạo
hình. Đây cũng là cơ sở quan trọng, làm tiền đề cho hội họa và nghệ thuật đương
đại trở nên đa dạng phong phú về hình thức, đề tài và sâu sắc về nội dung.
Gustav Klimt là một trong những đại diện tiêu biểu cho phong cách hội họa
giàu tính trang trí. Ông cũng là đại diện xuất sắc của trường phái biểu hiện
Vienna danh tiếng của nước Áo, bên cạnh hai họa sĩ xuất chúng của trường phái
này là O.Kokoschka và E.Schieler.
Phong cách hội họa của G.Klimt vô cùng đặc sắc. Ông kết hợp những
mảng tạo hình trang trí, đặt xen lẫn với những hình thể phụ nữ đầy gợi cảm vẽ
Lê Tuyết Trinh
tranh ” của Lê Minh Đức… nhưng đó là những tìm hiểu trên diện rộng về hội
họa nói chung, hoặc ở khía cạnh tìm hiểu nghệ thuật truyền thống để phát triển
hội họa hiện đại Việt Nam. Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu học tập, bài
Lê Tuyết Trinh
2
Khoá luận tốt nghiệp Đại học sư phạm nghệ thuật Trung
ương
nghiên cứu này chỉ phân tích một khía cạnh là: những yếu tố tạo hình trang trí
cơ bản trong một số tác phẩm nổi bật của họa sĩ.
Đề tài này tuy không mới, nhưng những phân tích này sẽ cho thấy tầm quan
trọng của yếu tố tạo hình trang trí trong tranh của Klimt nói riêng và hội họa nói
chung. Đồng thời, nó góp phần nâng cao kiến thức hiểu biết về cuộc đời, sự nghiệp
và phong cách tạo hình của một trong những danh họa có ảnh hưởng nhất. Với
phong cách hội họa độc đáo, hiện đại và nội dung sâu sắc, những tác phẩm của
Gustav Klimt là nguồn cảm hứng để nhiều họa sĩ học hỏi sáng tạo nghệ thuật.
3. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu nhằm chỉ ra được hiệu quả thẩm mỹ và giá trị nghệ thuật của
tính trang trí trong hội họa, qua việc phân tích một số tác phẩm tiêu biểu của
Gustav Klimt.
4. Đối tượng nghiên cứu.
Tính trang trí trong một số tác phẩm tiêu biểu của Gustav Klimt.
5. Phạm vi nghiên cứu.
Tính trang trí trong một số tác phẩm tiêu biểu của Gustav Klimt như: Nụ
hôn, Ba giai đoạn của người phụ nữ, Sự sống và cái chết, Cây đời…
6. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Phân tích các yếu tố trang trí trong một số tác phẩm tiêu biểu của Gustav
Klimt để thấy được hiệu quả thẩm mỹ và giá trị nghệ thuật của chúng.
7. Phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu bằng phương pháp: thu thập tài liệu, phân tích, so sánh, tổng hợp.
8. Bố cục đề tài.
điểm màu, thể hiện trong các bức tranh phong cảnh rất đẹp của họa sĩ. Các tác
phẩm của ông lấy phụ nữ làm hình tượng chủ đạo. Hình ảnh nữ giới xuất hiện
liên tục trong tranh của G.Klimt ngay từ những tác phẩm đầu tiên. Ông đã say
mê vẽ phụ nữ và chủ đề về phụ nữ đến cuối đời. Đây cũng là chủ đề mang lại
thành công trong sự nghiệp của ông.
G.Klimt vẽ nhiều thể loại: tranh sử thi, tranh cổ điển, tranh mang tính ẩn
dụ, tranh chân dung, phong cảnh, tranh tường và các tác phẩm mang tính tượng
Lê Tuyết Trinh
4
Khoá luận tốt nghiệp Đại học sư phạm nghệ thuật Trung
ương
trưng. Chính những tác phẩm tượng trưng này đã chứa đựng những suy nghĩ và
tình cảm của họa sĩ. Chúng trở thành những tác phẩm quan trọng trong sự
nghiệp sáng tác của G.Klimt. Các tác phẩm của ông thường tràn ngập màu sắc
và hoa văn. Các hoa văn màu sắc viễn dị là một ham thích đặc biệt của họa sĩ.
Hoa văn sóng nước, mây, chim thú, hình nhân Á Đông, tranh tết của Trung Hoa,
tranh khắc gỗ màu sắc tươi tắn của Nhật Bản, tranh ghép gốm thời Byzantine…
là những bữa tiệc của màu sắc mà G.Klimt đắm chìm trong đó. Gustav Klimt
đặc biệt thích dùng lá vàng thật dán lên tranh gây hiệu quả lóng lánh, bắt mắt,
cùng với hệ thống đường nét vô cùng tinh nhã mảnh mai, chắt lọc, tạo nên
những tác phẩm tao nhã, sang trọng như Pallas Athene (H4), Nụ hôn (H17),
Chân dung Adele Bloch-Bauer I (H20) Song hiệu quả chói lọi, lóa mắt của
trang trí chỉ nhằm nhấn mạnh, đề cao chủ đề chính, nhân vật chính. Các hoa văn
trang trí giàu chất tượng trưng đã thể hiện được nhiều giá trị hơn là sự duy mỹ
đơn thuần. Hình tượng con người trong tranh G.Klimt, mà chủ yếu là người phụ
nữ, không chỉ gợi cảm mà còn toát lên sức sống mãnh liệt, là hình ảnh tượng
trưng đầy biểu cảm cho vẻ đẹp sự sống ( tác phẩm Sự sống và cái chết - H19, Ba
giai đoạn của người phụ nữ - H18 ) và tình yêu con người ( tác phẩm Nụ hôn ).
Có thể chia mảng sáng tác của G.Klimt ra hai giai đoạn chính:
Thời kỳ đầu trong sự nghiệp của Gustav Klimt là giai đoạn bản lề của thế
với bút pháp Tân ấn tượng, đã gây ấn tượng mới lạ cho người xem ( Hoa hướng
dương - H7 ).
Tranh chân dung phụ nữ chiếm số lượng lớn các sáng tác của G.Klimt.
Trong đó có khá nhiều tác phẩm là do người nổi tiếng đương thời đặt ông vẽ
chân dung. Có thể kể đến những bức tranh: Chân dung Emilie Floge (H10),
Chân dung Adele Bloch-Bauer I (H20)… Những bức chân dung phụ nữ được
ông sử dụng thủ pháp trang trí với nhiều mảng hoa văn họa tiết cách điệu để thể
hiện tính cách nhân vật. Nhưng sự phá cách táo bạo của Klimt đã bị từ chối bởi
chính những khách hàng của ông. Phải khá nhiều năm sau công chúng mới nhận
ra vẻ đẹp độc đáo trong tạo hình và chiều sâu ý nghĩa trong những tác phẩm hội
họa của Klimt.
Lê Tuyết Trinh
6
Khoá luận tốt nghiệp Đại học sư phạm nghệ thuật Trung
ương
Tranh Biểu hiện của Klimt thường chứa đựng nhiều triết lí về cuộc sống.
Tác phẩm Nụ hôn, Ba giai đoạn của người phụ nữ, Sự sống và cái chết, Cây
đời… cho thấy chiều sâu trong tư tưởng sáng tác của họa sĩ. Một số tác phẩm
khác lại được Klimt lấy cảm hứng từ sử tích và thần thoại như: Judith I, Judith
II (H11), Danae (H8), Leda cũng khơi gợi nhiều xúc cảm cho người xem. Các
nhân vật trong tranh được đặt trong tư thế và biểu cảm nét mặt khúc triết rõ ràng,
bộc lộ được tình cảm của nhân vật. Còn các chi tiết trang trí bao phủ nhân vật vừa
có tác dụng làm đẹp, vừa ẩn dụ cho tính cách và bản chất của nhân vật. Tính trang
trí trong tranh Klimt có giá trị lớn về thẩm mỹ đồng thời còn làm giàu thêm giá trị
nội dung của tác phẩm với khả năng biểu hiện phong phú sáng tạo.
Trong tranh G.Klimt xuất hiện khá nhiều họa tiết cách điệu từ hoa lá. Có lẽ
ông đã lấy cảm hứng khi vẽ những bức tranh phong cảnh trong vườn. Đối tượng
chính của ông là cây cối hoa lá màu sắc tươi sáng (Hoa hướng dương, Cây táo)
ngoài ra còn có một loạt tranh vẽ cảnh bên hồ Attersee rất thơ mộng ( Schoss
Kammer at lake Attersee ). Bút pháp lúc này của Klimt gần với khuynh hướng
Mỗi họa sĩ tìm thấy một khía cạnh khác nhau để khai thác. Và đối với Klimt thì
tranh khắc gỗ Nhật Bản là tiền đề cho yếu tố nét rất quan trọng trong phong cách
tạo hình của ông. Cụ thể ở đây là nét khái quát mang tính trang trí. Tranh và hoa
văn cổ Trung Quốc đã đi vào những tác phẩm của Klimt, mang đến sự tươi mới
về không gian và màu sắc trong các bức chân dung phụ nữ (H12). Tổng kết tất
cả những tìm hiểu trên, đã hình thành nên một phong cách nghệ thuật rất riêng
của Gustav Klimt.
Gustav Klimt nổi tiếng với những tác phẩm hội họa giàu chất trang trí.
Người xem không chỉ bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp hình thức mới lạ, mà còn
không ngừng thắc mắc về ý nghĩa ẩn đằng sau những chi tiết trang trí đã làm nên
trạng thái nửa thực nửa mộng trong tranh của ông. Hoa văn họa tiết của Klimt
ngoài việc để làm đẹp còn có ý đồ xác định, nhằm thể hiện trực tiếp bản chất và
đặc trưng tính cách của nhân vật. Ngôn ngữ biểu tượng đã được họa sĩ sử dụng
rất hiệu quả, với tạo hình họa tiết rất khúc triết, đơn giản mà giàu biểu cảm. Ông
Lê Tuyết Trinh
8
Khoá luận tốt nghiệp Đại học sư phạm nghệ thuật Trung
ương
thường dùng những hình cơ bản như: hình vuông, hình tròn, hình elip, xoáy
ốc…với sự kết hợp hài hòa về màu sắc, bố cục. Đặc trưng của tranh Klimt là
những họa tiết trang trí mang tính tượng trưng và tạo hình biểu cảm nhân vật có
tính ẩn dụ, bởi vậy có thể nói ngôn ngữ biểu tượng là đặc điểm nổi bật trong
phong cách nghệ thuật của họa sĩ này. Ông sử dụng hình thức này rất thành công
cả trong tranh chân dung lẫn tranh Biểu hiện.
Đối với các tranh chân dung, họa tiết trang trí có vai trò làm nổi bật vẻ đẹp
hình thức của nhân vật và còn góp phần thể hiện cá tính hay tư tưởng của người
được vẽ. Ví dụ như bức Chân dung Friederike Maria Beer (H12) cho thấy một
gương mặt phụ nữ ưu tư, dường như đang có nhiều tâm sự. Phần nền của bức
tranh được họa sĩ thể hiện bằng những hình người đang chiến đấu, mô phỏng
theo tranh cổ của Trung Quốc về đề tài chiến tranh. Nó diễn tả một cuộc chiến
đẩy cao giá trị biểu cảm của tác phẩm hội họa. Lối diễn đạt tinh tế uyển nhã rất
đẹp mắt này đã lôi cuốn người thưởng thức vào chiều sâu ý nghĩa của tác phẩm.
Tạo hình cách điệu cũng là yếu tố chủ đạo hình thành nên phong cách của
G.Klimt. Đầu tiên phải kể đến sự cách điệu về không gian tranh rất rõ ràng trong
nhiều tác phẩm chân dung phụ nữ và tranh Biểu hiện. Họa sĩ thường dùng không
gian ảo là những mảng màu đơn sắc dàn trải để nhấn mạnh cho nhân vật và họa
tiết vốn được diễn rất chi tiết. Phần nền của tranh Nụ hôn không phải là những
chi tiết phức tạp mà được giản lược thành không gian đơn sắc, làm nổi bật hình ảnh
đôi nam nữ ở chính diện và cả hoa văn trên trang phục. Ngược lại, trong nhiều tác
phẩm sau này lấy cảm hứng từ tranh cổ Trung Quốc, Klimt lại đề cao tính trang trí
phức tạp của nền tranh, nhằm bộc lộ tính cách nhân vật. Không gian ảo cách điệu
đã góp phần nâng cao giá trị biểu cảm của hình tượng con người.
Tạo hình họa tiết trang trí của G.Klimt rất đa dạng. Chỉ bằng những hình cơ
bản như hình vuông, tròn, tam giác, elip, xoáy ốc…họa sĩ đã sáng tạo được
nhiều chi tiết trang trí đặc sắc, rất bắt mắt. Klimt sử dụng lối cách điệu giản
lược, cho nên các hoa văn họa tiết đặt cạnh nhau trong tranh tưởng chừng phức
tạp, lại được tạo hình đơn giản bằng các mảng màu khá khúc triết và nét màu
Lê Tuyết Trinh
10
Khoá luận tốt nghiệp Đại học sư phạm nghệ thuật Trung
ương
dứt khoát.
Nhân vật trong tranh G.Klimt mang tính tả thực bởi chất da thịt sống động và
bút pháp gợi khối tinh tế, khiến hình thể có chiều sâu không gian. Nhưng tạo hình
của ông không hoàn toàn lệ thực mà được cách điệu theo hướng bóp hình. Hình
dáng phụ nữ có thể trở nên rất mảnh mai và thuôn dài hơn thực tế, mà vẫn giữ được
vẻ gợi cảm yêu kiều, như trong tranh Water serpents II (H6). Đường viền cơ thể
mang tính trang trí cũng thể hiện sự cách điệu về nét trên hình của nhân vật.
Một đặc điểm nổi bật nữa trong phong cách hội họa của G.Klimt là cách
thức gợi tả rất tinh tế, mà trong đó gợi nhiều hơn tả. Hình thể nhân vật được gợi
Hội họa là loại hình nghệ thuật thị giác nên nó tác động vào tâm tư, tình
cảm của người xem bằng ngôn ngữ đặc trưng, đó là đường nét, hình mảng, màu
sắc, đậm nhạt… Chúng được sắp xếp dưới nhiều hình thức và tạo thành một
tổng thể nghệ thuật để thể hiện thông điệp của họa sĩ. Mỗi người vẽ lại có cách
sử dụng ngôn ngữ tạo hình riêng để tạo nên hiệu quả thẩm mỹ mang dấu ấn cá
nhân. Trong tranh của họa sĩ Gustav Klimt, những yếu tố này được trình bày
dưới dạng trang trí bề mặt, làm tôn lên vẻ đẹp gợi cảm mang tính hiện thực của
hình thể con người, đồng thời nó cũng là ngôn ngữ tượng trưng làm tăng giá trị
biểu cảm của tác phẩm nghệ thuật.
2.1.1. Bố cục.
Bố cục tranh là sự sắp xếp bố trí những yếu tố tạo hình nhằm thể hiện ý tưởng
của người vẽ. Bởi vậy bố cục là nền tảng cho mọi hình tượng được xây dựng, là
tổng hòa của sự cân bằng hợp lí giữa các yếu tố còn lại. Tác phẩm của Gustav
Klimt vốn mang tính biểu hiện, đồng thời kết hợp với các chi tiết trang trí nên
không gian tranh khá phức tạp. Tổng thể của tác phẩm được tạo thành từ sự cân
bằng và nhịp điệu giữa những thành phần khác như nét, mảng, màu sắc, đậm nhạt.
Trong đó sự cân bằng giữa mảng và nét hình thành nên mảng trang trí bề mặt. Vậy
nên, khi xét đến tính trang trí trong tác phẩm hội họa thì bố cục rất quan trọng. Bố
cục trong các bức tranh của Klimt mang tính ước lệ cao nên họa sĩ sử dụng tính
Lê Tuyết Trinh
12
Khoá luận tốt nghiệp Đại học sư phạm nghệ thuật Trung
ương
trang trí trong việc xây dựng bố cục đã khiến tác phẩm giàu tính biểu hiện hơn.
Tính trang trí được thể hiện qua bố cục tác phẩm Cây đời (H16). Bức tranh
tường này có bố cục đối xứng, trọng tâm là hình ảnh cây đời vươn tỏa thân cành
rộng sang hai phía. Tương ứng hai bên cây đời là hình ảnh tượng trưng cho sự hi
vọng và sự mãn nguyện được đặt đối xứng như thể hiện sự cân bằng trong cuộc
sống. Thông qua hình ảnh cây đời, con người gửi gắm những hi vọng và ước
nguyện vào tương lai.
hai mảng hình .
Như đã nói, đặc trưng trong tác phẩm của G.Klimt là không gian kết hợp
giữa sự trang trí thuần túy trên bề mặt và sự gợi khối tinh tế nhằm tôn vinh vẻ
đẹp con người, đồng thời mang tính ẩn dụ nhiều tầng ý nghĩa của tác giả. Những
mảng trang trí được hình thành bởi sự cân bằng giữa đường nét và mảng hình.
Chúng hòa hợp với nhau bằng nhịp điệu và màu sắc, khiến không gian ảo trong
tranh luôn rộn ràng bắt mắt nhưng vẫn hài hòa với mảng nhân vật. Các mảng
trang trí được họa sĩ bố trí linh hoạt cho phù hợp với ý tưởng sáng tác. Như
trong bức tranh Sự sống và cái chết, các mảng họa tiết đan xen hài hòa với nhân
vật bằng nhịp điệu và sự cân bằng theo cảm quan của họa sĩ. Nhưng chính
những mảng họa tiết rực rỡ sắc màu không rõ hình thù lại biểu hiện thành công
sức sống mãnh liệt trong ý đồ của tác giả. Khác với nó, tác phẩm Nụ hôn lại cho
thấy sự gắn kết của hai hình thức tương phản. Mảng trang trí ôm sát cơ thể hai
nhân vật thể hiện rõ hình thể và được trang trí bằng những họa tiết khác biệt.
Trên cơ thể người đàn ông được bao phủ bởi những chi tiết trang trí biểu hiện
cho tính cách và sức mạnh của nam giới. Ngược lại, cơ thể người phụ nữ được
trang điểm bằng những họa tiết nói lên vẻ đẹp nữ tính. G.Klimt đặt hai mảng
hình này sát cạnh nhau nhưng vẫn trong tổng thể về màu sắc, khiến người xem
cảm nhận được sự hòa hợp trong tình yêu đôi lứa.
Trong tranh G.Klimt có sự phức tạp cao về cường độ xuất hiện những chi
tiết trang trí. Nhưng chính sự phức tạp đó lại khiến phong cách nghệ thuật của
ông trở nên vô cùng lôi cuốn. Họa sĩ đã khéo léo vận dụng những họa tiết ước lệ
với tạo hình nhân vật để tạo thành tổng thể hội họa giàu triết li nhân văn. Tác
phẩm của ông đã đồng thời đáp ứng được sự đòi hỏi về cái đẹp và cái mới luôn
Lê Tuyết Trinh
14
Khoá luận tốt nghiệp Đại học sư phạm nghệ thuật Trung
ương
được đặt ra trong nghệ thuật.
2.1.2. Đường nét.
tạo cảm giác miên man bất tận. Đường cong hình xoáy ốc ở bức tranh này như
thể hiện tính ý niệm về nhân sinh, về vòng luân hồi và quy luật nhân quả của
cuộc sống mà người nghệ sĩ gửi gắm.
Nét không chỉ thể hiện rõ ràng trên các hoa văn trang trí mà còn được họa
sĩ dụng công rất tinh tế trên nhân vật. Hình thể con người trong tranh luôn tạo
được cảm giác có độ nổi của khối là do họa sĩ dùng sắc độ màu và nét đậm nhạt
để gợi. Tuy nhiên đường nét gợi hình thể nhân vật cũng đồng thời có tính trang
trí. Họa sĩ đã gợi hình của nhân vật và các bộ phận trên cơ thể bằng nét chắt lọc
khái quát mang tính trang trí. Có lẽ Klimt chịu ảnh hưởng từ nét trong tranh
khắc gỗ Nhật Bản (H14). Những nét này mảnh và mềm mại, tạo cảm giác nét
đều và khoanh lấy nhân vật. Đan xen nhịp nhàng với nét chắt lọc là nét nhấn gợi
đậm nhạt rất tinh tế, giữ được độ nổi của chất da thịt. Lối sử dụng nét linh hoạt
này khiến cho cơ thể nhân vật tuy có bề nổi nhưng không tách biệt với không
gian trang trí phẳng xung quanh. Sự đồng điệu về nét đã tạo nên ấn tượng về
tính trang trí bao trùm các tác phẩm.
2.1.3. Hình mảng.
Hình mảng trong tranh Gustav Klimt có thể chia ra hai phần là: hình nhân
vật gợi khối và mảng trang trí phẳng. Trong đó, mảng trang trí phẳng có vai trò
làm đẹp và góp phần nâng cao khả năng biểu hiện cho tác phẩm hội họa. Ông
kết hợp các yếu tố hình thể với những trang trí mang tính ẩn dụ được thể hiện
trên trang phục nhân vật. Các mảng trang trí đã tạo thành những miếng hình
khúc triết kết hợp với những khoảng trống hư ảo, thơ mộng tạo thành một bố
cục hiện đại, mang đến cảm quan mới lạ cho người thưởng thức.
G.Klimt đã nghiên cứu, tìm hiểu các chiều hướng hình thể phụ nữ bằng
nhiều kí họa, và đã thể hiện rất thành công. Nhân vật được họa sĩ thể hiện bằng
bút pháp Ấn tượng, gợi khối bằng sắc độ đậm nhạt của màu. Tạo hình của nhân
vật mang tính tượng trưng cao trong các cử chỉ, dáng điệu và biểu cảm nét mặt.
Mảng trang trí được sáng tạo rất đa dạng với nhiều chi tiết hoa văn cách
Lê Tuyết Trinh
16
Lê Tuyết Trinh
17
Khoá luận tốt nghiệp Đại học sư phạm nghệ thuật Trung
ương
Chính mảng này đã làm cân bằng bố cục tổng thể, cùng lúc nó tạo với hai nhân
vật thành một khối thống nhất, tượng trưng cho sự gắn bó sâu sắc trong tình yêu.
Mảng trang trí không chỉ tạo ấn tượng thẩm mỹ và thể hiện tính tượng
trưng mà còn là yếu tố tạo chất. Chất liệu sơn dầu đã được họa sĩ sử dụng rất đa
dạng bằng bút pháp linh hoạt. Klimt đã kết hợp dùng lá vàng, mang lại vẻ đẹp
lộng lẫy sang trọng cho nhiều họa phẩm của mình.
Phong cách hội họa của G.Klimt mang đến cho người xem trải nghiệm mới
lạ, đắm chìm trong không gian ảo và thực đầy lôi cuốn. Trong đó, mảng trang trí
đóng vai trò làm đẹp, đồng thời mang tính ẩn dụ sâu sắc, làm giàu thêm ý nghĩa
biểu cảm của hình ảnh.
2.1.4. Màu sắc.
Màu sắc được sử dụng để biểu đạt cảm xúc trong hội họa. Màu sắc có thể
gợi đậm nhạt bằng sắc độ và tạo chiều sâu cho bức tranh. Đồng thời màu sắc còn
có khả năng liên kết các yếu tố tạo hình còn lại. Mỗi màu sắc lại mang một sắc
thái riêng, đem đến cảm nhận khác nhau cho con người. Cảm xúc và cảm giác
mà màu sắc mang lại cho con người là cơ sở để họa sĩ tác động đến thị giác
người xem.
G.Klimt là họa sĩ Biểu hiện, tranh ông không chỉ đẹp mà còn có nội dung
sâu sắc. Màu sắc trong tranh ông cũng đồng thời mang tính tượng trưng nhằm
truyền đạt ý tưởng sáng tác. Điều này thể hiện rõ nhất trong bức Sự sống và cái
chết (H19). Hình tượng cái chết được ước lệ bằng hòa sắc lạnh âm u cùng với
hình ảnh cây thánh giá, là biểu tượng cho nghĩa địa và người chết trong văn hóa
phương Tây. Đối nghịch với nó là hình tượng của sự sống căng tràn, với sự bùng
nổ tuôn trào của những màu sắc hết sức tươi sáng. Màu sắc còn thể hiện phẩm
chất hoặc tình cảm của nhân vật. Sắc vàng lộng lẫy của kim loại vàng đã nêu bật
được khí chất sang trọng quí phái của Chân dung Adele Bloch-Bauer I (H20).
trọng làm nên vẻ đẹp độc đáo trong tranh của Gustav Klimt. Chúng gây được ấn
tượng mạnh mẽ bởi sự kết hợp táo bạo mà tinh tế với hình thể con người gợi
cảm. Các chi tiết trang trí đóng vai trò làm đẹp nhưng cũng ẩn dụ nhiều tầng ý
nghĩa, khiến người xem thích thú tìm hiểu.
Lê Tuyết Trinh
19
Khoá luận tốt nghiệp Đại học sư phạm nghệ thuật Trung
ương
Những chi tiết trang trí có tác động kích thích mạnh mẽ tới thị giác con
người, bởi tính lặp lại liên tục của các chi tiết hoa văn màu sắc rực rỡ dễ dàng
gây chú ý hơn những mảng màu đơn sắc. Klimt sử dụng chúng xây dựng nên
không gian ảo ước lệ và tạo được cảm quan mới lạ. Nhịp điệu của màu sắc và
các mảng họa tiết trang trí hòa vào nhau thành nhịp trang trí rất uyển chuyển.
Tất cả làm nên vẻ đẹp ám ảnh lạ lùng, khiến ta như lạc vào một chiều không
gian ảo mộng, nửa thực nửa hư.
Không chỉ có tác dụng làm đẹp đơn thuần, các chi tiết hoa văn đồng thời có
khả năng tạo chất. Trong các tác phẩm hội họa, kĩ thuật tạo chất thường giúp
nâng cao giá trị biểu đạt của tác phẩm và làm đa dạng các hình thức thể hiện của
chất liệu. Chẳng hạn như việc các họa sĩ Cổ điển thường cố tả chất giống y như
thật bằng cách vẽ vờn. Còn các họa sĩ Ấn tượng và Hậu ấn tượng lại dùng những
vệt màu tươi rất mạnh bạo để thể hiện cảm xúc. Như trong tranh V.Vangogh, vệt
sơn hằn rõ trên bề mặt tranh gây cảm giác cuồn cuộn rất mãnh liệt. Trong tranh
G.Klimt, các họa tiết được nối tiếp nhau với mật độ dày đặc tạo nên ảo giác về
không gian. Bố cục các mảng chi tiết trang trí to nhỏ, mau thưa rất linh hoạt tạo
nên nhịp điệu hài hòa với mảng nhân vật.
Tính trang trí trong tranh G.Klimt là sáng tạo mới mẻ khác biệt với mọi
phong cách tạo hình theo lối trang trí vào thời điểm đó. Để thấy được rõ hơn
hiệu quả thẩm mỹ trong phong cách tạo hình của ông, cần phải so sánh tác phẩm
của Klimt với tranh của họa sĩ có sự tương đồng nhất định với phong cách sáng
tác của ông. Mà tiêu biểu nhất là họa sĩ Egon Schiele.
như Judith I, Chân dung Gertha Felsovanyi, Chân dung Marie Henneberg…
Trong đó, bức Chân dung Marie Henneberg vẽ vào khoảng năm 1901-02 có
cùng môtip chân dung phụ nữ ngồi ghế với hai tác phẩm sau này mà Klimt đã
đưa tính trang trí vào là Chân dung Fritza Riedler ( 1906 ) và Chân dung Adele
Bloch-Bauer I ( 1907 ). Điều này cho phép ta so sánh ba tác phẩm để thấy được
vai trò quan trọng và hiệu quả của tính trang trí trong tranh G.Klimt.
Chân dung Marie Henneberg (H24) được vẽ vào khoảng năm 1901-02, với
bút pháp Ấn tượng, thể hiện rõ nhất ở nền tranh và chiếc ghế. Những vạch màu
đan xen, chồng lên nhau tạo cảm giác về chất liệu của sự vật và sự chuyển động
Lê Tuyết Trinh
21
Khoá luận tốt nghiệp Đại học sư phạm nghệ thuật Trung
ương
của không khí, ánh sáng trong không gian. Chiếc ghế như hòa vào không gian
nền, làm nổi bật người phụ nữ với chiếc váy sáng màu được thể hiện bằng mảng
màu lớn.
Phải đến vài năm sau, G.Klimt lại vẽ liên tiếp hai bức chân dung phụ nữ
ngồi ghế, nhưng với phong cách kì lạ nhất. Chân dung Fritza Riedler (H25) tả
thực, lại được đặt trong không gian mang tính trang trí hoàn toàn. Klimt đã vẽ
người mẫu của mình đang ngồi trên một chiếc ghế ở dạng một mảng trang trí
phẳng chặn ở góc tranh và ôm lấy nhân vật, khiến bề nổi của chân dung được
đẩy lên. Họa sĩ đã sử dụng hai chiều không gian khác nhau để nhấn mạnh nhân
vật chính. Nhưng bức tranh vẫn có sự hài hòa, bởi hòa sắc trắng của bộ váy và
chiếc ghế khiến hai mảng này không tương phản gay gắt, và đường nét gợi khối
cho nhân vật cũng mang tính trang trí. Klimt cũng không quên gợi không gian
bằng cách thay đổi hướng và hình mảng của họa tiết để tạo chiều sâu. Ở bức
tranh này, phần nền quanh nhân vật là những mảng tường ước lệ, vuông vắn,
khiến không khí tranh trở nên cô đọng chứ không có cảm giác về sự chuyển
động trong không gian như bức Chân dung Marie Henneberg. Nhưng mảng họa
tiết trang trí dạng phẳng lại gây sự thu hút và đặc biệt làm nổi bật được vẻ đẹp
trong các tác phẩm của Klimt đã đáp ứng được đòi hỏi về cái đẹp hình thức. Các
mảng trang trí màu sắc rực rỡ gây kích thích thị giác người xem, cùng với tạo
hình nhân vật bắt mắt và nội dung triết lí sâu sắc, đã khiến tác phẩm để lại ấn
tượng trong lòng các thế hệ công chúng.
Thế kỷ XX là khoảng thời gian mà nghệ thuật gặt hái nhiều thành tựu rực
rỡ bởi sự xuất hiện liên tiếp của các trào lưu nghệ thuật hiện đại. Là họa sĩ tiên
phong, G.Klimt đã ủng hộ nhiệt tình cho phong trào nghệ thuật mới bằng những
tác phẩm Biểu hiện đặc sắc, thỏa mãn sự khát khao cái mới cả về hình thức lẫn
nội dung. Cái mới trong tác phẩm của ông là sự cách tân đầy tính sáng tạo
những giá trị thẩm mỹ truyền thống của cả phương Đông và phương Tây, kết
hợp với phong cách tạo hình hiện đại, tạo nên giá trị mới phù hợp với nhu cầu
thẩm mỹ của thời đại lại vừa giữ được những tinh hoa văn hóa của lịch sử. Cái
mới trong tranh của Klimt vừa có giá trị về sáng tạo, lại vừa có giá trị bảo tồn và
Lê Tuyết Trinh
23
Khoá luận tốt nghiệp Đại học sư phạm nghệ thuật Trung
ương
phát huy truyền thống.
Phong cách của G.Klimt có thể coi là tiêu biểu cho tính trang trí trong hội
họa. Sau ông, các họa sĩ cũng đã tìm tòi sáng tạo nhiều phong cách hội họa trên
cơ sở các yếu tố trang trí. Sáng tạo của ông đã trở thành cảm hứng để nhiều thế
hệ học tập theo. Nghệ thuật của ông luôn có giá trị tham khảo. Nhiều tác phẩm
nghệ thuật đương đại cho thấy có sự vận dụng những mảng họa tiết trang trí
bằng nhiều phong cách thể hiện khác nhau (H28, H30). Đối với mỹ thuật Việt
Nam nói riêng, tính trang trí trong hội họa của Klimt có thể trở thành gợi ý để
các họa sĩ khai thác vốn văn hóa dân gian, đưa vào các sáng tác hiện đại để phát
huy nghệ thuật truyền thống. Nhiều họa sĩ trẻ Việt Nam thực sự gây được ấn
tượng bằng phong cách tạo hình giàu tính trang trí, mà nữ họa sĩ Đinh Thị Thắm
Poong là điển hình (H27, H29).
Những tác phẩm Biểu hiện của Gustav Klimt không chỉ thỏa mãn thẩm mỹ
tượng xuất hiện trong nhiều nền văn hóa. Nó là tượng trưng cho niềm tin của
con người về thế giới tâm linh, về sự luân hồi và nhân quả của cuộc sống. Cây
đời cũng đồng thời là hiện thân của sự sống, sức sinh sôi nảy nở của thiên
nhiên…Với ý nghĩa đó, Cây đời của Klimt được tạo hình với thân cành là những
vòng xoáy như vòng quay bất tận của cuộc sống, chúng lan tỏa và bao trùm tòan
bộ không gian tranh. Hình ảnh Hi vọng và Mãn nguyện được đặt đối xứng hai
bên cây đời, như phản ánh những hi vọng mong đợi và được thỏa mãn trong
vòng luân hồi nhân quả, một nét tương đồng với tư tưởng Á Đông.
Thông qua các tác phẩm, người xem có thể nhận thấy sự quan sát và cảm
nhận tinh tế của tác giả trong cả nội dung lẫn tạo hình. Những khía cạnh khá
trừu tượng trong cuộc sống được thể hiện hết sức ấn tượng và đầy sáng tạo.
Chúng gây thu hút mạnh mẽ bởi vẻ mới lạ về hình thức và ý nghĩa ẩn dụ của
tranh. Điều này đã khẳng định giá trị nội dung của các tác phẩm, qua đó cho
thấy vai trò quan trọng của tính trang trí trong việc thể hiện thành công ý tưởng
của họa sĩ. Họa tiết trang trí trong tranh của Klimt đã trở thành mối liên kết
nhuần nhị giữa vẻ đẹp truyền thống của các nền mỹ thuật phương Đông và
phương Tây, với sự sáng tạo đầy táo bạo, mới mẻ và hiện đại. Ông đã ghi tên
Lê Tuyết Trinh
25