I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
Âm nhạc gắn liền với đời sống, là một phần không thể thiếu của cuộc sống
con người. Đúng vậy, từ khi cất tiếng khóc chào đời, con người đã cảm nhận
được âm điệu ngọt ngào trong lời ru tha thiết của mẹ, của bà. Đến khi trưởng
thành, trong cuộc sống hằng ngày, trong lao động, chiến đấu âm nhạc theo suốt
con người, gắn bó với con người qua điệu hò kéo lưới, giã gạo và kéo pháo hay
khúc hát giao duyên v.v.v… Cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, những tiếng nhạc
nĩ non tiễn đưa họ về cõi cực lạc. Âm nhạc như người bạn tri kỹ của mỗi con
người, nó có thể giúp ta giải bày tâm sự, giúp ta bày tỏ niềm vui, nỗi buồn hay
thổ lộ tâm tình… Không chỉ thế, nó còn có ảnh hưởng tác động lớn đến mỗi con
người.
Chính vì vậy, âm nhạc trở thành một môn học có tác dụng rất lớn đối với
con người, nhất là đối với trẻ em. Bởi tâm hồn trể như một tờ giấy trắng tuỳ
thuộc vào môi trường giáo dục mà tờ giấy ấy có sắc màu khác nhau. Với âm
nhạc, các em rất nhạy bén với những giai điệu lời ca trong sáng, tình cảm sẽ gieo
vào trẻ những tình cảm tốt đẹp, làm cho đời sống tâm hồn các em phong phú
hơn. Nói một cách khác, âm nhạc góp phần giúp trẻ phát triển toàn diện hơn.
Chính vì lẽ đó, nhằm đạt mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh tiểu
học, những năm gần đây ngành giáo dục rất quan tâm đến việc dạy các môn năng
khiếu nói chung và môn âm nhạc nói riêng. Một việc làm thể hiện khá rõ điều đó
là đầu tư thiết bị dạy học. Tất cả các trường đều được trang bị nhạc cụ, tranh ảnh,
kèn mêlidion, đàn phím điện tử … Ở những trường có đầy đủ phòng ốc thì được
trang bị hẳn một phòng riêng để dạy.
Môn âm nhạc với đủ các thiết bị cần thiết. Hơn thế nữa ngành đã phối hợp
với hãng Casio để sản xuất đàn phím điện tử cài đặt sẵn các bài hát trong chương
trình phổ thông để phục vụ riêng cho ngành giáo dục.
Do đó, để đáp ứng được yêu cầu giáo dục, ta phải có cái nhìn đúng về tầm
quan trọng của môn âm nhạc trong chương trình tiểu học. Để đạt được mục tiêu
của môn học này đòi hỏi người giáo viên không chỉ có cái nhìn đúng về vị trí của
môn âm nhạc trong nhà trường, mà còn phải nghiên cứu, tìm ra phương pháp dạy
thích hợp để giúp học sinh học tốt môn học.
Ở các lớp 1,2,3 học sinh học âm nhạc trong môn nghệ thuật, việc học âm
nhạc ở các lớp đó chủ yếu là học các bài hát kết hợp với một số hoạt động. Qua
học hát học sinh được rèn luyện về tai nghe, trí nhớ âm nhạc, phát triển nhạc cảm
và làm quen với việc thể hiện chính xác về cao độ và trường độ của âm thanh
trên cơ sở giai điệu bài hát. Cuối lớp 3, học sinh được tiếp cận bước đầu với một
vài ký hiệu ghi chép nhạc.
Đến lớp 4, 5 âm nhạc được tách riêng thành một môn học, có sách giáo
khoa cho học sinh và sách hướng dẫn cho giáo viên.
Trong chương trình tiểu học, mục tiêu của môn Âm nhạc là: “hình thành
cho học sinh trình độ văn hoá âm nhạc tối thiểu cho học sinh”.Bước đầu giúp các
em làm quen với một số kỹ năng đơn giản về ca hát và tập thói quen hát đúng.
Tạo cho học sinh hứng thú, niềm vui khi học hát, nghe nhạc giáo dục năng lực
cảm thụ âm nhạc. Kích thích tiềm năng nghệ thuật, làm cho đời sống tinh thần
của trẻ thêm phong phú, góp phần giáo dục tính tập thể, tính kỹ luật, tính chính
xác, khoa học; phát triển trí tuệ, bồi dưỡng tình cảm trong sáng lành mạnh,
hướng tới cái tốt, cái đẹp. Góp phần làm thư giản đầu óc trẻ em, làm cân bằng
các nội dung học tập khác ở tiểu học.
Thế nhưng đối với những vùng miền xa xôi, khó khăn về cơ sở vật chất,
thiếu đội ngũ giáo viên chuyên trách, đôi khi học sinh phải học lớp ghép, trình
độ tiếp thu của học sinh hạn chế. Vì thế giáo viên cần có sự điều chỉnh về nội
dung cũng như phương pháp sao cho phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương.
III. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Phân môn Học hát yêu cầu giáo viên chuyên và không chuyên dạy lớp đơn
và lớp ghép đều phải thực hiện mà thực tế việc nghiên cứu, tìm ra phương pháp
dạy học giúp giáo viên dạy tốt môn Âm nhạc nói chung và phân môn Học hát nói
riêng chưa được giáo viên giảng dạy quan tâm nhiều. Ngoài giáo viên chuyên
trách, một số giáo viên nghiên cứu tìm tòi, đầu tư cho môn dạy của mình còn
phần đông là giáo viên đứng lớp trực tiếp giảng dạy, cứ dạy theo thói quen
“truyền khẩu” thầy hát trước, trò hát sau từ đầu đến kết thúc bài hát một cách
máy móc gây cho học sinh sự nhàm chán, không hứng thú, không phát huy được
hát phải ngân dài 3 phách trở lên … thì không đơn giản chút nào. Nhất là phần
đông học sinh chúng ta không có năng khiếu, khả năng âm nhạc còn yếu. Trong
phạm vi này, tôi xin đưa ra 2 vấn đề.
1. Một số điểm cần lưu ý khi dạy hát:
- Học sinh lớp 1, 2, 3 chưa chính thức học về Âm nhạc nên khi dạy hát,
giáo viên không cần giới thiệu bản nhạc, chỉ cần chép lời bài hát. Ở lớp 4, 5 học
sinh đã chính thức học về cao độ và trường độ nên khi dạy hát giáo viên phải
giới thiệu về bản nhạc để giúp các em tìm hiểu và củng cố khả năng ghi nhớ về
nốt nhạc.
Trước đây, khi dạy hát tôi thường chỉ chép lời ca lên bảng hay chép ra
bảng phụ để hướng dẫn hát. Vì là giáo viên đứng lớp, dạy tất cả các môn nên hầu
hết chúng tôi không dạy hát nhạc cho học sinh lớp 4, 5. Chỉ thực hiện yêu cầu tối
thiểu và hướng dẫn các em hát thuộc, đúng các bài hát của chương trình quy
định. Các em chưa có ý thức về cao độ, trường độ.
Đến năm học 2005-2006, được phân công dạy Âm nhạc. lớp 4, 5 đã được
học Tập đọc nhạc nhưng với thói quen cũ, tôi chỉ chép lời ca khi dạy hát, qua
nữa năm sau tôi thử chép luôn bản nhạc ra để hướng dẫn, tôi thấy quá trình
hướng dẫn hát và sữa sai cho các em có phần dễ hơn, những chỗ lên cao, xuống
thấp, luyến hay ngân dài các em đã có ý thức tự sửa, mặt khác còn giúp các em
ghi nhớ nốt nhạc và các ký hiệu ghi nhạc. Từ đó, tôi chép cả bản nhạc khi dạy
hát lớp 4, 5.
- Không yêu cầu học sinh hát khi chưa được hướng dẫn hay nghe hát mẫu.
Bởi vì môn âm nhạc có đặc thù riêng không giống các môn học khác. Các em
không thể tự hát khi gặp bài hát mới, và khi các em đã thuộc với cách hát sai thì
việc sửa sai là điều rất khó và mất nhiều thời gian,mặt khác lời ca và giai điệu là
một khối thống nhất không thể tách rời. Vì thế tránh bắt học sinh học thuộc lời
bài hát khi chưa biết hát, phải thông qua hát để thuộc lời.
Ví dụ: Thường khi dạy hát, muốn học sinh nhanh thuộc lời ca ta thường
cho học sinh về đọc trước lời ca. Em Hồ Thị T còn học thuộc lòng lời ca, thậm
chí còn tự tập hát thử để lên xung phong hát mẫu (vì có lần tôi hỏi: “ em nào hát
- Qua dự giờ thăm lớp tôi thấy giáo viên thường có thói quen khi bắt nhịp
cho học sinh là “ hai-ba” hay “ hai-một” cho tất cả các bài hát. Bắt nhịp vào mỗi
bài hát là khác nhau, Khi bắt nhịp phải đếm dự lệnh chính xác và quy định với
học sinh cách hát vào từng câu. Phụ thuộc vào chỉ số nhịp của từng bài hát và
nhịp mở đầu đủ hay thiếu phách. Khi bắt nhịp, có lúc giáo viên phải đếm “ một-
hai” hoặc “hai-ba” v.v.v
Ví dụ: Bài Reo vang bình minh (lớp5)Nhạc và lời : Lưu Hữu Phước
Phách dầu là phách lấy đà nên bắt nhịp “ hai-một”
Bài Chúc mừng. Nhạc Nga; lời việt: Hoàng Long ( lớp 4)
Với bài hát này nhịp3/4 và nhịp mở đầu đủ phách nên bắt nhịp “ hai-ba”
- Bài Bạn ơi lắng nghe (Dân ca Ba na) (lớp 4)
Bài này nhịp2/4 và nhịp mở đầu đủ phách nên bắt nhịp là “ một –hai’’
- Khi củng cố bài giáo viên nên đẩy mạnh khả năng làm việc theo nhóm
của học sinh bằng cách khuyến khích các em lựa chọn nhóm và trình bày bài hát
trước lớp. Tư thế hát thoải mái, không bị gò bó, hát kết hộp vận động phụ hoạ
như thế mới dễ thể hiện tình cảm bài hát. Qua đó rèn luyện cho học sinh tính
mạnh dạn, tự tin và tự thể hiện năng lực của bản thân. Thực hiện không nhất
thiết phải đều, cần phát huy sáng tạo của học sinh khi thực hiện.
Ví dụ: Em Hồ Thị L và Trịnh Thị V và những em khác nữa ở lớp 2A,
những lần đầu khi gọi lên trình bày các em còn rụt rè, e ngại, chưa có tính sáng
tạo. Sau một thời gian thực hiện hoặc sau những năm học sau các em mạnh dạn
và tự tin hơn nhiều, các em còn tự nghĩ ra một số động tác phụ hoạ cho bài hát
để thực hiện mẫu. Từ đó tôi còn biết em rất mạnh dạn và lanh lẹ khi tham gia
đóng vai trong môn học Đạo đức và TNXH.
- Những tiết ôn tập, ngòai những hoạt động củng cố kỹ năng ca hát. Giáo
viên có thể vận dụng thêm một,hai thủ pháp trò chơi để việc dạy học tốt hơn. Có
loại trò chơi nhằm phát triển tai nghe, có trò chơi nhằm phân biệt âm sắc, cường
độ trong âm nhạc, có trò chơi nhằm luyện về tiết tấu và sự chú ý, có trò chơi
phát triển nhạc cảm và trí nhớ âm nhạc Sử dụng thủ pháp trò chơi nào tuỳ
thuộc vào từng bài hát,một số trò chơi như sau:
Cuối cùng em đã làm được. nhưng tiết học đó chưa thành công và mất nhiều thời
gian cho một câu hát. Sau tiết học đó, tôi suy nghĩ và tìm cho mình thủ pháp
hướng dẫn học sinh hát chuẩn xác không chỉ những chỗ luyến, láy mà còn nhiều
thủ pháp khác giúp học sinh học hát tốt hơn. Tôi đã thực hiện cho nhiều bài hát,
ở các lớp qua một thời gian ngắn và đã thành công. Đó là:
a) Thủ pháp “ phiên âm” (cho những tiếng hát có âm láy, luyến)
- Giáo viên chỉ ra những tiếng hát có âm luyến, láy trong câu hát.
- Vừa giải thích cách luyến, láy vừa phiên âm trên bảng cho học sinh nhận
biết. Ví dụ: Trở lại bài hát Tìm bạn thân- Nhạc và lời: Việt Anh ( lớp1) câu hát
cuối bài “ Múa vui nào” có hai tiếng hát luyến “ Múa” (La- son) “ vui” (rê- mi)
giáo viên phiên âm lên bảng và giải thích theo âm luyến như sau: “ Múa” =
múa ua; “ vui”= vui ui.
- Chỉ trên tiếng hát đã phiên âm ( trên bảng) dùng động tác đánh luyến kết
hợp hát mẫu vài lần.
- Tập riêng các tiếng hát có âm luyến vài lần rồi mới chuyển sang dạy cả
câu hát.
Hoặc bài Em yêu hoà bình- Nhạc và lời :Nguyễn Đức Toàn- lớp 4 “
yêu từng gốc đa, bờ tre đường làng” tiếng hát “ tre” và “ đường” là hai âm
luyến giáo viên phiên âm giải thích như sau:
“ Tre”=tre è (son-pha) “ đường”=đường ương ( rề-la). Với thủ pháp đó,
năm học 2006 – 2007 tôi đã áp dụng cho lớp 1A và lớp 4A và các em đã hát
đúng những chỗ luyến một cách dễ dàng. Từ đó, thủ pháp này tôi áp dụng để
hướng dẫn chỗ luyện khó hát cho tất cả các lớp.
b) Thủ pháp “ thêm bớt đấu thanh” (sử dụng cho những câu hát có âm
vực trầm, cao, nữa cung nhằm giúp cho học sinh hát đúng cao độ):
- Sau khi đàn giai điệu và hát mẫu câu hát cần tập, giáo viên chỉ ra những
tiếng hát cần thêm bớt dấu thanh.
- Dùng phấn màu thêm hoặc bỏ dấu thanh những tiếng hát khó hát. Ví dụ:
Dạy bài “Chị Ong Nâu và Em bé” Nhạc và lời Tân Huyền ( lớp 3) có các câu
hát “Chị Ong Nâu nâu nâu nâu” ( đồ,pha,pha,pha,pha) ta dùng thanh huyền
Trong năm học 2005 – 2006. Cũng bài “ Tiếng hát bạn bè mình” Nhạc và
lời Lê Hoàng Minh (lớp 3) khi hát câu hát “ Một chồi non thắm xanh lâu bền lá
cành” HS cứ ngân dài tiếng “ lá” thành 1 phách và trọng âm rơi vào nữa phách
đầu của tiếng “ cành” và tiếng “cành” chỉ còn 1,5 phách. Hay câu “ Em yêu
dòng sông hai bên bờ xanh thắm” ở bài Em yêu hoà bình-Nhạc và lời Nguyễn
Đức Toàn (lớp 4) HS sinh hát và gõ phách không chuẩn xác. GV phải mất nhiều
thời gian để sửa sai.
Đến năm học 2006-2007 thì tình trạng sai trên được khắc phục hiệu quả
nhờ tôi áp dụng thủ pháp gõ đệm theo phách. Không những với 2 bài này mà còn
một số bài hát ở lớp khác tôi đã áp dụng và đã đạt hiệu quả mong muốn.
d) Thủ pháp “ đếm phách” (dùng tập cho HS ngân dài đủ trường độ của
tiếng hát và vào hát tiếp câu hát sau được đúng nhịp).
Có những tiếng hát phải ngân dài 3 phách trở lên ở các bài hát có
nhịp trong những trường hợp này; các em thường mắc phải
những nhược điểm là ngân dài không đủ phách nên vào hát câu hát tiếp sau
thường bị sai nhịp.
Muốn khắc phục trường hợp này, GV cần phải tập chính xác ngay từ đầu
các câu hát đó: Khi HS hát tới chỗ đó (chỗ có ngân dài) GV đếm phách bằng
những tiếng đếm “Hai-ba” hay “ Một- hai”, “ Hai-một” hoặc “hai-ba-bốn-
năm”
Ví dụ: Dạy bài hát “ Đếm sao” Nhạc và lời Văn Chung lớp 3
Trước khi cho HS hát nối từ câu 1 sang câu 2, từ câu 2 sang câu 3, GV lưu
ý các em phải ngân dài tiếng “sao” (son trắng chấm dôi) tiếng vàng (mi trắng
chấm dôi) trong thời gian đếm “hai-ba” mới vào hát tiếp câu sau.
Hoặc bài “Tre ngà bên lăng Bác” Nhạc và lời Hàn Ngọc Bích-lớp 5.
Trong khi HS đang ngân dài tiếng “ hoa” cuối câu “đón nắng đâu về mà
thêu hoa thêu hoa” Gv liền đếm “hai-ba-bốn-năm” giúp các em vào câu hát
“rất trong là tiếng chim ” được đúng nhịp.
Sau nhiều lần sửa sai khi HS ngân không đủ trường độ và vào hát tiếp câu
sau sai nhịp ở những năm dạy trước và năm học 2005 – 2006 tôi phải suy nghĩ
bài hát mới.
Cuối cùng tôi nhận thấy rằng để có một tiết học hát đạt kết quả cao thì
việc chuẩn bị của giáo viên trước khi lên lớp hết sức quan trọng. Đối với giáo
viên chuyên trách, việc chuẩn bị mất ít thời gian, song dù là giáo viên chuyên
hay không chuyên việc nắm vững bài học đều rất cần thiết. Giáo viên cần thuộc
bài hát và thể hiện tốt để khi thực hiện mẫu cho HS nghe gây được sự hào hứng,
đồng thời GV chủ động trong quá trình hướng dẫn các em luyện tập. Các đồ
dùng dạy học được chuẩn bị đầy đủ sẻ làm cho giờ học có hiệu quả hơn.
V. KẾT QUẢ:
So với những năm học trước, những lớp do tôi dạy Âm nhạc từ khi áp
dụng kinh nghiệm giảng dạy này kết quả phân môn Học hát nói riêng, môn học
Âm nhạc nói chung có tiến bộ rõ rệt.
Năm học 2005 – 2006 là năm đầu tiên nghiên cứu và thực hiện thí điểm
kinh nghiệm nên còn gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi GV phải công phu, suy nghĩ
chu đáo kết quả của phân môn Học hát đến cuối năm hơn 50 % số học sinh các
lớp thực hiện tốt, hát chuẩn xác bài hát, có phần mạnh dạn hơn khi thể hiện trước
lớp. HS biết hát kết hợp vận động phụ hoạ cho bài hát, biết gõ đệm theo bài hát.
Không có HS chưa hoàn thành bài hát kết quả đánh giá cuối năm môn Âm nhạc
của HS thể hiện cụ thể ở một số lớp
Lớp TSHS
HTT HT CHT
SL
TL
%
SL TL % SL TL %
Lớp áp dụng
kinh nghiệm
1A 20 9 45 11 55 0 0
4A 25 10 40 15 60 0 0
5A 20 80 40 12 60 0 0
Như vậy với phương pháp, thủ pháp dạy học trên giúp tôi góp phần nâng
cao chất lượng môn học. Phát huy được tính tích cực, sáng tạo và khả năng âm
nhạc của học sinh. Góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục toàn diện cho HS tiểu
học.
VI. KẾT LUẬN
Qua nhiều năm đứng lớp và trực tiếp giảng dạy môn Âm nhạc, tôi nhận
thấy việc đầu tiên GV cần làm là nghiên cứu kỹ SGK, SGV và các tài liêu tập
huấn để nắm chắc mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học. GV soạn kế
hoạch bài học, trao đổi với đồng nghiệp, qua đó kiểm nghiệm và điều chỉnh nhận
thức của mình về nội dung và phương pháp dạy học theo sách mới cho phù hợp
với đối tượng HS. Từ đó có được phương pháp dạy học thích hợp giúp HS học
tốt môn học. Và tôi cũng nhận ra một điều rằng: Nếu bản thân GV không ý thức
được tầm quan trọng của môn học Âm nhạc trong chương trình giáo dục tiểu
học, không tâm huyết với nghề và không phát huy cao nhất được phẩm chất, vai
trò, vị trí của người GV thì chất lượng học tập môn học của HS sẻ bị ảnh hưởng.
Cuối cùng, tôi luôn chuẩn bị cho mình một tâm thế tự tin và nhiệt tình
giảng dạy Âm nhạc cho HS. Cố gắng trao dồi kiến thức, kỹ năng chuyên môn và
luôn tìm tòi, rút kinh nghiệm các bài giảng để mỗi giờ âm nhạc lại đem đến cho
HS những kiến thức và niềm vui mới.
VII. ĐỀ NGHỊ:
Trong quá trình thực hiện đề tài, có những hạn chế nhất định làm cho kết
quả dạy học chưa được tốt nhất. Như số lượng lớp ghép không ít sự chênh lệch
trình độ giữa các HS trong lớp, phương tiện dạy học chưa đầy đủ.
Để áp dụng đề tài đạt hiệu quả, GV dạy học Âm nhạc chọn những biện
pháp dạy phù hợp với đối tượng HS và điều kiện lớp học.
Đối với lớp ghép, việc dạy dạy môn Âm nhạc có phần khó khăn, ngành
không yêu cầu phải dạy TĐN cho các em, nhưng phải dạy HS học hát. Việc chọn
bài hát của nhóm trình độ nào cho tiết dạy tuỳ thuộc vào GV sao cho phù hợp
tiết dạy. GV có thể áp dụng linh hoạt các biện pháp dạy học đã nêu và yêu cầu
phải đảm bảo tính chính xác, khoa học. Đòi hỏi GV dạy môn này dù chuyên hay
I. Tên đề tài
II. Đặt vần đề
III. Cơ sở lý luận
IV. Cơ sở thực tiễn
V. Nội dung nghiên cứu.
1. Một số vấn đề cần lưu ý
2. Thủ pháp giúp HS hát chuẩn xác 1 bài hát.
a) Thủ pháp “Phiên âm”.
b) Thủ pháp “ Thêm bớt dấu thanh”
c) Thủ pháp “Gõ đệm theo phách”
d) Thủ pháp “Đếm phách”
g) Thủ pháp “Chỉ huy”
VI. Kết quả nghiên cứu.
VII. Kết luận.
VIII. Đề nghị.
IX. Tài liệu tham khảo.
X. Mục lục
Phiếu đánh giá xếp loại sáng kiến kinh nghiệm.