Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A Lịch
sử
PHẦN MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong qua trình mở cửa và hội nhập vào nền kinh tế
thế giới. Chỳng ta đang tích cực thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá để
phát triển đất nước. Tuy vậy, bên cạnh các ngành công nghiệp hiện đại đòi
hỏi trình độ khoa học kỹ thuật cao, nhà nước cũn rất quan tõm đến việc phát
triển các ngành nghề thủ công truyền thống. Đặc biệt việc quan tõm phát
triển các làng nghề truyền thống có một vai trò rất quan trọng.
Trong bối cảnh kinh tế nước ta hiện nay, việc tồn tại của các làng nghề
thủ công truyền thống có một vai trò quan trọng. Nó góp phần giải quyết việc
làm cho lao động, tăng thêm thu nhập cho người dõn. Đồng thời một số làng
nghề không chỉ có vai trò về mặt kinh tế mà cũn có vai trò về mặt văn hoá.
Làng gốm Chăm Bầu Trúc là một điển hình. Người Chăm là một dõn tộc
thiểu số có khoảng trên 100 ngàn người và hiện nay họ vẫn cũn bảo lưu nhiều
tập tục truyền thống mang bản sắc riêng. Trong những năm qua, văn hoá
Chăm đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tõm nghiên cứu.
Đặc biệt về nghề gốm cổ truyền của người Chăm ở Bầu Trúc – đay là một di
sản văn hóa độc đáo của dõn tộc. Làng gốm Chăm không phải chỉ là một làng
nghề đơn thuần mà cũn là một điểm đến cho du khách tham quan nữa. Sự tồn
tại và phát triển của làng nghề gốm Chăm Nầu Trúc có ý nghĩa quan trọng cả
về kinh tế và văn hoá, đòi hỏi phải có sự quan tõm đúng mức của Đảng và
nhà nước.
Vơi lý do trên, em chọn đề tài “ Bước đầu tìm hiểu về làng gốm của
người Chăm ở Bầu Trúc” làm đề tài tiểu luận của mình.
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A Lịch
sử
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
đất ở thôn Bầu Trúc vẫn tương đối màu mỡ. Bên cạnh đó dòng phù sa bồi tụ
lõu năm đã tạo thành các lớp đất sõu ở các triền sông, hình thành các mỏ đất
sét mịn màng hiếm có. Đõy chính là điều kiện để phát triển nghề gốm Chăm ở
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A Lịch
sử
đõy. Như vậy với những điều kiện tự nhiên như vậy tạo điều kiên cho người
Chăm ở đõy vừa làm nông nghiệp vừa phát triển nghề gốm trong đó nghề gốm
có một vai trò đặc biệt quan trọng.
1.1.2 Điều kiện xã hội.
a. Thành phần dân số, dân cư.
Theo số liệu thống kê năm 1999, dân số Ninh Thuận hơn 500 ngàn người,
trong đó có 52 ngàn người Chăm, chiếm 10,8% dân số toàn tỉnh, riờng thụn Bầu
Trúc là một làng trong tổng số 22 làng người Chăm ở Ninh Thuận. Thôn Bầu
Trỳc cú tất cả 460 hộ với 2748 ngàn người. Trong đó có 85 hộ người Kinh với
số dân 460 người. Thôn Bầu Trúc có dân số trẻ, lực lượng lao động dồi dào.
b. Trình độ văn hóa.
Học sinh cấp I có 560 em chiếm 20% dõn số.
Học sinh cấp II có 32 em chiếm 1,16%
Học sinh cấp III có 12 em chiếm 0,43%
Đại học có 10 em chiếm 0,36%
Tổng số người mù chữ là 315 người chiếm 11,4%.
Nằm trên địa bàn thôn Bầu Trúc cũn có một trường phổ thông cơ sở
Phước Dõn 3 (trường cấp xã) có 10 phòng học, 600 học sinh. Và một trường
phổ thông cấp III An Phước (trường cấp huyện) có 20 phòng học, 1000 học
sinh. Đây là điều kiện thuận lợi cho con em làng Bầu Trúc nõng cao trình độ
học vấn.
Điều kiện tự nhiên và xã hội ở Bầu Trúc rất thuận lợi cho việc phát triển
nghề gốm. Ở đõy có sẵn vật liệu tự nhiên, khí hậu khô nóng, ít mưa rất thuận
lợi cho việc làm gốm. Làng gốm lại gần đường giao thông rất thuận lợi cho
Hiện nay người Chăm Bầu Trúc tự nhận là con chỏu của Pô Klong chan
- một quan cận thần của vua Chăm Pô Klong Garai (1151 – 1205). Họ kể rằng
chính ông tổ Pô Klong Chan đã giúp dõn Bầu Trúc thoát khỏi cảnh đói nghèo,
đưa dõn làng đến định cư ở cánh đồng “Hamu Trok” và dạy cho dõn đào đất
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A Lịch
sử
sét, làm gốm. Do đó họ coi Pô Klong chan là ông tổ nghề của họ và lập hẳn
một đền thờ ngài.
Cư dõn Paley Hamu trok đã định cư ở một cánh đồng trũng, nhưng từ
sau nạn lụt năm 1964, cư dõn đã chuyển đến ở tại một gò đồi cao bên cạnh một
bầu nước và có rất nhiều Trúc gọi là Bầu Trúc.
Từ năm 1832 làng được lấy tên trên giấy tờ hành chớnh là Vĩnh Thuận.
Từ đó đến nay làng Vĩnh Thuận có nhiều biến đổi trong việc phõn chia trực
thuộc địa giới hành chính, có lúc thuộc phủ Bình Thuận, có lúc thuộc phủ Ninh
Thuận, đạo Phan Rang…Từ 1954 – 1975 trong nền cộng hoà của Mỹ - Nguỵ
thì Vĩnh Thuận lại thuộc quận An Phước tỉnh Ninh Thuận.
Năm 1976, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, hai tỉnh Ninh Thuận
và Bình Thuận sáp nhập với nhau thành tỉnh Thuận Hải, Vĩnh Thuận lại thuộc
huyện An Sơn.
Đến năm 1992, tỉnh Thuận Hải tách thành hai tỉnh Ninh Thuận và Bình
Thuận như cũ thì địa danh Vĩnh Thuận chính thức được đổi thành Khu 7, thị
trấn Phước Dõn, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Mặc dù trải qua nhiều biến chuyển trong lịch sử nhưng hiện nay trong
tõm thức dõn làng thì vẫn giữ nguyên địa danh truyền thống là “Paley Huma
Trok” hoặc “paley Ngak Gok” (nghĩa là làng làm gốm). Cũn nhõn dõn quanh
vùng thì vẫn quen với tên gọi là Làng gốm Bầu Trúc.
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A Lịch
sử
hình, nét đặc trưng của nền văn hóa của tổ tiên… nghệ nhân nghề gốm Bầu
Trúc đã biết tạo ra những sản phẩm không chỉ đơn thuần phục vụ cuộc sống
mà cò tôn vinh giá trị văn hóa độc đáo của dõn tộc mình. Đó là những chiếc
bình tựa vũ nữ Apsara, những khung cảnh tế lễ khắc hoạ trên vai, trên nồi hay
khuôn mặt những vị thần linh chạm khắc trên sản phẩm như làm tăng thêm nét
huyền bí cho đồ gốm Chăm Bầu Trúc.
Một số đặc điểm của gốm Chăm Bầu Trúc.
Đồ gốm có kích thước lớn nhất là lu có chiều cao 12cm, đường kớnh
miệng gốm 50cm, và loại có kích thước nhỏ nhất là nồi có chiều cao 20cm,
đường kớnh miệng 20cm.
Phần lớn gồm chăm Bầu Trỳc cú đỏy trũn, miệng loe và miệng khum thấp.
Xương gốm Bầu Trúc tương đối dày, hơi thô do khi làm gốm có trộn
nhiều loại cát nhỏ vào đất sét. Xương gốm Bầu Trúc không chặt, mịn cũn do
trong quá trình làm gốm người thợ chỉ sử dụng bàn đạp nhẹ bằng tay. Họ
không sử dụng bàn đập bằng gỗ, đá như các làng gốm khác.
Đồ gốm chăm Bầu Trúc cũn có loại có chõn đế. Các loại đồ này đều sử
dụng phương pháp trổ lỗ gắn kết. Loại đồ này thường xuất hiện ở các loại có
hình dáng kích thước nhỏ, số lượng ít như lò nấu củi, nấu than, nồi hấp…
Gốm không có lò nung cố định mà nung ngoài trời (lộ thiên). Do đó
nhiệt độ nung không ổn định, phụ thuộc vào thời tiết. Từ đó đưa đến các đặc
điểm khác của gốm Bầu Trúc là: khi gốm chưa đủ độ chín thì sản phẩm gốm sẽ
có thõn màu đen, không bền khi sử dụng dễ bị vỡ; nếu gốm nung đúng độ chín
thì thõn gốm màu đỏ hồng, loại này sử dụng rất bền và chắc.
Phần trang trí gốm Bầu Trúc chủ yếu trang trí ở đồ đựng, các loại đồ đun
nấu không có trang trí hoa văn. Hoa văn trang trí phổ biến là hoa văn thực vật,
không có hoa văn động vật.
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A Lịch
sử
Túm lại, gốm Bầu Trúc là loại gốm cổ truyền, hiện nay họ vẫn cũn bảo
ráo, trên bề mặt ruộng đất khô nứt nhiều là mỏ sét tốt. Sau đó người thợ đào
một lỗ sâu khoảng 50cm, đường kớnh khoảng 40cm. Tiếp đó người thợ đứng
xuống lỗ đã cuốc, tiếp tục dùng cuốc hoặc dùng xà beng cuốc theo đường nứt
của đất. Đất được cuốc thường ngã ra từng lọn hơi tròn dài khoảng 60 – 80cm,
đường kính khoảng 20 – 30cm. Lọn đất vừa cuốc lên gồm 3 phần và được
người thợ xử lý như sau:
Phần thứ nhất là phần trên của bề mặt lọn đất, dày khoảng 10 - 20cm là
lớp đất có lớp phù sa tơi xốp có pha lẫn với rễ cõy lúa, cỏ dại vì vậy độ dẻo
không cao nên phải bỏ đi.
Phần thứ hai là phần giữa cử lọn đất, đõy chính là phần đất sét làm gốm.
Phần đất này có độ dày từ 20 – 40cm. Đất màu đen hơi xám nõu , hơi ẩm ươt
có độ dớnh cao. Đây chính là đất sét làm gốm mà người khai thác cần lấy.
Phần thứ ba là phần cuối của đất là lớp bùn non có màu đen không có
độ dẻo nên người làm đất phải tách bỏ khỏi phần thứ hai.
Cứ như thế người khai thác đưa đất lên khỏi miệng hố và lấy đến khi đủ
số lượng cần thiết. Đất sau khi lấy đủ thì lấp miệng hố lại, mùa mưa thì trồng
lúa và năm sau khai thác tiếp. Đất khai thác xong người khai thác di chuyển
bằng xe bò hoặc hoặc sức người về nhà. Vì đất sét chỉ có thể khai thác trong
mùa khô nên muốn đủ đất trong cả năm thì phải khai thác dự trữ. Thông
thường nhà nào có 1 -2 thợ thường phải trữ khoảng 3 – 5m
3
trong một năm.
Đất sét khi đưa về nhà được phơi nắng 3 – 4 ngày cho khô ráo, sau đó được
đem xếp vào kho, rồi lần lượt xử lý theo các công đoạn làm gốm.
Kỹ thuật lấy đất sét là công phu và tốn khá nhiều công sức. Việc nhận
diện, phõn loại lớp đất để chọn đúng một mẫu đất sét thớch hợp cho việc làm
gốm đòi hỏi người khai thác phải có nhiều kinh nghiệm. Nếu người thợ đất sét
không có kinh nghiệm, chọn đất không kỹ càng, chọn đất sét có trộn lẫn nhiều
giữa lớp đất trên và lớp đất dưới thì đất sẽ không đủ độ dẻo và chất kết dớnh.
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A Lịch
a.Ngâm đất
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A Lịch
sử
Người thợ gốm lấy từ trong kho ra một lượng vừa đủ đề làm trong một
ngày. Vì đất sét được chứa trong kho là những lọn đất lớn chưa khô, vẫn cũn
ngõm nước nên muốn ngõm cho đất sét ngấm nước đều thì phải đập đất sét tơi
ra thành cục nhỏ phơi lại cho khô trước khi đem vào hố ngõm với nước. Đất
sét được phơi khô trên nền sạch tránh lẫn với đất thường và các tạp chất khác.
Nếu đất có lẫn với tạp chất khác thì trước khi ngõm thợ gốm phải dùng cái nia
bằng tre có đan mắt lưới nhỏ khoảng 0,4 – 0,5cm để tách tạp chất khỏi đất.
Sau khi đất sét được phơi khô từ sáng đến chiều thì được đưa vào ngõm
trong một cái hố đất được đào sẵn sõu khoảng 50cm, đường kớnh miệng hố là
40cm. Nguyên tắc ngõm đất không đổ đầy hố ngõm mà chỉ đổ vào 2/3 hố. Sau
đó dùng nước ngọt sạch đổ vào hố ngõm. Thời gian ngõm khoảng 12 tiếng thì
đất sẽ tơi ra kết dớnh lại với nhau. Lúc này thì người thợ gốm đưa đất lên khỏi
hố ngõm để làm đất.
Cách ngõm đất làm gốm của người Chăm Bầu Trúc rất đặc biệt. Họ chỉ
ngõm đất sét trong hố chứ không ngõm trong bất kỳ dụng cụ đựng nào khác.
Điều này làm cho nhiều người thắc mắc vì ngõm trong hố đất thì sẽ khó lấy đất
lên so với việc ngõm trong các đồ đựng khác. Lý giải vấn đề này một nghệ
nhõn làng gốm đã giải thích: Nếu ngõm gốm trong các chum, vại, lu… thì đất
sét luôn bị hư không đủ độ dẻo để làm gốm. Mặc dù họ đã tỡm nhiều cách để
cõn bằng theo tỉ lệ phù hợp giữa đất sét và nước nhưng đều không được. Từ
đõy người thợ gôm thấy rằng chỉ có cách duy nhất là ngõm đất sét trong hố đất
thì không cần phép đo đếm phức tạp cũng đủ để có đất sét vừa dẻo cho làm
gốm. vì rằng chính hố đất là đồng hồ sinh học để tự đo, đếm cõn bằng tỉ lệ giữa
lượng đất sét và nước. Khi người thợ cho đất và đổ nước vào ngõm, khi đất sét
thấm nước đến một lượng nhất định sẽ bóo hoà không thấm nữa, lượng nước
nếu thừa sẽ ngấm vào xung quanh hố đất và rút xuống lòng đất. Cũn nếu lượng
lớn. Tỉ lệ cát nhiều sẽ làm giảm độ mịn màng của gốm, tăng trọng lượng của
gốm nhưng thõn gốm lại bền chắc, chịu được nhiệt độ khi đun nấu sinh hoạt
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A Lịch
sử
hàng ngày. Nếu tỉ lệ cát trộn ít hơn đất thì làm tăng độ dẻo của đất, thuận lợi
cho việc tạo hình dáng gốm nhất là những sản phẩm có kớch thước lớn.
Nói chung tỉ lệ pha trộn nguyên liệu giữa đất sét và cát trong gốm Bầu
Trúc đều có tỉ lệ nhất định, trung bình theo tỉ lệ 1:1. Như vậy chất lượng gốm
phụ thuộc không nhỏ vào tỉ lệ pha trộn nguyên liệu.
Sau khi đã xác định tỉ lệ đất và cát cho phù hợp, người thợ bắt đầu tiến
hành trộn nguyên liệu hay còn gọi la khõu nhồi đất.
Nhồi đất có hai giai đoạn: Nhồi đất bằng chõn và nhồi đất bằng tay.
Giai đoạn 1: Nhồi đất bằng chõn (Joak lan).
Người thợ gốm dùng đôi chõn của mình đạp lên trên đống đất đã để sẵn
trên một lớp cát cho đến khi nào lớp cát xoè ra, tạo thành hình mặt phẳng trũn
mỏng khoảng 0,5cm. Sau đó dùng tay cuốn đất sét thành những lọn dài nằm
hai bên úp vào nhau. Lúc này cát nằm phớa dưới đã được trộn vào đất một
phần và họ tiếp tục rải cát và nước lên trên bề mặt đất sét. Sau đó họ lại tiếp tục
dùng chõn đạp vào cuộn đất cho đất xoè mỏng ra rồi dùng tay cuốn lại thành
cuộn dài. Họ làm như thế 7 – 8 lần trong thời gian khoảng 1 tiếng đồng hồ thì
đất và cát được trộn nhuyễn vào nhau.
Trờn bề mặt phẳng đống đất và cát đã được trộn lẫn vào nhau, người thợ
bắt đầu dùng chõn làm dấu kẻ đường vạch thành những ô nhỏ. Từ đường viền
của ô vuông người thợ gốm dùng tay cuộn lại thành từng lọn hình trụ dài
khoảng 15cm, đường kớnh khoảng 10cm, rồi đem những lọn này ủ, phủ kín
bằng vải nơi rõm mát.
Giai đoạn 2: Nhồi đất bằng tay (Jeh lan).
Sau khi đất đã được nhồi và ủ qua đêm hoặc một tiếng đồng hồ sau,
người thợ phải nhồi đất bằng tay một lần nữa.
mỏng bên trong thõn gốm và đáy gốm.
Bên cạnh những dụng cụ chớnh trên, người thợ gốm Chăm Bầu Trúc
cũn dùng hũn kê bằng gốm để làm gốm. Họ cũn dùng dao nhọn, thanh tre vót
nhọn hai đầu để soi lỗ, gắn kết các kiểu gốm có quai, có đế, có lỗ thông hơi.
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A Lịch
sử
Về trang trí gốm họ cũn dùng những que cõy nhỏ để kẻ hoa văn và dùng
những nụ hoa, vỏ sò để in dập hoa văn trên gốm…Ngoài ra cũn có những dùng
cụ để đào đất như cuốc, xẻng, xà beng…và những dụng cụ để đựng đất di
chuyển như thỳng, mủng, nong, nia…
b. Kỹ thuật tạo hình dáng gốm cơ bản.
Đây là công đoạn chớnh trong việc làm gốm Chăm Bầu Trúc. Khõu này
gồm ba công đoạn sau:
Công đoạn 1: Tạo hình cơ bản(Padang Paduk).
Sau khi đất được nhồi thành hình quả bí, người thợ gốm bắt đầu đặt lên
hũn kê. Bằng động tác khum xuống, người thợ gốm dùng hai tay bóp nặn vào
khối đất hình quả bí, đi giật lựi chậm rói xung quanh hòn kê khoảng 10 vòng
thì tạo được một dáng gốm cơ bản có chiều cao khoảng 20 – 30cm, đường
kớnh 15 – 20cm. Trong công đoạn này người thợ gốm phải tốn nhiều sức lực
để tập trung nông đáy gốm, xõy dựng thành gốm theo một kích thước nhất
định đã định sẵn và khối lượng đá hình qủa bí cho phép.
Công đoạn 2: Kỹ thuật gắn kết vào thân gốm. (Pathil gok).
Từ giai đoạn dựng hình cơ bản, người thợ gốm tiếp tục phát triển kích
thước thành gốm theo kích thước đã định sẵn, họ gọi giai đoạn này là “Pathil
gok”. Công đoạn này người thợ gốm dùng “con trạch” dài khoảng 40cm,
đường kớnh khoảng 3cm gắn kết vào miệng gốm và phát triển thành gốm cao
dần lên. Động tác nối “con trạch” là người thợ gốm dùng tay phải đưa con
trạch đặt vào miệng gốm, tay trái đỡ làm nền ở thành ngoài miệng gốm, cứ như
thế con trạch lần lượt được nối vào xung quanh miệng gốm. Người thợ gốm
miết bằng tay. Từ đó vũng quơ có tác dụng chải thõn gốm bằng phẳng hơn,
bước đầu lấp được các dấu vết bằng tay của người thợ gốm.
Miết láng bằng vải cuộn (Panek): đõy là bước cuối cùng của công đoạn
miết láng gốm Chăm. Sau khi xong hai bước miết gốm bằng tay và vũng quơ,
người thợ gốm dùng vải cuộn thấm nước có trộn đất sét lỏng quấn vào tay chà
lên xung quanh gốm. Trong quá trình chà vải thấm nước đất sét lên gốm, vì đất
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A Lịch
sử
sét có độ dẻo cao nên khi cuộc vải thấm nước chà sát trên thành gốm sẽ tạo ra
một loại nhủ đất sét (người Chăm gọi là Ia lan) phủ lên thõn gốm. Chính nước
đất sét này trong quá trình chải láng đã tạo nên một lớp men búng phủ lên thõn
gốm, tạo cho gốm Bầu Trúc một lớp áo mịn màng có độ bóng cao. Bước miết
láng này ngoài việc xoá dấu võn tay, dấu chải láng bằng vũng quơ nó cũn tạo
ra cho thõn gốm một lớp men đất sét búng loáng làm áo gốm. Từ đó lớp cáo
gốm lấp kín được những đường nối kết, những lỗ nhỏ, rỉ nước ra ngoài trong
quá trình sử dụng, đồng thời làm tăng thêm vẻ đẹp cho gốm Chăm.
c. Tạo hình kiểu miệng gốm.
Gốm Bầu Trúc được phõn ra nhiều kiểu lại miệng như gốm miệng hơi
loe, gốm miệng loe, miệng đứng, miệng khum, khum thấp… Mỗi kiểu miệng
gốm sẽ quy định loại hình gốm Chăm Bầu Trúc.
Phương pháp tạo miệng gốm Chăm Bầu Trúc khá đơn giản. Họ chỉ cần
đôi tay khéo léo và một cuộn vải thấm nước. Đầu tiên họ dùng vải cuộn thấm
nước vuốt đều xung quanh miệng gốm. Khi miệng gốm được tiếp xúc với vải
cuộn thấm nước thì họ dùng các ngón tay nắm hờ cuộn vải ướt sao cho cuộn
vải tiếp xúc đều đặn với miệng gốm, rồi họ bắt đầu vòng quanh thõn gốm từ 4
-5 vòng thì tạo thành một kiểu miệng gốm. Trong lúc quay tuỳ theo kiểu miệng
gốm mà họ điều chỉnh các ngún tay trỏ và tay cái. Kĩ thuật bẻ miệng gốm lần
lượt được tiến hành như sau: bẻ miệng đứng, rồi đến miệng loe, rồi miệng hơi
loe, cuối cùng là miệng khum.
thợ gốm dùng móng tay cái bám xung quanh trên gờ đất tạo thành những hình
răng cưa lớn xung quanh vai gốm.
Ngoài những loại hoa văn trên, người thợ gốm Bầu Trúc cũn chế biến
màu thực vật làm màu bôi cho hoa văn áo gốm. Màu thực vật chỉ được trang trí
trên hoa văn gốm khi gốm vừa mới ra lò cũn đang núng. Màu thực vật này
được người Chăm chế ra từ loại vỏ cõy Săn (Lik likhun) hoặc Trái thị (Boh
dan). Đõy là một lọại cõy mọc nhiều ở vùng miền núi Ninh Thuận. Họ phơi
khô vỏ cõy rồi ngõm vào nước cho ra màu đỏ, khi gốm vừa ra lò cũn nóng,
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A Lịch
sử
dùng lá cõy buộc chặt giống như chổi thấm nước màu vẩy lên gốm để tạo màu.
Vì thõn gốm lúc này cũn nóng nên khi tiếp xúc với nước thổ hoàng có mũ thực
vật thì gốm hút nước rất nhanh và đốt cháy chất mũ nước trên thõn gốm. Chất
mũ thực vật bị đốt trên thõn gốm sẽ tạo ra những đốm đỏ màu nõu, nõu đen,
xanh đen trông rất đẹp tự nhiên.
Nhìn chung, hoa văn gốm thường được trang trí trên những đồ gốm lớn
và thường được trang trí trên vai gốm mà không trang trí ở thõn gốm. Chủ đề
trang trí hoa văn gốm Bầu Trúc đặc biệt là thiếu vắng hoa văn động vật như
những loại vật nuôi mà chỉ là các loại hoa văn thực vật, các cảnh vật tự nhiên
gần gũi với con người như hoa lá, cỏ cõy, các hình kĩ hà, hình tam giác…được
mô tả một cách chõn thực không bị cách điệu một cách cầu kì. Do đó hoa văn
gốm Bầu Trúc tuy không phong phú da dạng nhưng lại khoáng đạt tự nhiên.
e. Tu sửa gốm.
Sau khi gốm được trang trí thì được rời khỏi hũn kê đưa ra chỗ rõm mát,
ban đầu phái tránh ánh nắng mặt trời rọi chiếu vì sự thay đổi nhiệt độ đột ngột
sẽ làm gốm dễ bị khô nứt. Thời gian phơi gốm trong rõm khoảng 2h thì gốm
được đưa ra để tu sửa, chủ yếu tu sửa ở 3 bộ phận: Cạo mỏng thõn gốm, đáy
gốm và gắn kết những loại gốm có quai, đế. Cụ thể như sau:
Cạo thân gốm: Đối với đồ gốm có kích thước lớn như lu, thạp, khương
2.2.4 Nung gốm.
Đõy là công việc cuối cùng để cho ra sản phẩm gốm. Việc nung gốm đòi
hỏi rất nhiều kĩ thuật và công sức, thường các hộ thường sử dụng hình thức đổi
công khi nung gốm. Muốn nung được gốm Chăm cần có các điều kiện và qua
các công đoạn sau:
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A Lịch
sử
Số lượng gốm: Gốm khi được tớch luỹ đến một độ nhất định thì mới
đem ra nung. Thông thường mọt lò nung thường khoảng 50 cái lu lớn và
khoảng 100 cái gốm nhỏ như: nồi, chậu, lò nấu…
Thời tiết: Gốm Chăm được nung ngoài trời nên phải lựa chọn thời tiết
phù hợp. Khi nung gốm, người Chăm thường chọn mùa khô, nóng, tránh mùa
gió mưa, mùa khô ở Phan Rang thường vào tháng 11 đến tháng 8 năm sau
Phơi gốm: Khi đã chọn được thời điểm nung gốm, thời tiết khô ráo,
thoáng đãng thì người thợ gốm bắt đầu đem gốm ra phơi trong thời gian một
ngày. Để gốm khô đều người thợ gốm phải thương xuyên xoay các phần
miệng, thõn, đáy gốm theo hướng mặt trời để gốm khô đều đặn. Bởi vì khi
gốm khô đều thì khi gốm chín sẽ có màu đỏ hồng, sản phẩm gốm đều đặn
không bị xám đen, méo, nứt, vỡ.
Chuẩn bị nguyên liệu nung gốm: Nguyên liệu nung gốm chủ yếu là củi
khô, rơm, rạ, trấu…Một lò nung trung binh với 50 cái lu và 100 gốm nhỏ thì
cần có 1m
3
củi khô và một xe bò rơm.
Xếp nguyên liệu vào lò nung: Khi các khõu trên được chuẩn bị sẵn sàng
thì gốm và nguyên liệu được người thợ gốm đưa từ nhà đến lò nung. Địa điểm
nung gốm không cố định, tuỳ theo điều kiện thời tiết mà chọn địa điểm cho
thớch hợp. Thông thường họ chọn địa điểm nung ở bói đất trống đầu làng, nơi
khuất gió hoặc gần nhà để thuận tiện cho việc di chuyển gốm và nguyên liệu.
cấu trang trí, nhuộm màu thực vật thì họ dùng cõy dài để móc đưa từng cái
gốm ra. Cũn nếu không có nhu cầu trang trí hoặc nhuộm màu thì lò gốm khi đã
nung chín thì phải để đến ngày hôm sau khi lò cháy hết nhiên liệu, nguội hẳn
thì mới lấy ra.
Gốm nung chín đưa ra khỏi lò thường được xếp thành 3 loại cơ bản:
Gốm loại 1: Gốm có màu đỏ, xanh nõu, không bị nứt, không méo mó.
Đây là loại sản phẩm tốt được chú trọng hàng đầu.
Gốm loại 2: Gốm màu chín đỏ, xanh, xanh nõu có đường nứt ở miệng,
đáy. Đõy là sản phẩm bị hư do nung qua nhiệt độ. Để cho loại gốm này sử
Bài tiểu luận Phạm Thị Kiều Giang - K54A Lịch
sử
dụng được, người thợ gốm Bầu Trúc thường dùng cơm trộn với mảnh gốm
chín giã nhỏ thành bột trét vào lấp kín các đường nứt của gốm. Đõy là biện
pháp khắc phục gốm hư của người thợ gốm Bầu Trúc.
Gốm loại 3: Gốm có màu đen. Đõy là loại gốm nung chưa đủ nhiệt độ
nên gốm chưa chín. Gốm loại này khi thấm nước sẽ bị vỡ ra không sử dụng
được. Muốn đưa loại gốm này vào sử dụng phải tiếp tục nung lần thứ hai để
gốm chín có màu đỏ hồng.
Gốm loại 4: Loại gốm bị vỡ nứt trầm trọng do nung ở nhiệt độ quá cao
hoặc khõu làm đất chưa đúng kĩ thuật. Loại gốm này thường không tu sửa
được gốm và bỏ đi, cũn số gốm hư không đáng kể nhưng có kích thước lớn thì
được chọn đem về làm hòn kê.
Sau khi đã phân loại, gốm được đưa về nhà và lúc thuận tiện thì bán ra
thị trường.
Túm lại, Quy trình làm gốm Chăm Bầu Trúc diễn ra theo 4 công đoạn
lớn: Đào và chuẩn bị nguyên liệu, Nhồi đất, Tạo hình gốm và nung gốm. Trong
mỗi công đoạn này lại có những công đoạn nhỏ nữa. Mỗi công đoạn đều có
một vị trí quan trọng. Trong công đoạn 1, 2 đòi hỏi người thợ gốm phải có kinh
nghiệm thì trong công đoạn 3, 4 lại đòi hỏi trình độ thẩm mỹ cao và sự sáng
thuê mướn nhõn công.
Nhìn chung giai đoạn này số lượng gốm sản xuất ra nhiều, chất lưưọng
sản phẩm cũng được chú ý hơn, gốm sản xuất được đưa ra thị trường không
phải hình ảnh “chồng gánh vợ đội” như giai đoạn trước nữa mà được vận
chuyển bằng xe lửa, xe tải…
3.3 Giai đoạn từ 1975 – 1986.
Đây là thời kì kinh tế bao cấp, đời sống nhõn dõn khó khăn, nhà nước
độc quyền sản xuất theo kế hoạch, chưa kích thích tư nhõn sản xuất từ đó tạo
nên sự khan hiếm mặt hàng tiêu dùng trên thị trường.