Trường THCS Võ Duy Dương Giáo viên : PHẠM THỊ THUÝ KIỀU
MỤC LỤC
I. Lý do chọn đề tài :
1. Đặt vấn đề. (trang 2)
2. Mục đích đề tài (trang 3)
3. Lịch sử đề tài (trang 3)
4. Phạm vi đề tài (trang 3)
II. Nội dung công việc đã làm:
1. Thực trạng đề tài. (trang 3)
2. Nội dung cần giải quyết. (trang 4)
3. Biện pháp giải quyết(trang 4)
4. Kết quả chuyển biến đối tượng. (trang 5)
III. Kết luận:
1. Tóm lược giải pháp. (trang 20)
2. Phạm vi đối tượng áp dụng. (trang 20)
3. Kiến nghị với các cấp về điều kiện thực hiện ( nếu có ). (trang 20)
IV. Phụ lục ( nếu có)
1. Bảng thông kê số liệu, phiếu khảo sát, biên bản toạ đàm hội nghị, hội thảo khoa
học.
2. Tư liệu tham khảo ( tên tư liệu, tên tác giả, tên nhà sản xuất, năm xuất bản)
3. Các sản phẩm đã phục vụ việc thực hiện đề tài ( đồ dùng dạy học tự làm…. )
4. Bảng phân công cụ thể (nếu là loại đề tài tập thể).
Một số phương pháp giúp học sinh Trung bình, yếu học tốt môn Lịch Sử lớp 6 Trang 1
Trường THCS Võ Duy Dương Giáo viên : PHẠM THỊ THUÝ KIỀU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1/ Đặt vấn đề
Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá để xây dựng một đất nước Việt Nam
“Dân giàu - nước mạnh – xã hội công bằng – dân chủ - văn minh” giáo dục ngày
càng có vai trò ngày càng quan trọng trong việc tạo ra nguồn nhân lực vừa có “Đức”
vừa có “Tài” để đáp ứng nhiệm vụ xây dựng đất nước thời đại mới. Chính yêu cầu đó
đã thúc đẩy mạnh mẽ việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông để đào
Theo tinh thần đổi mới chương trình SGK ở bậc THCS, mục tiêu của bộ môn lịch sử
lớp 6 là đòi hỏi học sinh phải nắm được các kiến thức khái quát,cơ bản, chính xác, có
hệ thống về lịch sử dân tộc từ nguồn gốc đến thế kỷ X và một số kiến thức chung về
lịch sử loài người… Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những nhận thức đúng
đắn về sự xuất hiện của loài người trên trái đất, trên đất nước ta. Về quá trình hình
thành và phát triển của các quốc gia đầu tiên trên thế giới, của nước ta, những thành
tựu văn hoá, kinh tế…Bên cạnh đó cần rèn luyện cho học sinh tinh thần học tập chủ
động, tích cực, biết sử dụng sách giáo khoa, quan sát hiện vật, hình ảnh để rút ra kiến
Một số phương pháp giúp học sinh Trung bình, yếu học tốt môn Lịch Sử lớp 6 Trang 2
Trường THCS Võ Duy Dương Giáo viên : PHẠM THỊ THUÝ KIỀU
thức lịch sử. Đồng thời giáo dục học sinh lòng yêu nước, ý thức xây dụng và bảo vệ
tổ quốc, lòng tự hào về những thành tựu văn hoá văn minh mà tổ tiên và loài người
đã đạt được. Từ đó giáo dục lòng biết ơn các anh hùng dân tộc đã cống hiến cả đời
mình cho đất nước.
Để đạt được mục tiêu giáo dục đã đặt ra là một việc làm gặp nhiều khó khăn, phức
tạp. Việc này đòi hỏi người giáo viên phải quan tâm suy nghĩ tìm biện pháp thích hợp
để học sinh hứng thú học tập lịch sử. Đối với các em học sinh trung bình - yếu
thường hay nhút nhát, mặc cảm nên việc phát huy khả năng của các em trong học tập
rất hạn chế nên đòi hỏi phải có một phương pháp học tập phù hợp cho các em. Vì vậy
tôi chọn đề tài : “ một số phương pháp giúp học sinh trung bình – yếu học tốt môn
lịch sử lớp 6”.
3/ Lịch sử đề tài .
Với nhu cầu nhằm làm tăng khả năng tự tìm tòi, lĩnh hội và khắc sâu tri thức lịch sử
trong trí nhớ của học sinh trong quá trình học tập. Qua thực tế giảng dạy trong những
năm học qua tôi đã nghiên cứu và áp dụng đề tài “ một số phương pháp giúp học sinh
trung bình – yếu học tốt môn lịch sử lớp 6” vào việc giảng dạy để tìm ra những
phương pháp học hay, những kinh nghiệm giảng dạy tốt nhằm thực hiện ngày một tốt
hơn nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học. Đây là đề tài do tôi mới nghiên cứu và
áp dụng vào giảng dạy trong năm học 2009-2010.
3/ Phạm vi đề tài
quả học tập của học sinh như sau:
Lớp Giỏi % Khá % Trung bình % Yếu % Kém %
6a5 51,4 16,2 13,5 13,5 5,4
6a9 45,6 20,9 4,7 7,0 20,0
Thực tế đó đòi hỏi giáo viên phải nỗ lực nhiều và có giải pháp hổ trợ giúp học sinh
học tập môn lịch sử đạt hiệu quả chất lượng hơn.
2/ Vấn đề cần giải quyết:
Đổi mới phương pháp dạy học đối với học sinh trung bình, yếu giáo viên phải tìm ra
phương pháp dạy cho các em biết cách tự học, tự chọn lọc xử lí thông tin và tự lĩnh
hội kiến thức. Từ đó các em sẽ trang bị cho mình những phương pháp tự học, những
phương pháp sống và một nhân cách sống phù hợp với cuộc sống của các em sau
này. Phải dạy cho các em biết tự suy nghĩ trước một sự kiện lịch sử, một vấn đề lịch
sử đặt ra nhằm phát huy tư duy, óc sáng tạo của các em.
Cần định hướng học tập ngay từ đầu cũng như gây hứng thú học tập bộ môn lịch sử
cho các em học sinh. Từng bước hướng dẫn các em phát huy tính tích cực, tư duy
sáng tạo của mình,từ đó các em tự mình tìm ra, chiếm lĩnh và khắc sâu kiến thức lịch
sử một cách chủ động. Giáo viên cần tạo cho học sinh tâm lý thoải mái trong giờ học.
giáo viên chuẩn bị đầy đủ giáo án, đồ dùng khi lên lớp. Trong giờ học giáo viên cần
sử dụng phương pháp phù hợp với kiểu bài đặc biệt cần chú ý hướng dẫn cho học
sinh trung bình yếu có phương pháp học tập phù hợp. Đổi mới phương pháp dạy học
môn Lịch sử với đối tượng học sinh trung bình yếu là thực hiện các nội dung sau:
a/ Khâu chuẩn bị của giáo viên và học sinh trước khi lên lớp.
b/ Hướng dẫn học sinh học tập lịch sử trên lớp.
+ Bồi dưỡng phương pháp tự học cho các em.
+ Phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của học sinh.
+ Tác động đến tình cảm, đem lại sự hứng thú trong việc học tập bộ môn.
+ Sử dụng phong phú hệ thống kênh hình (tranh ảnh, bản đồ, lược đồ),
phương pháp học tập nhóm, trò chơi ô chữ, tiếp sức,
3/ biện pháp giải quyết
A.Giáo viên và học sinh cần có sự chuẩn bị đầy đủ về các phương tiện, đồ dùng
liệu và tranh ảnh liên quan đến bài(nếu có). Sách giáo khoa là phương tiện chính để
học sinh tìm hiểu nội dung bài học nên giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc kỹ sách
giáo khoa trước ở nhà để khai thác nội dung bài học qua việc trả lời các câu hỏi.
Để học sinh có thể học tốt bài trên lớp cũng như thực hiện chuẩn bị bài cho tiết học
mới, giáo viên các có sự hướng dẫn cụ thể. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh học bài
tốt ở nhà là học thuộc nội dung bài đã ghi theo các đề mục. Khi học thuộc bài thì phải
trả lời được các câu hỏi ở cuối bài.
Ví dụ: sau khi học sinh đã học thuộc bài 1 “ Sơ lược về môn lịch sử” học sinh phải
trả lời được các câu hỏi cuối bài sau.
1. Trình bày một cách ngắn gọn lịch sử là gì? ( lịch sử là những gì đã diễn ra
trong quá khứ.)
2. Lịch sử giúp em hiểu biết những gì? ( Để biết sự phát triển của xã hội là do
quá trình lao động của con người.Để biết cội nguồn dân tộc, biết quá trình
dựng nước và giữ nước của ông cha. Biết quý trọng những gì đang có,biết ơn
người làm ra nó.)
3. Tại sao chúng ta cần phải học lịch sử? (Rút ra bài học kinh nghiệm cho hiện tại
và tương lai.)
Đối với học sinh trung bình yếu thì các em sẽ không hiểu hết nội dung các câu hỏi
khó. Nhưng các em sẽ trả lời được câu hỏi ở dạng dễ hơn. Nên giáo viên cần đặt câu
hỏi cho phù hợp với học sinh trung bình yếu. Ví dụ sau khi học thuộc bài 1, học sinh
trung bình yếu sẽ trả lời được câu hỏi sau: Lịch sử là gì? Học lịch sử để làm gì?
Sau khi tiếp thu xong nội dung bài học thì học sinh cần tiến hành chuẩn bị bài mới
cho tiết học trên lớp. Khi đã chuẩn bị bài ở nhà là học sinh đã tự tiếp thu một phần tri
Một số phương pháp giúp học sinh Trung bình, yếu học tốt môn Lịch Sử lớp 6 Trang 5
Trường THCS Võ Duy Dương Giáo viên : PHẠM THỊ THUÝ KIỀU
thức. Đối với học sinh trung bình yếu thì việc chuẩn bị bài ở nhà là rất quan trọng.
Việc này giúp các em theo kịp bài mới với các học sinh khá giỏi khi lên lớp.
Để chuẩn bị bài mới tốt trước tiên học sinh phải đọc sách giáo khoa, sau đó trả lời
các câu hỏi giáo viên đã gợi ý từ tiết trước. Đối với học sinh trung bình yếu thì các
em chỉ có thể chuẩn bị những câu hỏi dễ. Nên khi đặt câu hỏi cho học sinh chuẩn bị
thành các quốc gia cổ đại phương Đông sớm hơn.) Xã hội Hy Lạp, Rô-Ma gồm
những giai cấp nào? Đời sống của họ ra sao? (Chủ nô gồm chủ xưởng, chủ lò, chủ
thuyền buôn: sống sung sướng, giàu có, có nhiều quyền lực. Nô lệ: làm việc cực khổ,
là tài sản của chủ nô, họ bị xem là những công cụ biết nói.) các câu hoi khác các em
sẽ trả lời được khi tìm hiểu bài trên lớp qua các câu hỏi gợi ý của giáo viên.
Ví dụ 3: Khi chuẩn bị dạy bài 25 “Ôn tập chương 3” ngoài các câu hỏi cần trả lời,
giáo viên còn có thế hướng dẫn học sinh lập sẵn bảng thống kê các cuộc đấu tranh
của nhân dân ta trong thời kì Bắc thuộc theo mẫu sách giáo khoa trang 70 như sau:
Stt Thời gian Tên cuộc KN Người lãnh đạo Tóm tắt diễn biến
Một số phương pháp giúp học sinh Trung bình, yếu học tốt môn Lịch Sử lớp 6 Trang 6
Trường THCS Võ Duy Dương Giáo viên : PHẠM THỊ THUÝ KIỀU
1
2
3
Những nội dung này các em đã học nên học sinh trung bình yếu sẽ làm được csac nội
dung : Thời gian, Tên cuộc KN, Người lãnh đạo.
Để đảm bảo việc chuẩn bị của học sinh ở nhà đạt hiệu quả, luôn được duy trì và giúp
các học sinh trung bình yếu học tốt hơn giáo viên cần thường xuyên kiểm tra việc
chuẩn bị của các em. Thông thường giáo viên không đủ thời gian để kiểm tra hết các
em nên sự giúp đỡ của các học sinh khác trong lớp cũng rất cần thiết nhất là các bạn
khá giỏi ngồi bên cạnh.
B. hướng dẫn học sinh học tập lịch sử trên lớp:
a/ Hướng dẫn học sinh ghi bài:
Trên lớp giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách ghi bài đầy đủ để học lịch sử tốt
hơn. Ngay từ giờ học đầu tiên giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách ghi bài cho dễ
học. Các em học sinh lớp 6 mới làm quen với cách học tập của cấp học mới nên
trong việc ghi bài, học bài còn nhiều khó khăn nhất là học sinh trung bình yếu. Việc
ghi bài đấy đủ rõ ràng giúp các em học bài dễ dàng. Ngay từ giờ học đầu tiên giáo
viên nên hướng dẫn học sinh cách ghi bài đầy đủ, cụ thể. Tựa bài học sinh cần ghi
mực màu đỏ hoặc chữ in hoa, các đề mục cần ghi mực màu đỏ hoặc có gạch dưới.
tình cảm của giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý và sự tiếp thu bài mới của
học sinh. Khi giáo viên lên lớp với thái độ giận dữ luôn quát mắng, học sinh thường
khó chịu, không mạnh dạn phát biểu. Ngược lại giáo viên luôn vui vẻ, quan tâm đến
học sinh sẽ tạo cho các em một không khí lớp học đầy hứng thú. Bên cạnh đó giáo
viên cần quan tâm, khen ngợi, động viên học sinh kịp thời. Lời khen ngợi chủ yếu là
phải phù hợp với đối tượng học sinh cần hướng đến, nhất là đối tượng học sinh trung
bình yếu trong lớp.
Một cách khác để động viên, gây hứng thú cho học sinh trung bình, yếu học tập là
nên cho học sinh tự xung phong trả bài. Đồng thời giáo viên cũng khuyến khích điểm
học sinh khi học sinh có câu trả lời hay, hay những câu trả lời có liên quan đến bài cũ
đã học giúp học sinh hứng thú học tập hơn đồng thời cũng kích thích các học sinh
khác trong lớp đóng góp xây dựng bài.
Giờ học trên lớp giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài mới thông qua hệ thống
câu hỏi và kênh chữ sách giáo khoa để học sinh nhận xét và khắc sâu các kiến thức
lịch sử. Thông qua nội dung tiết học giáo viên giáo dục tư tưởng đạo đức cho học
sinh. Trong quá trình lên lớp giáo viên yêu cầu cả lớp chú ý theo dõi nội dung sách
giáo khoa mà bạn đang đọc. Giáo viên cần nhắc nhở học sinh khi các em không chú
ý theo dõi sách giáo khoa. Giáo viên cần động viên các học sinh trung bình yếu theo
dõi sách giáo khoa trả lời các câu hỏi.
Ví dụ 1: Khi học bài 11 “ Những chuyển biến về xã hội”, khi tìm hiểu về sự phân
công lao động trong xã hội giáo viên cho học sinh đọc nội dung sau đây trong sách
giáo khoa để cả lớp theo dõi: “ Không phải ai cũng biết được thuật luyện kim và tự
mình đúc được một công cụ bằng đồng. Sản xuất nông nghiệp lúa nước ngày càng
phát triển, đòi hỏi con người phải chuyên tâm lo việc cuốc cày, làm đất, gieo hạt,
chăm bón…Số người làm nông nghiệp tăng lên; hơn nữa để có người làm việc ngoài
đồng, phải có người ở nhà lo việc ăn uống. Sự phân công lao động trở nên cần thiết.
Phụ nữ ngoài việc nhà, thường tham gia sản xuất nông nghiệp và làm đồ gốm, dệt
vải. Nam giới, một phần làm nông nghiệp, đi săn bắt, đánh cá; một phần chuyên hơn,
thì phụ trách công việc chế tác công cụ, bao gồm cả việc đúc đồng, làm đồ trang sức,
về sau được gọi chung là các nghề thủ công”… “ Ở các di chỉ thời này, người ta phát
nước Văn Lang không còn bình yên như trước nữa…Năm 918 TCN, Vua Tần sai
quân đánh xuống phương Nam để mở rộng bờ cõi. Sau 4 năm chinh chiến, quân Tần
kéo đến vùng bắc Văn Lang, nơi người Lạc Việt đang sống với người Tây Âu, vốn
có quan hệ với nhau từ lâu đời. Cuộc kháng chiến bùng nổ. Người thủ lĩnh Tây Âu bị
giết nhưng nhân dân Tây Âu – Lạc Việt không chịu đầu hàng.”.
Giáo viên yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi sau:
- Tình hình nước Văn Lang cuối thế kỷ III như thế nào? ( vua không chăm lo
đất nước, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn). Đây là câu hỏi dễ giáo
viên nên chú ý gọi học sinh trung bình yếu trả lời.
Giáo viên dùng lược đồ giới thiệu nhà Tần ở Trung Quốc và sự bành trướng lãnh thổ
của nhà Tần xuống phương Nam (có 50 vạn quân tiến về phía Nam theo 5 hướng).
- Từ đó, giáo viên yêu cầu học sinh so sánh lực lượng của ta và giặc? (quân
Tần mạnh, quân ta yếu). Đây là câu hỏi khó giáo viên nên gọi học sinh khá
giỏi so sánh để học sinh trung bình yếu nghe và tập làm quen với cách so
sánh vấn đề lịch sử.
Giáo viên cho học sinh trung bình yếu đọc nội dung: “Sử cũ Trung Quốc chép người
Việt trốn vào rừng không ai chịu để quân Tần bắt…rồi họ đặt người kiệt tuấn lên làm
tướng, ngày ở yên, đêm ra đánh quân Tần. Người kiệt tuấn đó là Thục Phán.”
Giáo viên yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi sau:
- Nhân dân Tây Âu-Lạc Việt đã làm gì để đối phó với quân Tần? (Họ trốn
vào rừng, đặt người kiệt tuấn lên làm tướng, ngày ở yên, đêm ra đánh quân
Tần).
Đến phần này, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh biết là cách đánh của nhân dân
Tây Âu-Lạc Việt về sau được gọi là cách đánh “du kích” mà sau này Triệu Quang
Phục đã dùng để đánh bại quân Lương và chiến thuật đó về sau gọi là chiến thuật
“vườn không nhà trống” mà nhà Trần đã đối phó với quân Mông-Nguyên.
Giáo viên cho học sinh trung bình yếu đọc nội dung và gạch dưới nội dung cần trả lời
và đọc lên cho cả lớp cùng nghe: “Cuộc chiến đấu kiên cường quyết liệt của cư dân
Tây Âu-Lạc Việt đã làm quân Tần như “ đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được,
Một số phương pháp giúp học sinh Trung bình, yếu học tốt môn Lịch Sử lớp 6 Trang 9
Giáo viên yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi sau:
- Việc sắp đặt quan lại nhà Lương có chủ trương như thế nào? (chỉ có tôn
thất nhà Lương và một số dòng họ lớn mới được làm quan).
Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh về sự phân biệt đối xử của nhà Lương bằng
chứng là: Tinh Thiều rất tài giỏi nhưng không được làm quan vì không phải là người
của dòng họ lớn. Tiêu Tư là ngưới bất tài, tàn bạo, mất lòng dân nhưng lại được làm
quan cao đến chức Thứ Sử. Giáo viên cần giáo dục cho học sinh về tính công bằng,
bình đẳng, không phân biệt đối xử của Đảng và nước ta ngày nay là luôn chọn người
có tài đức để tha gia quản lý nhà nước và người đó phải do nhân dân lựa chọn, bầu
ra.
Giáo viên cho học sinh đọc nội dung:
“Thứ sử Giao Châu lúc bấy giờ là Tiêu Tư đã đặt ra hàng trăm thứ thuế: Người nào
trồng cây dâu cao 1 thước (khoảng 40 cm) đều phải nộp thuế, bán vợ, đợ con cũng
phải nộp thuế…Sử sách Trung Quốc thú nhận: Tiêu Tư “tàn bạo mất lòng dân”.”
Giáo viên cho học sinh trả lời các câu hỏi sau để học sinh khắc sâu kiến thức về sự
thâm độc, tàn bạo trong chính sách cai trị của nhà Lương. Đây là những câu hỏi đễ
nên học sinh trung bình yếu sẽ trả lời được, giáo viên cần chú ý động viên các em.
Một số phương pháp giúp học sinh Trung bình, yếu học tốt môn Lịch Sử lớp 6 Trang 10
Trường THCS Võ Duy Dương Giáo viên : PHẠM THỊ THUÝ KIỀU
Giáo viên yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi sau:
- Nhà Lương bóc lột nhân dân ta bằng cách nào? (đặt ra hàng trăm thứ thuế
nặng nề và vô lý) giáo viên nên gọi học sinh trả lời để các em làm quen với
việc nhận xét vấn đề lịch sử.
- So sánh chính sách cai trị của nhà Lương và nhà Ngô?(chính sách cai trị
của nhà Lương tàn bạo hơn nhà Ngô). Đây là câu hỏi khó giáo viên nên gọi
học sinh giỏi trả lời. Nếu giáo viên gọi học sinh trung bình yếu so sánh thì
giáo viên cần nhắc lại kiến thức cũ và gợi mở thêm.
d/ Phương pháp sử dụng kênh hình, lược đồ sách giáo khoa
Ngoài việc tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua kênh chữ sách giáo khoa,
giáo viên cần chú ý đến việc khai thác kênh hình ở sách giáo khoa và các tranh ảnh ,
người. Từ đó giáo dục ý thức lao động cho học sinh, khẳng định chỉ có lao dộng thì
con người mới tồn tại và phát triển được.
Ví dụ 2: Khi dạy bài 3 “ Xã hội nguyên thủy” , để tìm hiểu về người tinh khôn giáo
viên cho học sinh quan sát hình 5 sách giáo khoa yêu cầu học sinh nêu những điểm
khác nhau của người tinh khôn với người tối cổ.( dáng đứng thẳng, tay chân gọn, tay
nắm công cụ chắc, bên ngoài lớp da có lớp lông mỏng hơn…) giáo viên yêu cầu học
sinh xem số liệu trên vòng tròn thể hiện thể tích não của người tinh khôn và người tối
cổ cho học sinh so sánh. (thể tích não người tinh khôn to hơn). Đây là câu hỏi dễ giáo
viên nên động viên cho học sinh trung bình yếu trả lời trước. thông các hình ảnh trực
quan các em sẽ nhận thấy sự phát
triển của con người trong quá
trình lao động để thích nghi với
môi trường sống.
- Thể tích não người tinh
khôn to hơn nói lên
điều gì? ( thông minh
hơn)
Từ đó giáo viên khẳng định: họ
thông minh hơn nên làm được
nhiều việc hơn, tạo ra nhiều của
cải hơn -> cuộc sông họ ngày
càng tốt hơn.
Ví dụ 3: Khi học bài 4 “Các quốc
gia cổ đại phương Đông” sau khi
cho học sinh xem hình 8 “Tranh
khắc trên tường đá một lăng mộ ở Ai Cập thế kỷ XIV TCN”. Giáo viên đặt câu hỏi
cho học sinh trả lời.
Một số phương pháp giúp học sinh Trung bình, yếu học tốt môn Lịch Sử lớp 6 Trang 12
Trường THCS Võ Duy Dương Giáo viên : PHẠM THỊ THUÝ KIỀU
- Nhìn vào bức tranh em thấy người Ai Cập đang làm những việc gì?(họ
nhất. Nhà nước phương Đông quan tâm và khuyến khích phát triển sản xuất nông
nghiệp.
Giảng đến phần này giáo viên cần chú ý giáo dục tư tưởng cho học sinh về các chính
sách quan tâm chăm lo kinh tế nông nghiệp của Đảng và Nhà nước ta ngày nay như
làm thủy lợi, miễn giảm thuế, tạo giống cây trồng vật nuôi đạt năng xuất chất lượng,
dự báo sâu bệnh…
Ngoài việc giúp học sinh khai thác nội dung bài học qua các tranh ảnh giáo viên cần
hướng dẫn cho học sinh trung bình yếu khai thác nội dung bài học thông qua các
lược đồ, bản đồ sách giáo khoa.
Ví dụ: khi dạy bài 4 “Các quốc gia cổ đại phương Đông” và bài 5“Các quốc gia cổ
đại phương Tây” giáo viên hướng dẫn chú giải và cho học sinh khai thác lược đồ ở
hình 10 sách giáo khoa. Giáo viên cho học sinh xác định các quốc gia trên lược đồ
sau đó lên bảng xác định trên lược đồ. Sau khi hướng dẫn học sinh xác định các
quốc gia cổ đại, các ký hiệu trên lược đồ, giáo viên yêu cầu học sinh trả lời:
- Điều kiện tự nhiên của các quốc gia cổ đại phương Đông có gì giống nhau?
( diện tích lớn, có một phần diện tích giáp với biển, có các dòng sông lớn
chảy qua.)
Một số phương pháp giúp học sinh Trung bình, yếu học tốt môn Lịch Sử lớp 6 Trang 14
Trường THCS Võ Duy Dương Giáo viên : PHẠM THỊ THUÝ KIỀU
Giáo viên kết hợp tranh trên lược đồ để học sinh quan sát được con sông Nin rộng
lớn, có nguồn nứơc dồi dào, hai bên bờ sông cây cối xanh tốt.
- Điều kiện tự nhiên của các quốc gia cổ đại phương Đông thuận lợi gì cho
phát triển ngành kinh tế gì? (thuận lợi phát triển ngành nông nghiệp)
- Điều kiện tự nhiên của các quốc gia cổ đại phương Tây có gì giống nhau?
( địa hình chủ yếu là đồi núi đá vôi, diện tích nhỏ, nằm gần biển )
- Điều kiện tự nhiên của các quốc gia cổ đại phương Tây gây khó khăn cho
việc phát triển ngành kinh tế gì? (không thuận lợi để làm nông nghiệp.)
Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh thấy đất đai ở các quốc gia cổ đại phương Tây
chủ yếu là núi đá vôi xen kẽ đồi thấp nên đất trống trọt ít, đất đai gần biển nên thiếu
nước ngọt -> không thuận lợi để làm nông nghiệp.
đường của sông Bạch Đằng? Sông Bạch Đằng có những thuận lợi gì cho
quân ta?
Đây là câu hỏi khó nên giáo viên cân gợi ý cho học sinh trung bình yếu suy nghĩ trả
lời. ( Để đánh chiếm nước ta quân Nam Hán phải đánh vào dâu trước? đường đi như
thế nào?)
Một số phương pháp giúp học sinh Trung bình, yếu học tốt môn Lịch Sử lớp 6 Trang 15
Trường THCS Võ Duy Dương Giáo viên : PHẠM THỊ THUÝ KIỀU
Quan sát trên lược đồ, học sinh sẽ phát hiện được đường cửa sông Bạch Đằng là
đường ngắn nhất vào thành Đại La (Tống Bình – Hà Nội). Sông Bạch Đằng có địa
thế hiểm trở, hai bên bờ có rừng rậm thích hợp việc mai phục. Thủy triều của sông
Bạch Đằng lên xuống, mực nước chênh nhau đến 3m, thuận lợi cho việc bố trí trần
địa cọc ngầm.
Giáo viên nêu cho học sinh biết: Sông Bạch Đằng có nhiều nhánh sông nhỏ còn
thuận lợi cho các thuyền chiến ẩn nấp. Ngô Quyền đã sai người đi dọc theo sông
Bạch Đằng để quan sát địa thế, địa hình, hỏi thăm nhân dân về chế độ nước chảy của
sông và cho người bố trí trận địa cọc ngầm trên sông Bạch Đằng.
Giảng đến đây giáo viên cần giáo dục tư tưởng về sự lãnh đạo tài giỏi của Ngô
Quyền. Học sinh kết hợp các kênh chữ sách giáo khoa để nêu những thuận lợi của
quân ta.
Giáo viên động viên học sinh trung bình yếu lên xác định trên lược đồ nơi Ngô
Quyền bố trí trận địa cọc ngầm, nơi đặt quân mai phục và đặt câu hỏi:
- Trận địa cọc được Ngô Quyền bố trí ở chỗ nào của sông Bạch Đằng? Vì
sao ông cho đặt trận địa cọc ở đó? (Trận địa cọc đặt ở gần cửa biển, để có
thể nhử giặc vào bên trong dễ dàng). Giáo viên nên gợi ý để học sinh trung
bình yếu nêu ý kiến sau đó cho học sinh khá giỏi nhận xét để giúp học sinh
trung bình yếu nâng cao khả năng quan sát, nhận xét vấn đề.
- Ngô Quyền cho bố trí lực lượng như thế nào? (Ông cho quân mai phục 2
bên bờ sông, các thuyền chiến đặt ở các nhánh sông nhỏ sẵn sàng chiến
đấu. Đích thân Ngô Quyền chỉ huy trên chiếc thuyền lớn ở thượng nguồn
sông Bạch Đằng). Đây là câu hỏi dễ giáo viên có thể gọi học sinh trung
ta, Khúc Hạo đã gởi con trai mình là Khúc Thừa Mỹ sang nước Nam Hán làm con
tin. Giáo viên chia học sinh làm 6 nhóm, yêu cầu các em thảo luận: Khúc Hạo gởi
con trai mình sang nhà Nam Hán làm con tin nhằm mục đích gì? (giả vờ thần phục,
kéo dài thời gian để chuẩn bị lực lượng chống lại nhà Nam Hán)
Như vậy, khi học tập theo nhóm các em sẽ đưa ra nhiều ý kiến khác nhau và chọn ra
ý kiến đúng nhất, từ đó các em sẽ học tập lẫn nhau và phát huy được tính tập thể của
mình. Để học sinh phát huy được khả năng của mình, giáo viên nên cho học sinh
trong nhóm thay phiên nhau làm nhóm trưởng trong các tiết học, nhất là học sinh
trung bình yếu. Bên cạnh đó, giáo viên cần phải quan tâm theo dõi các em làm việc,
đưa ra các câu hỏi gợi mở và động viên các em kịp thời để đạt được kết quả thảo
luận tốt hơn.
Đói với những nội dung thảo luận dài thì học sinh trung bình yếu sẽ khó làm được
nên giáo viên cần hướng đẫn cụ thể từng phần trong bảng phụ để các em thảo luận đễ
dàng hơn.
Ví dụ: khi dạy bài 24 “ nước Cham-pa từ thế kỷ II đến thế kỷ X” để tìm hiểu về sự
phát triển kinh tế cuả nước Cham-pa. Giáo viên chia học sinh làm 4 nhóm yêu cầu
các em tìm: “nêu đặc điểm kinh tế cuả nước Cham-pa? ” giáo viên cần chuẩn bị bảng
phụ cho các nhóm có nội dung như sau:
1. Nông nghiệp: (trồng trọt, chăn nuôi) ………………………………………
2. Nghề thủ công và các nghề khác: ………………………………………….
3. Thương nghiệp: ……………………………………………………………
f/ Phương pháp Trò chơi
Ngoài việc phát huy tính tập thể của học sinh trong học tập theo nhóm thì tính tập thể
của học sinh còn được phát huy qua các trò chơi tập thể. Các trò chơi vui nhộn giúp
các em thoải mái hơn trong học tập để củng cố nắm vững kiến thức đã học. Các trò
chơi vui nhộn sẽ lôi kéo tất cả học sinh trong lớp tham gia. Thông qua các trò chơi,
giáo viên lồng ghép các kiến thức lịch sử đã học để các em ghi nhớ một cách tự
nhiên.
Một số phương pháp giúp học sinh Trung bình, yếu học tốt môn Lịch Sử lớp 6 Trang 18
Trường THCS Võ Duy Dương Giáo viên : PHẠM THỊ THUÝ KIỀU
8.Tên khu di tích của người Chăm được công nhận là Di sản văn hóa thế giới?
9.Tên nước đầu tiên của người Chăm?
10. Nguồn sống chủ yếu của người Chăm dựa vào nghề gì?
Trong trò chơi này giáo viên đặc biệt chú ý đến đối tượng học sinh trung bình, yếu để
lôi kéo các em hoà nhịp với cuộc chơi của lớp, của đội. Có thể mời các em này ở
trong các đội lựa chọn các từ hang ngang và tự mình giải đáp các ô từ đó đồng thời
không quên tuyên dương thái độ học tập tích cực của các em.
Như vậy, qua những trò chơi các em học sinh trung bình, yếu có được niềm vui, sự
hứng thú trong việc học tập và chiếm lĩnh và khắc sâu kiến thức Lịch sử.
Một số phương pháp giúp học sinh Trung bình, yếu học tốt môn Lịch Sử lớp 6 Trang 19
Trường THCS Võ Duy Dương Giáo viên : PHẠM THỊ THUÝ KIỀU
1 S A H U Y N H
2 K H U L I Ê N
3 H O A N G S Ơ N
4 G I A O C H Â U
5 Đ A N H C A
6 S I N H A P U R A
7 B A L A M Ô N
8 M Y S Ơ N
8 L A M A P
1
0
T R Ô N G L U A N Ư Ơ C
Ví dụ 3: Khi giáo viên dạy làm bài tập lịch sử tiết 29, giáo viên yêu cầu học sinh về
xem lại nội dung kiến thức của các bài để chuẩn bị cho tiết học sau. Đồng thời giáo
viên chuẩn bị trước 2 lược đồ khởi nghĩa, mô hình cây có quả gồm 3 màu xanh, đỏ,
vàng, 2 dụng cụ bịt mắt. Giáo viên chia lớp làm 2 đội thi 2 vòng thi. Vòng 1 thi tiếp
sức, vòng 2 thi hái quả. Để nhiều học sinh trong lớp tham gia, giáo viên nên tổ chức
cho học sinh chơi tập thể và quy định học sinh chơi ở các vòng là khác nhau.
Giáo viên cho 2 đội thi tiếp sức đính mũi tên lên lược đồ khởi nghĩa Lý Bí. Đội nào
Như đã nói, môn lịch sử là môn học đòi hỏi sự chuyên cần của học sinh. Khi giáo
viên đã hướng dẫn học sinh phương pháp học tập cụ thể, kết hợp việc tác động tình
cảm tạo hứng thú cho các em chắc chắn các em sẽ tiếp thu bài tốt hơn, học bài đạt
hiệu quả hơn.
4/ Kết quả chuyển biến:
Qua 1 năm thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học môn Lịch sử đối với học
sinh trung bình, yếu để phát huy tính tích cực, óc tư duy sáng tạo cho đối tượng học
sinh này. Kết quả bài kiểm tra 1 tiết ở học kì II chuyển biến đáng kể so với học kì I
ngay cả với đối tượng học sinh khá, giỏi thông qua bảng thống kê sau:
Lớp Giỏi % Khá % Trung bình % Yếu % Kém %
6a5 54,5 9,1 21,2 12,1 3,1
6a9 61,9 21,4 11,9 4,8 00
So sánh kết quả bảng thống kê cho thấy kết quả học tập môn lịch sử các em lớp 6A5
có chuyển biến học tập chưa nhiều khi giáo viên vẫn lên lớp bình thường không
hướng dẫn học sinh học tập cụ thể như các phương pháp trong đề tài nghiên cứu. Số
học sinh trên trung bình từ 81,1 % tăng lên 84,8 %. Trong khi ở lớp 6A có chuyển
biến tích cực khi giáo viên áp dụng các phương pháp trên cho học sinh. Số học sinh
trung bình từ 73% tăng lên 95,2 %. Như vậy số học sinh trên trung bình tăng được
22,2 %. Để đạt được kết quả đó không chỉ do một mình giáo viên bộ môn mà còn
nhờ sự giúp đỡ của GVCN nhắc nhở các em học tốt, và còn do sự phấn đấu nổ lực
của các em học sinh.
III: KẾT LUẬN
1/ Tóm lược giải pháp
a/ Khâu chuẩn bị của giáo viên và học sinh trước khi lên lớp.
- Giáo viên cần chú ý soạn kĩ giáo án, đầu tư nhiều cho việc chuẩn bị trước khi
lên lớp (thiết bị, đồ dung, tranh ảnh, ) cho mỗi tiết dạy.
- Bồi dưỡng phương pháp tự học cho các em.
- Phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của học sinh.
b/ Hướng dẫn học sinh học tập lịch sử trên lớp.
- Hướng dẫn học sinh cách ghi bài.