Bài tiểu luận vấn đề mâu thuẫn trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp ở nước ta hiện nay - Pdf 26

LỜI NÓI ĐẦU
  
Tất cả các sự vật hiện tượng trên thế giới đều chứa đựng những mặt trái
ngược nhau. Chúng vừa thống nhất với nhau vừa đấu tranh lẫn nhau, tác động
qua lại để giúp các sự vật hiện tượng vận động và phát triển.
Với lịch sử lâu đời gắn liền với cây lúa nước thì nông nghiệp là một
ngành kinh tế quan trọng hàng đầu của nước ta từ xưa đến nay. là một trong
những nước có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, trong thời đại phát triển
và hội nhập với nền kinh tế thế giới đòi hỏi nước ta phải đẩy mạnh phát triển
nông nghiệp. Mà đường lối phát triển nông nghiệp hiệu quả nhất là công
nghiệp hoá, hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp.
Quá trình phát triển theo đường lối công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông
nghiệp có những mặt tích cực và những mặt hạn chế (mâu thuẫn).
Chính vì tầm quan trọng của nó nên tôi chọn đề tài “Vấn đề mâu thuẫn
trong công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông nghiệp ở nước ta hiện nay” để trình
bày những quan điểm, hiểu biết của mình.
Bài tiểu luận được bổ sung thông tin từ một số tài liệu như các trang
web: Trang web tìm kiếm: google.com.vn; trang: DakLak.com.vn; trang web
của trung tâm thông tin phát triển nông nghiệp và nông thôn: agro.gov.vn…
Và đặc biệt là được sự hướng dẫn, giúp đỡ của giảng viên bộ môn triết học:
Thạc sĩ Nguyễn Thị Hải Yến.
Bài tiểu luận “Vấn đề mâu thuẫn trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp ở nước ta hiện nay” chắc chắn sẽ còn một số điểm hạn chế và
thiếu sót. Rất mong được sự thông cảm, nhận xét và bổ sung của giáo viên.
Xin chân thành cảm ơn!.
Sinh viên
Nguyễn Thị Lan
1
I. NHẬN THỨC MỚI VỀ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ NÔNG
DÂN TỪ NHỮNG CHUYỂN BIẾN VÀI THẬP KỶ VỪA QUA TRÊN
THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

Tuy nhiên, kể từ cuối những năm 1980, cùng với sự hình thành và tiến triển
nhanh chóng của nhiều xu thế mới trên thế giới, nhận thức của con người về
nông nghiệp, nông thôn và nông dân đã có những thay đổi.
Hội nghị nông nghiệp và môi trường của tổ chức nông lương thế giới
(FAO) đã đưa ra khái niệm “phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững”.
Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững là một quá trình đa
chiều, bao gồm: (1) tính bền vững của chuỗi lương thực (từ người sản xuất
đến người tiêu thụ, liên quan trực tiếp đến cung cấp đầu vào, chế biến và thị
trường); (2) tính bền vững trong sử dụng tài nguyên đất và nước về không
gian và thời gian; và (3) khả năng tương tác thương mại trong tiến trình phát
triển nông nghiệp và nông thôn để đảm bảo cuộc sống đủ, an ninh lương thực
trong vùng và giữa các vùng. Quan niệm về phát triển nông nghiệp. Các cách
thực hành này phải đảm bảo tính chất bền vững, có ý nghĩa là phải đáp ứng
đồng thời ba mục tiêu: (1) bền vững về sinh thái; (2) lợi ích về kinh tế; và (3)
lợi ích xã hội đối với nông dân và cộng đồng.
Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững được đặt ở vị trí trọng
tâm trong chiến lược công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn
của các quốc gia đang phát triển, giúp các quốc gia sớm đạt được các mục
tiêu phát triển. Cụ thể là xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường.
II. CÔNG NGHIỆP HOÁ ,HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP,NÔNG
THÔN.THÀNH TỤư VÀ NHỮNG TỒN TẠI
Ở Việt Nam, đại bộ phận dân cư tập trung sinh sống ở các nông thôn.
Tính đến ngày 01/07/2002 dân số cả nước là 79,93 triệu người. Trong đó: dân
số ở nông thôn là 60,05 triệu người chiếm 75,13% dân số cả nước.
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, khí hậu ôn hoà, sông ngòi chằng chịt
và nhiều phù sa … rất thuận lợi để phát triển ngành sản xuất nông nghiệp,
giúp Việt Nam trở thành một trong ba nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu
lương thực.
Để duy trì và phát triển vị trí của mình trong nền kinh tế chung của thế
giới, đòi hỏi chúng ta phải không ngừng phát triển. công nghiệp hoá- hiện đại

Công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản và ngành nghề nông thôn có
bước phát triển tích cực. Giá trị sản xuất công nghiệp chế biến nông, lâm,
thuỷ sản tăng trưởng bình quân 12-14%/năm. Sản xuất tiểu, thủ công nghiệp
và ngành nghề nông thôn có bước phát triển nhanh 15%/năm. Hiện cả nước
có 2.971 làng nghề, khoảng 1.35 triệu cơ sở ngành nghề nông thôn, với
4
khoảng 1.4 triệu hộ, thu hút hơn 10 triệu lao động (trong đó có khoảng 1.5
triệu người làm hàng mỹ nghệ).
Giá trị sản xuất nông lâm thuỷ sản tăng trưởng liên tục và đạt mức
cao(5.4% năm)tổng kim nghạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản năm 2004 đạt
gần 7 tỷ USD. Tăng 1.5 lần so với năm 2000, trong đó nông, lâm sản tăng
gần 1.5 lần, thuỷ sản tăng 1.6 lần. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đạt sản
lượng và giá trị lớn như: Gạo, cà phê, cao su, hạt điều. Đặc biệt xuất khẩu đồ
gỗ gia dụng và lâm sản tăng mạnh, đạt hơn 1.2 tỷ USD, tăng gấp 3.3 lần so
với năm 2000. Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp.
Trình độ khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản từng
bước được nâng cao theo hướng sử dụng giống mới, công nghệ sinh học,
phương thức canh tác tiên tiến để nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm.
Chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi bước đầu đã đạt kết quả quan
trọng vào việc nâng cao năng suất chất lượng nông sản, thuỷ sản. Đến nay có
hơn 90% diện tích lúa, 80% diện tích ngô, 60% diện tích mía, 100% diện tích
điều trồng mới… được sử dụng giống mới. Nhiều khâu trong sản xuất nông
nghiệp được cơ giới hoá như: tưới nước, tuốt lúa, xay xát đạt hơn 80%, vận
chuyển làm đất đạt hơn 60%. Trong ngành thuỷ sản, tổng công suất tàu thuyền
đánh bắt đạt hơn 4 triệu sức ngựa, một số cơ sở nuôi trồng thuỷ sản được trang
bị các máy móc, thiết bị bảo đảm cho công nghệ nuôi trồng tiên tiến.
Quan hệ sản xuất được xây dựng ngày càng phù hợp. 5 năm qua đã
xuất hiện ngày càng nhiều hộ sản xuất hàng hoá quy mô lớn và bước đầu khắc
phục được một số yếu kém của khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã. Cả nước

trồng; tỷ trọng giá trị chăn nuôi chỉ chiếm 23%, giá trị thu được trên 1ha đất
nông nghiệp còn thấp so với tiềm năng và so với nhiều nước trong khu vực.
Việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở nhiều nơi còn mang tính tự
phát, thiếu quy hoạch nên kém hiệu quả và chưa bền vững. Chất lượng quy
hoạch nhiều nơi còn thấp, chưa đồng bộ, chưa phù hợp với yêu cầu thị trường
và tiến bộ khoa học, công nghệ. Quản lý thực hiện quy hoạch còn nhiều bất
cập, cơ cấu lao động nông thôn chuyển dịch, cơ bản vẫn là thuần nông. Mục
tiêu giảm lao động nông nghiệp xuống còn 50% vào năm 2010 vẫn là thách
thức lớn.
b. Năng suất chất lượng và khả năng cạnh tranh của một số nông sản
phẩm còn thấp. Việc nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ vào sản
6
xuất nông nghiệp còn chậm.trong một số cây trồng vật nuôi chưa có đột phá
công nghệ để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Năng suất, chất lượng
một số nông sản còn thấp, khả năng cạnh tranh kém như:chè,mía, đường,rau
quả,sản phẩm chăn nuôi. hệ thống nghiên cúư khoa học nông nghiệp chậm
đựơc sắp xếp lại; chưa có cơ chế gắn kết nghiên cứu khoa học với chuyển
giao, ứng dụng vào sản xuất, gắn kết giữa nhà khoa học với doanh nghiệp và
nông dân.chậm hình thành hệ thống kiểm soát chất lượng nông sản và vật tư
nông nghiệp. tình trạng dư lượng hoá chất,thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kháng
sinh trong nông sản, thuỷ sản đang là vấn đề lớn phải có biện pjháp khẩn
trương khắc phục.cơ sở công nghiệp chế biến còn nhỏ bé về quy mô, lạc hậu
về công nghệ (52.8% số doanh nghiệp có công nghệ lạc hậu), đơn điệu về sản
phẩm, chủ yếu là sơ chế, giá trị gia tăng thấp và chưa gắn kết chặt chẽ với
vùng nguyên liệu.
c. Việc sắp xếp đổi mới doanh nghiệp và phát triển các thành phần kinh
tế còn chậm. Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp nhà nước còn thấp. Việc sắp
xếp đổi mới các nông, lâm trường quốc doanh còn chậm. Kinh tế tập thể, mà
chủ yếu là các hợp tác xã chưa có chuyển biến rõ nét, chưa thoát khỏi tình
trạng yếu kém. Doanh nghiệp tư nhân là nhân tố quan trọng trong việc phát

sống giũa nông thôn và thành thị ngày càng gia tăng. Nếu áp dụng chuẩn
nghèo mới dự kiến tỷ lệ nghèo cả nước là 26 dến 27%, riêng ở nông thôn lên
đến 31%, miền núi hơn 50%, có nơi lên hơn 60% (vùng tây bắc).
Đời sống văn hoá chậm được cải thiện, tệ nạn xã hội và tình trạng ô
nhiễm môi trường ở nhiều vùng nông thôn có chiều hướng gia tăng. Đặc biệt
là tội phạm lừa gạt, buôn bán phụ nữ, trẻ em gái và tệ nạn ma tuý ngày càng
diễn biến phức tạp. Do đời sống khó khăn và kém hiểu biết, việc lấy chồng
nước ngoài của một bộ phận không nhỏ chị em phụ nữ ở Nam Bộ đang nảy
sinh nhiều vấn đề xã hội rất phức tạp.
III. NHỮNG CHỦ TRƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP NHẰM ĐẨY NHANH
CNH - HĐH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VIỆT NAM
Nông thôn Việt Nam hiện đang đối mặt với hàng loạt các vấn đề như
quy mô sản xuất manh mún. Công nghệ lạc hậu. Năng suất, chất lượng sản
phẩm thấp. Khả năng hợp tác, liên kết, cạnh tranh yếu, cơ cấu chậm. Tình
trạng thiếu việc làm, thừa lao động là phổ biến. Chênh lệch về thu nhập và về
điều kiện sống giữa người giàu và người nghèo ngày càng lớn. Tình trạng ô
nhiễm môi trường sản xuất và sinh hoạt ngày càng trở nên nặng nề. Các hoạt
động sang nhượng sử dụng và bồi hoàn đất đai vẫn chưa diễn ra theo đúng
8
quy luật, còn gặp nhiều cản trở. Khó khăn, vướng mắc chính ở trên là những
thách thức xuất hiện trong giai đoạn mới của quá trình phát triển kinh tế của
quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và toàn cầu hoá. Có tháo gỡ được các
khó khăn trên mới có thể khắc phục tình trạng tăng trưởng nông nghiệp có xu
hướng giảm sút trong thời gian gần đây, từng bước tháo gỡ những mâu thuẫn
về vấn đề môi trường đang nảy sinh trong nông thôn để đảm bảo cho quá
trình phát triển tương lai vững bền và ổn định.
1. Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững:
Theo xu hướng chung trên toàn thế giới, các chủ trương và biện pháp
nhằm phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững ở Việt Nam cần phải
đồng thời hướng đền ba mục tiêu chính: (1) bền vững về sinh thái; (2) lợi ích

nông thôn để phát triển kinh tế, đồng thời giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
- Đẩy mạnh thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo, nhất là ở vùng
sâu, vùng xa, miền núi và vùng các dân tộc thiểu số: tăng cường đầu tư phát
triển kết cấu hạ tầng; trao quyền và mở rộng sự tham gia của người dân nông
thôn vào quá trình phát triển; thực hiện sự bình đẳng về giới,…
2. Phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế trong nông nghiệp và
kinh tế nông thôn.
a) Phát triển các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh thuộc các thành
phần kinh tế khác nhau trên cơ sở bình đẳng.
Kinh tế nông nghiệp và nông thôn nước ta bao gồm các hình thức tổ
chức sản xuất - kinh doanh chủ yếu sau đây: (1) DNNN; (2) nông- lâm trường
quốc doanh; (3) HTX; (4) doanh nghiệp dân doanh; (5) doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài; (6) trang trại; và (7) hộ cá thể. Trong giai đoạn 2006-2010,
các chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của những chủ thể này
cần tập trung vào những nội dung chủ yếu sau đây:
- Đảm bảo sự bình đẳng cho tất cả các chủ thể trong hoạt động, đặc biệt
là trong việc tiếp cận với các yếu tố đầu vào như đất đai, vốn, lao động, khoa
học và công nghệ … và thị trường đầu ra. Cải cách pháp lý liên quan đến tổ
chức và hoạt động của các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh cần hướng
tới một mặt bằng chung, thống nhất. Trong vòng 5 năm tới, cần nghiên cứu,
tổng kết việc thực hiện các đạo luật và các văn bản pháp lý điều chỉnh việc tổ
chức và hoạt động của các loại hình chủ thể nêu trên, trên cơ sở đó ban hành
10
một đạo luật thống nhất điều chỉnh chung tất cả các loại hình tổ chức. Nhờ
vậy sẽ đảm bảo sự bình đẳng về môi trường pháp lý, trên cơ sở đó đảm bảo sự
bình đẳng về chính sách và quản lý Nhà nước.
b) Phát triển các loại thị trường ở nông thôn:
Đồng thời với việc thực hiện các biện pháp phát triển đồng bộ các loại
thị trường trên phạm vi cả nước nói chung, cần có các biện pháp cụ thể để
thúc đẩy sự phát triển của các loại thị trường ở nông thôn, bao gồm thị trường

3. Phát triển các ngành, nghề phi nông nghiệp trong kinh tế nông thôn.
Trong kinh tế nông thôn, cùng với phát triển nông nghiệp, thì phát triển
các ngành, nghề phi nông nghiệp là nội dung then chốt để đạt được các mục
tiêu CNH, HĐH. Ở nước ta, xu thế hướng tới một cơ cấu kinh tế nông thôn có
hiệu quả là tăng nhanh tỷ trọng các ngành, nghề phi nông nghiệp, đồng thời
tạo ra sự liên kết hữu hiệu giữa nông nghiệp và phần phi nông nghiệp. Những
chủ trương, biện pháp nêu ở các phần trên đây cũng góp phần thúc đẩy phát
triển các ngành, nghề phi nông nghiệp. Bởi vì, việc phát triển các loại hình tổ
chức sản xuất, kinh doanh đa dạng và phát triển các loại thị trường ở nông
thôn sẽ chi phối cơ cấu ngành, nghề của kinh tế nông thôn, trong đó các
ngành, nghề phi nông nghiệp là mục tiêu hướng tới của nhiều chủ thể sản
xuất, kinh doanh.
4. Xây dựng đời sống văn hoá- xã hội mới, hiện đại, đậm đà bản sắc dân
tộc ở nông thôn.
Trong bối cảnh các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế- xã hội
của đất nước đang hướng mạnh đến sự phát triển bền vững, việc xây dựng đời
sống văn hoá- xã hội mới, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc ở nông thôn được
coi như một yêu cầu tất yếu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp nông thôn. Để thực hiện được yêu cầu này cần chú ý đến những giải
pháp quan trọng sau đây:
- Thực hiện lồng ghép kết hợp các vấn đề văn hoá, xã hội, môi trường
vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế- xã hội
và các chương trình, dự án đầu tư liên quan đến nông nghiệp, nông thôn.
- Hoạch định và thực hiện các chủ trương, chính sách về xây dựng đời
sống văn hoá- xã hội, phát triển con người ở nông thôn. Khuyến khích các
thành phần kinh tế đầu tư thành lập các cơ sở y tế, đào tạo ngoài công lập,
đầu tư bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá, đầu tư vào các hoạt động
kinh doanh điện ảnh, biểu diễn nghệ thuật… Đồng thời nhà nước cũng cần có
12
những chính sách khuyến khích đặc biệt cho đầu tư vào những lĩnh vực này ở

một nước công nghiệp theo hướng hiện đại và đạt mục tiêu xa hơn là “dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thì CNH- HĐH nông
nghiệp, nông thôn được đặt ở trung tâm của chương trình nghị sự. Cũng giống
như công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung, CNH-
HĐH nông nghiệp và nông thôn có nhiều thuận lợi nhưng đồng thời cũng
đứng trước nhiều khó khăn. Xét khái quát những thuận lợi và khó khăn thể
hiện ở một số điểm chính sau đây:
- Nước ta có vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi để phát
triển một nền nông nghiệp đa dạng nhưng chưa được khai thác có hiệu quả,
tài nguyên đang bị xuống cấp nhanh.
- Nông thôn có lực lượng lao động dồi dào, giá rẻ, cần cù nhưng trình
độ chuyên môn kỹ thuật thấp, năng suất thấp, tỷ lệ lao động thất nghiệp và
thiếu việc làm cao.
- Nguồn vốn tiềm tàng trong dân cư có thể được huy động cho phát
triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn lớn, nhưng còn ít các cơ hội và điều
kiện đầu tư thực sự hấp dẫn để thu hút nguồn vốn này.
- Quy mô thị trường trong nước tương đối lớn và ngày càng tăng,
nhưng mức thu nhập chung của dân cư còn thấp, sự chênh lệch thu nhập tăng.
- Thị trường thế giới đang điều chỉnh trong quá trình toàn cầu hoá, nhu
cầu nông sản ở nhiều nước trong vùng, nhất là Trung Quốc đang tăng nhanh,
nhưng năng lực cạnh tranh của hàng nông sản nước ta nhìn chung còn yếu
trong bối cảnh cạnh tranh thương mại thế giới gay gắt.
14
- Sự phát triển của khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học,
tạo điều kiện cho nước ta tận dụng tốt lợi thế là nước đi sau, tăng cường áp
dụng những tiến bộ và phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nhưng năng lực
chuyển giao và hấp thụ công nghệ mới thấp.
- Trong những năm qua, nông nghiệp tuy tăng trưởng khá nhanh và liên
tục nhưng chưa được tận dụng để tăng thu nhập và tăng khả năng tái sản xuất
của nông dân, trong khi đó công nghiệp và dịch vụ chưa hỗ trợ đắc lực cho

Buôn ma thuột, ngày……tháng…… năm 2007
Giáo viên
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status