Lồng ghép chuyên đề dinh dưỡng trong môn học khám phá khoa học
PHỤ LỤC
A. Đặt vấn đề
I. Mục đích nghiên cứu:
II. Nhiệm vụ nghiên cứu:
III. Đối tượng, thời gian và phương pháp nghiên cứu:
1. Đối tượng nghiên cứu.
2. Thời gian nghiên cứu
3. Phương pháp nghiên cứu.
B. Giải quyết vấn đề
I. Cơ sở lý luận
II. Cơ sở thực tiễn
III. Tình hình chung của đơn vị
IV. Một số biện pháp giúp: " Lồng ghép chuyên đề dinh dưỡng, sức khỏe cho trẻ
mẫu giáo trong môn khám phá khoa học" đạt hiệu quả
V. Những kết quả đạt được:
C. Kiến nghị:
Đỗ Thị Mai Hồng Nhung Trường MN Hoa Sim
1
Lồng ghép chuyên đề dinh dưỡng trong môn học khám phá khoa học
A. Đặt vấn đề
Trong một lần tôi được đọc và biết đến bản di chúc của Người, Bác Hồ 2 lần nhắc
đến nhi đồng. Một lần ở đoạn mở đầu và một lần ở đoạn kết thúc. Bác viết: “Tôi có ý
định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp 2 miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và
chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý
của chúng ta”. Ở đoạn kết thúc Bác lại viết: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân
yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thiếu niên và nhi
đồng”.
Xưa nay, ở nước ta và ngay cả trên thế giới quả hiếm có vị lãnh tụ nào dành nhiều
tình cảm, suy nghĩ và cả thời gian quý báu cho các cháu thiếu niên, nhi đồng như Bác
Hồ, cho đến khi sắp từ biệt thế giới này Bác đã hai lần nhắc đến các cháu “Nhi đồng
Hay cho câu: “Dạy trẻ cũng như trồng cây non. Trồng cây non được tốt thì sau này
cây lên tốt. Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này các cháu thành người tốt”. Quả đúng là như
vậy trẻ em như búp non trên cành nếu được chăm sóc cẩn thận thì chồi non đó sẽ phát
Đỗ Thị Mai Hồng Nhung Trường MN Hoa Sim
2
Lồng ghép chuyên đề dinh dưỡng trong môn học khám phá khoa học
triển. Cũng như con người nếu được yêu thương, chăm sóc chu đáo ngay từ khi mới
sinh của người mẹ và gia đình cho đến khi đứa trẻ đó được tới trường, tới lớp được sự
chăm sóc chu đáo của cô giáo mầm non thì đứa trẻ đó sẽ phát triển toàn diện về: “
Đức, trí, lao, thể, mĩ”. Muốn đứa trẻ phát triển toàn diện thì điều đầu tiên chúng ta
nhắc đến đó là: “sức khoẻ” do đó dinh dưỡng là nhu cầu sống hàng ngày của mỗi con
người. Trẻ em cần dinh dưỡng để phát triển về thể lực và trí tuệ và góp phần phát
triển toàn diện nhân cách cho trẻ, người lớn cần dinh dưỡng để duy trì sự sống và làm
việc. Dinh dưỡng học nghiên cứu mối quan hệ thiết yếu giữa thức ăn và cơ thể con
người, tất cả chúng ta đều thấy rõ tầm quan trọng của việc ăn uống là một nhu cầu
hằng ngày, một nhu cầu cấp bách bức thiết không thể không có. Tuy vậy hiện nay
trong nền kinh tế thị trường các vấn đề nảy sinh do chế độ dinh dưỡng không đầy đủ
và không hợp lý vẫn là điều mọi người phải quan tâm xem xét. Chúng ta biết rằng
tình trạng dinh dưỡng tốt của mọi người nói chung, trẻ em nói riêng phụ thuộc vào
khẩu phần dinh dưỡng thích hợp, việc được chăm sóc sức khoẻ đầy đủ có môi trường
sống hợp vệ sinh.
Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng của giá trị dinh dưỡng và điều kiện
kinh tế hiện nay, là một giáo viên mầm non tôi cần giáo dục dinh dưỡng cho mọi
người, nhất là đối với trẻ ngay ở độ tuổi mầm non.
Giáo dục dinh dưỡng là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến tình
cảm, lý trí con người nhằm làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành động để đi đến tự
giác. Chăm lo vấn đề ăn uống và sức khoẻ cá nhân, tập thể cộng đồng.
Chính vì vậy, Tôi đã hết sức đắn đo và đi đến quyết định là tập trung để tiến hành
nghiên cứu đề tài: " Lồng ghép chuyên đề dinh dưỡng, sức khỏe cho trẻ mẫu giáo
trong môn khám phá khoa học” ở độ tuổi từ 5 - 6 tuổi.
người xã hội chủ nghĩa”. Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng tại hội nghị
tổng kết ngành thể dục thể thao 23/03/1973 có nói: “ Con người xã hội chủ nghĩa là
con người khoẻ mạnh lúc nào cũng sung sức, cơ thể tốt, thần kinh, tinh thần tốt”.
Để đạt được điều đó.
“ Vì lợi ích mười năm trồng cây,
Vì lợi ích trăm năm trồng người”.
Trong văn kiện Đại hội lần thứ IV Ban chấp hành TW Đảng cộng sản Việt Nam
khoá 7 tháng 12/1993 khẳng định : “ Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động
lực phát triển kinh tế xã hội” Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân.
Mục đích của nền giáo dục XHCN Việt Nam là đào tạo ra những con người có kiến
thức văn hoá, có sức khoẻ, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ sáng tạo và có kỉ
luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có cuộc sống lành mạnh đáp
ứng nhu cầu phát triển của đất nước.
Các cơ sở giáo dục mầm non có nhiệm vụ tạo điều kiện tốt nhất để trẻ phát triển hài
hoà thể chất và tinh thần, phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường, gia đình - xã hội
để chăm sóc giáo dục trẻ từ 0 - 6 tuổi phát triển một cách toàn diện, đặt nền tảng đầu
tiên cho sự hình thành những phẩm chất con người mới XHCN đó là:
- Khoẻ mạnh, nhanh nhẹn cơ thể phát triển hoàn hảo cân đối.
- Giàu lòng yêu thương, biết quan tâm, nhường nhịn giúp đỡ những người gần gũi,
thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên.
- Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra những cái đẹp xung
quanh.
- Thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi, có một số kỹ năng sơ đẳng
( quan sát, so sánh, phát triển tổng hợp, suy luận ) cần thiết để lên lớp lớn và tiếp tục
vào trường phổ thông, thích đi học.
Như chúng ta đã thấy vấn đề dinh dưỡng chiếm một vị trí rất quan trọng. Có ảnh
hưởng quyết định đến sự sinh trưởng và phát triển cơ thể trẻ. Vì vậy chương trình
lồng ghép giáo dục nội dung dinh dưỡng vào giảng dạy cho trẻ mẫu giáo nhằm giúp
trẻ hiểu và nhận biết về lợi ích của vấn đề dinh dưỡng đối với cơ thể con người và tạo
ra sự liên thông về giáo dục dinh dưỡng liên tục từ lứa tuổi mẫu giáo đến lứa tuổi học
dưỡng cho trẻ là một vấn đề được nhà trường rất quan tâm. Việc giáo dục dinh dưỡng
được giáo viên thực hiện ở mọi lúc mọi nơi, trong tiết học, ngoài tiết học đặc biệt
trong các bữa ăn hàng ngày. Chính vì được thực hiện thường xuyên trên lớp nên trẻ đã
có những hiểu biết nhất định về dinh dưỡng. Đồ dùng trực quan tương đối đầy đủ,
quan trọng hơn cả là bản thân tôi đã mày mò và chuẩn bị tiết dạy theo đúng phương
pháp tổ chức hoạt động.
1. Thuận lợi:
Do đặc thù lớp tôi là 1 trong 3 lớp lá của trường được ăn bán trú tại trường hơn nữa
các cháu lại có cùng chung một độ tuổi nên có đặc điểm tâm sinh lý và khả năng giao
tiếp tương đương nhau vì thế thuận lợi cho việc đưa ra một chương trình, một nội
dung hoạt động thống nhất trong lớp học, một chế độ dinh dưỡng hợp lý.
Học sinh lớp tôi đa phần các cháu là con em nông dân và một số ít là con em cán
bộ công nhân viên và kinh doanh buôn bán nhưng các bậc phụ huynh đã tỏ ra là có
nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của giáo dục mầm non luôn quan tâm đến việc
học tập và phát triển về mọi mặt của con em mình nên đã nhiệt tình lắng nghe và phối
hợp cùng cô giáo để tạo điều phát triển toàn diện cho trẻ. Đặc biệt là vấn đề dinh
dưỡng nên tạo thuận lợi cho việc chăm sóc giáo dục trẻ mọi lúc, mọi nơi, ở nhà cũng
như ở trường học.
Thấy được sự cần thiết trong việc đổi mới phương pháp dạy học, giáo dục, chăm
sóc trẻ mầm non là quan trọng và bức thiết hơn cả thêm vào đó nhà trường luôn có
được sự ủng hộ và giúp đỡ từ phía phụ huynh. Do vậy nhà trường cũng hết sức quan
tâm trong việc mua sắm đồ dùng, đồ chơi, trang thiết bị phục vụ dạy và học, đồ dùng
bán trú đầy đủ như: Đầu năm nhà trường đã tu sửa được không gian bếp ăn sạch,
thoáng với các loại dụng cụ mới dùng trong nấu nướng, mua những vật dụng cần thiết
cho sinh hoạt trên lớp cho các cháu như khăn lau mặt, bàn chải đánh răng, ca uống
Đỗ Thị Mai Hồng Nhung Trường MN Hoa Sim
5
Lồng ghép chuyên đề dinh dưỡng trong môn học khám phá khoa học
nước Tạo môi trường cảnh quan phong phú, sạch đẹp cho trẻ khám phá, tìm hiểu
như: Các loại cây hoa xung quanh trường lớp, trồng thêm một số cây bóng mát để các
với trẻ thơ, còn mờ nhạt ít ấn tượng mau quên.
- Do giá cả thị trường biến động phần nào có ảnh hưởng đến bữa ăn của trẻ, mặc dù
nhà trường thường xuyên thay đổi thực đơn ăn cho trẻ hàng ngày, hàng tuần, theo
mùa, theo địa phương cho nên nhận thức của trẻ về các thực phẩm mới (hải sản) còn
hạn chế. Điển hình như thứ 2 sáng trường ăn thịt bò xào rau củ, canh rau nấu tôm;
chiều cháo xương thì thứ 3 trường đổi món cho các cháu như sáng ăn cá thu xốt cà
chua, canh chua đến chiều là ăn chè
- Do nhận thức của một số phụ huynh còn hạn chế, chưa thực sự quan tâm đến bữa ăn
khoa học cho trẻ, mà chỉ cho trẻ ăn theo ý thích của trẻ. Thậm chí trên thực tế có
nhiều phụ huynh khi được hỏi về cách cho con em mình ăn sáng như thế nào? Thì vẫn
còn tồn tại một số câu trả lời đại loại như: Chị không có thời gian chuẩn bị bữa sáng
cho cháu vì nhà bán hàng phải đi từ sớm. Hay: Bữa sáng quan trọng gì, có ăn là được
rồi, tụi nhỏ thì ăn được bao nhiêu, uống hộp sữa là bổ rồi Do vậy, không tránh được
việc một số phụ huynh mua những loại thức ăn bán sắn ngoài thị trường làm đồ ăn
sáng cho con em mình mang lên lớp như bim bim, bánh mì ngọt, bánh gạo Một số
em thì chỉ uống sữa.
- Do cơ thể của trẻ không hấp thụ được các chất dinh dưỡng.
=> Do vậy, xuất phát từ nội dung giáo dục dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi
Căn cứ vào đặc điểm sức khoẻ của trẻ 5 - 6 tuổi cần tổ chức giáo dục dinh dưỡng qua
tất cả các hình thức tổ chức hướng dẫn trẻ làm quen với khám phá khoa học. Chính
điều này làm tôi trăn trở suy nghĩ làm thế nào để khắc phục tình trạng trên. Tôi đã suy
nghĩ và tìm tòi đề tài: “Lồng ghép chuyên đề dinh dưỡng, sức khỏe cho trẻ mẫu giáo
trong môn khám phá khoa học”
IV. Một số biện pháp giúp: " Lồng ghép chuyên đề dinh dưỡng, sức khỏe cho trẻ
mẫu giáo trong môn học khám phá khoa học" đạt hiệu quả
Ăn là một nhu cầu không thể thiếu được của con người nhất là đối với trẻ càng
phải ăn uống đầy đủ cả về số lượng và chất lượng hơn người lớn, ăn uống cung cấp
năng lượng cho nhu cầu sống hoạt động và phát triển của cơ thể, nhu cầu này được
thay đổi theo lứa tuổi của trẻ. Nguồn năng lượng cho cơ thể hoạt động sinh trưởng và
phát triển đều lấy từ các chất dinh dưỡng khác nhau do thức ăn cung cấp qua khẩu
của mình ngồi, không gây ồn ào, nói chuyện riêng. Cần tạo cho trẻ thói quen biết mời
cô, mời bạn trước khi ăn, phải nhai kỹ thức ăn. Giáo dục trẻ trước khi ăn phải mời từ
người cao tuổi trước.
Trong giờ ăn trưa, trước khi ăn cô giáo giới thiệu cùng trẻ các món ăn trẻ sẽ được
ăn hôm nay, sau đó giới thiệu luôn giá trị dinh dưỡng của các món ăn đó như: Hôm
nay cô cho các con ăn món cá Thu xốt cà chua và món canh chua. Bạn nào hãy giúp
cô nói cho các bạn biết các con biết gì về món Cá Thu và cả món canh nữa? Hỏi trẻ
xong cô cúng kết hợp giải thích cho trẻ: Các con à, trong cá Thu có rất nhiều đạm,
lipit, đặc biệt là lượng DHA có rất nhiều giúp cơ thể các con cao lớn, khỏe mạnh và
thông minh. Trong cà chua có nhiều vitamin A rất tốt cho mắt, ăn vào các con có làn
da hồng hào, mắt sáng long lanh rất đẹp đấy. Ngoài ra, hôm nay các con còn được ăn
món canh chua nấu cá riêu hồng cực ngon có nhiều vitamin A, C và nhiều đạm giúp
các con chóng lớn, thông minh và bài tiết tốt. Vậy các con phải ăn hết suất của mình,
không làm rơi vãi, đổ thức ăn thì cơ thể mới khoẻ mạnh và thông minh đấy.
- Ngoài việc giáo dục cho trẻ ăn uống đủ chất vẫn chưa đủ mà chúng ta còn phải giáo
dục vệ sinh cho trẻ như phải rửa tay, rửa mặt trước khi ăn, sau khi ăn và trước khi đi
ngủ, Khi ăn nếu bị ho phải biết quay ra phía sau lưng mình, che miệng lại. Ăn xong
hãy rửa tay, rửa miệng, rồi đi lau tay, lau miệng và uống nước nhớ không được uống
nước lã, ăn quả xanh sẽ bị đau bụng.
Ví dụ : Trước giờ ăn trưa, cô giáo dạy trẻ nề nếp vệ sinh: Hỏi trẻ trước khi ăn các con
phải làm gì ? ( rửa tay, rửa mặt ¹ )
Cô nhắc lại : Đúng rồi các con ¹ ! phải rửa tay rửa mặt trước khi ăn vì sau mỗi buổi
học và buổi chơi tay cầm vào đồ chơi, đồ dùng nên bị nhiều vi trùng bám vào xong lại
bôi lên mặt lên tay rất bẩn. Chính vì thế phải rửa tay, rửa mặt trước khi ăn nếu không
rất dễ bị nhiễm bệnh đấy các con ¹!
+ Cho trẻ thực hiện thao tác rửa tay, rửa mặt đúng khoa học.
+ Cho trẻ ngồi xếp hàng ngồi ngay ngắn đúng quy định.
Là một giáo viên mầm non tôi thấy việc giáo dục dinh dưỡng cho trẻ em là một vấn
đề quan trọng và cần được chú ý, sức khoẻ của trẻ phải được xã hội quan tâm một
cách khoa học cho trẻ, việc chăm sóc giáo dục trẻ không những là trách nhiệm của
- Trẻ biết tên gọi các loại rau củ quả trong vườn rau nhà bé và biết các đặc điểm, lợi
ích của chúng đối với con người.
- Giáo dục trẻ biết cách trồng, chăm sóc và bảo vệ các loại rau. Biết ăn đầy đủ các loại
thức ăn chế biến từ rau để tăng cường sức khỏe cho bản thân.
b. Chuẩn bị:
- Máy tính, que chỉ, nhạc chủ điểm
- Các loại rau, củ còn xanh, tươi, sạch.
- Mô hình vườn rau nhà cô.
- Bảng nhựa, đất nặn màu, khăn lau tay, bàn ghế đủ cho trẻ.
c. Hoạt động trọng tâm:
* Trẻ vừa đi nối đuôi nhau và vừa đọc bài đồng dao: “ Trồng đậu trồng cà” đến hết
bài đồng dao trẻ về ngồi hình chữ U cho trẻ nêu những kiến thức mà trẻ biết được qua
bài đồng dao vừa đọc, dẫn dắt vào bài.
Cô: Xúm xít, xúm xít (Bên ai, bên ai). Cho trẻ vây xung quanh cô và xem mô hình
vườn rau nhà cô.
- Đàm thoại về các loại rau trong mô hình.
+ Các con quan sát và nói cho cả lớp biết về các loại rau mà con nhìn thấy trong mô
hình.
+ Hãy nói những gì các con biết về rau các con ăn hàng ngày?( Nếu trẻ không biết cô
Đỗ Thị Mai Hồng Nhung Trường MN Hoa Sim
9
Lồng ghép chuyên đề dinh dưỡng trong môn học khám phá khoa học
gợi ý cho trẻ về tên gọi, tác dụng, cách trồng )
- Trẻ chơi trò chơi: "Gieo hạt".
- Cô đọc câu đố: “Cây xanh cái lá cũng xanh
Mà củ trắng nõn nấu canh ngọt lừ
Là cây rau gì”.( Củ cải trắng)
Cô đưa củ cải trắng ra hỏi trẻ:
+ Các con biết gì về củ cải trắng? ( Đặc điểm, màu sắc, tác dụng, cách gieo trồng,
cách chế biến, )
hơn.
3.1. Hoạt động góc:
- Tổ chức giáo dục dinh dưỡng ở các trò chơi trong góc phân vai
* Ví Dụ: Trò chơi cửa “hàng bách hoá”
Trò chơi “Cửa hàng ăn uống”
a. Mục đích yêu cầu:
- Trẻ thể hiện được vai của mình và chơi sáng tạo.
Đỗ Thị Mai Hồng Nhung Trường MN Hoa Sim
10
Lồng ghép chuyên đề dinh dưỡng trong môn học khám phá khoa học
- Trẻ nói được tên thành phần dinh dưỡng của các loại lương thực thực phẩm
- Rèn khả năng tái tạo lại công việc của người lớn
- Trẻ chơi đoàn kết, thân ái với bạn bè.
b. Chuẩn bị:
- Đồ chơi cho cửa hàng bách khoá; Bộ đồ chơi rau, quả, hộp bánh, kẹo sữa
- Đồ chơi cho cửa hàng ăn uống: Bộ nấu ăn, Trang phục nhà bếp.
c. Tiến hành:
* Thỏa thuận chơi: Hát trò chuyện theo chủ đề.
- Cô giới thiệu góc chơi, nội dung của từng góc chơi
+ Góc phân vai: Trò chuyện về cửa hàng bách hoá: Các con đã được đến một của
hàng bách hóa nào chưa? Các con thấy ở đó như thế nào, hãy nêu những nhận xét của
các con về cửa hàng đó. (Gồm những ai? Ở đó có những gì? Nhân viên ở đó phải có
thái độ cư xử như thế nào?)
+ Cô nhắc lại: Người bán hàng phải chào khách mua hàng, phải nói được tên hàng và
giá trị dinh dưỡng của mặt hàng đó, quảng cáo các hàng. Người mua hàng đi mua phải
nói được tên, hỏi được người bán hàng về các chất dinh dưỡng có trong mặt hàng
mình cần mua.
+ Trò chơi cửa hàng ăn uống, phải biết chế biến ra các món ăn từ các thực phẩm được
mua về và nói được các chất dinh dưỡng của nhóm đó khi khách hỏi.
- Cô giáo dục thái độ cư xử của các trẻ với nhau trong khi chơi.
- Cô kiểm tra sức khoẻ của trẻ, cô cho trẻ xếp hàng dọc nối đuôi đi, cô quan sát và
hướng dẫn trẻ đi tới vườn rau. Giới thiệu nội dung buổi quan sát (cô cùng trẻ hát bài
“đuổi chim” đến “vườn rau”. Cho trẻ đứng ở vị trí phù hợp trò chuyện cùng trẻ)
+ Chúng ta đến đâu đây cả lớp (Vườn Rau a.)
+ Ai có nhận xét về vườn rau (Vườn rau rộng, có nhiều luống rau, có nhiều loại rau)
+ Trong vườn rau có loại rau gì? Rau cải trông thế nào? Tương tự với các loại rau:
Rau ngót, bí xanh, dưa leo, cà chua
+ Những loại rau này dùng để làm gì?( ăn uống chế biến các món ăn)
=> Cô khái quát lại và giáo dục trẻ trong rau có chứa nhiều Vitamin và chất sơ, muối
khoáng cho nên các con cần ăn nhiều rau rất tốt cho cơ thể mình, vậy để có rau ăn các
con phải chăm bón, bảo vệ luống rau xanh tốt nhé.
* Kết thúc: Nhận xét - tuyên dương
3.3. Hoạt động chiều:
- Tổ chức giáo dục dinh dưỡng cho trẻ vào các hoạt động chiều dưới hình thức ôn
luyện các hình thức đã học, nhằm giúp trẻ khắc sâu được kiến thức hơn.
- Chẳng hạn khi thực hiện chủ đề “Động vật nuôi trong gia đình” thì vào buổi chiều
cô cho trẻ ôn luyện qua trò chơi “Đố vui” về các loại động vật nuôi sau đó cô gợi cho
trẻ kể thêm về một số loại động vật được nuôi trong gia đình trẻ như heo, gà, vịt,
ngan, chim bồ câu Cho trẻ nói về nơi sống của các loại động vật mà trẻ kể. Cô kết
luận chung sau khi trẻ kể (Nơi sống, thức ăn, lợi ích ). Giới thiệu cho trẻ biết lợi ích
khi ăn, nuôi các loại động vật đó. Đặc biệt nói cho trẻ biết được trong thịt các loại
động vật đó chứa rất nhiều đạm, canxi, lipit là nguồn thực phẩm rất tốt cho cơ thể con
người, và chúng được chế biến rất nhiều món ăn, cho trẻ kể các món ăn được chế biến
từ một số loại động vật mà trẻ thích, và giáo dục trẻ ăn thức ăn chế biến từ các loại
động vật đó. Ví dụ: Khi nói về Gà: Hỏi trẻ biết gì về gà (Nơi sống, đặc điểm, thức ăn,
dinh dưỡng khi ăn thịt gà, các món làm ra từ gà).
3.4. Tổ chức các trò chơi về giáo dục dinh dưỡng:
Trong quá trình tổ chức giáo dục dinh dưỡng cho trẻ thông qua bộ môn làm quen
với môi trường xung quanh, ngoài các hình thức trên tôi còn áp dụng một số trò chơi
nhằm góp trẻ hiểu biết thêm về dinh dưỡng:
- Kết quả đạt được trên tổng số 40 học sinh của lớp.
TT Các tiêu chí đánh giá Trước thực
nghiệm
Số trẻ
%
Sau thực
nghiệm
Số trẻ
%
1 Cân nặng cao hơn
bình thường
3 7.5 5 12.5
2 Cân nặng bình
thường
34 85.0 35 87.5
3 Suy dinh dưỡng vừa 3 7.5 0 0
4 Suy dinh dưỡng nặng 0 0 0 0
5 Chiều cao cao hơn so
với tuổi
2 5.0 5 12.5
6 Chiều cao bình
thường
31 72.5 34 85.0
7 Thấp còi độ I 7 17.5 1 2.5
8 Thấp còi độ II 2 5.0 0 0
c. Kết luận:
- Giáo dục dinh dưỡng là vấn đề quan trọng và cấp thiết trong quá trình phát triển của
trẻ. Khi trẻ hiểu được tầm quan trọng và cần thiết của các chất dinh dưỡng đối với sức
khoẻ và sự phát triển của cơ thể thì lúc đó trẻ ý thức được việc cung cấp chất dinh
dưỡng cho cơ thể. Trẻ hiểu được thực phẩm nào có nhiều chất dinh dưỡng cần thiết
Cô giáo hiểu rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của dinh dưỡng, liên quan đến sức khoẻ
bệnh tật của trẻ, từ đó cô xác định trách nhiệm trong công tác chăm sóc về dinh dưỡng
cho trẻ.
3. Cô giáo phải gần gũi với trẻ nắm bắt được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, biết cách
chăm sóc cho trẻ biếng ăn quan tâm đến những trẻ ăn yếu, động viên trẻ ăn hết suất,
hết khẩu phần ăn.
4. Cô giáo biết nhu cầu dinh dưỡng của trẻ theo từng độ tuổi biết khẩu phần ăn như
thế nào là đầy đủ các chất dinh dưỡng và hợp lý đối với một trẻ, biết giá trị dinh
dưỡng của các thực phẩm thông thường của các địa phương.
5. Cô giáo biết phối kết cùng cô cấp dưỡng xây dựng thực đơn khẩu phần ăn đủ chất
dinh dưỡng và cân đối giữa các chất.
6. Cô giáo biết những điều cơ bản về vệ sinh an toàn thực phẩm, biết cách chọn mua
thực phẩm, bảo quản và chế biến thực phẩm.
7. Thường xuyên theo dõi sức khoẻ của trẻ bằng biểu đồ tăng trưởng, hiểu được ý
nghĩa mục đích của việc theo dõi sức khoẻ cho trẻ bằng biểu đồ tăng trưởng.
8. Giáo viên biết vận dụng linh hoạt sáng tạo khi đưa nội dung giáo dục dinh dưỡng
cho trẻ một cách nhẹ nhàng sâu sắc, luôn lắng nghe, tự học tập bồi dưỡng chuyên môn
nghiệp vụ, luôn mạnh dạn tham gia giảng dạy các chuyên đề các cấp để rút ra kinh
nghiệm cho bản thân.
9. Biết phối hợp giữa gia đình và nhà trường, theo dõi sức khoẻ và khả năng học tập
của trẻ để cùng nhau giáo dục và chăm sóc trẻ một cách khoa học, để đạt được kết quả
cao nhất.
10. Không bằng lòng với kết đạt được mà phải luôn ra sức phấn đấu tự học tập, trau
dồi thêm những kinh nghiệm quý báu từ những người đi trước, trên sách báo, trên các
phương tiện truyền thông như: ti vi, đài, mạng internet Nhằm vươn lên đỉnh cao của
sự nghiệp cũng như làm tốt trách nhiệm, tinh thần của những người mẹ vì những đứa
con thân yêu của mình
C. Kiến nghị:
Đỗ Thị Mai Hồng Nhung Trường MN Hoa Sim
14