Một số giải pháp phát triển các khu công nghiệp tại tỉnh Đồng Nai đến năm 2010 - Pdf 26

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài :

Tỉnh Đồng Nai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có nhiều
thuận lợi để phát triển công nghiệp. Các khu công nghiệp Đồng Nai đã và đang
khẳng đònh vai trò quan trọng của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã
hội của tỉnh Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung, góp phần đẩy mạnh quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Hiệu quả hoạt động của các khu công nghiệp tại tỉnh Đồng Nai nhìn chung
qua từng năm đều có sự gia tăng và ổn đònh, góp phần quan trọng vào tăng
trưởng kinh tế cao của tỉnh. Trong giai đoạn 1991 - 2000, Đồng Nai vẫn liên tục
giữ được tốc độ phát triển kinh tế bình quân 12,9%/năm. Đến giai đoạn 2001 –
2004, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn đạt và vượt mục tiêu Nghò quyết Đại hội
tỉnh Đảng bộ đề ra : năm 2001 tăng 11,2%, năm 2002 tăng 12,2%, năm 2003
tăng 12,9%, năm 2004 tăng 13,56% (mục tiêu bình quân 5 năm 2001 – 2005 tăng
từ 10 – 12%), GDP bình quân đầu người đến năm 2004 đạt 699 USD/người/năm.
Phát triển khu công nghiệp được xác đònh là nhiệm vụ trọng điểm của kinh
tế đòa phương, là chiến lược mũi nhọn để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại
hoá của tỉnh. Nếu so sánh với hệ thống khu công nghiệp cả nước (năm 2004) thì
số lượng khu công nghiệp của tỉnh Đồng Nai chiếm 15%, diện tích chiếm 24%,
số dự án chiếm 21%, vốn đầu tư chiếm đến 31% và lao động chiếm khoảng
30%. So với các tỉnh, thành có khu công nghiệp, Đồng Nai có số lượng, diện
tích khu công nghiệp nhiều nhất, tốc độ phát triển nhanh nhất, thu hút vốn đầu
tư, số dự án và số lao động lớn nhất.
- 1 -

Bên cạnh những kết quả đạt được là khá tốt, vẫn còn nhiều hạn chế tồn tại
nảy sinh trong công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng, quản lý và khai thác các
khu công nghiệp, còn tiềm ẩn nguy cơ mất ổn đònh vì phát triển nhanh sẽ kèm
theo những hậu quả về môi trường, về xã hội không chỉ cho tỉnh Đồng Nai mà

khu công nghiệp Đồng Nai trong thời kỳ từ nay đến năm 2010.
5.
Phương pháp nghiên cứu đề tài :
Luận văn dựa trên cơ sở những phương pháp luận của chủ nghóa duy vật
biện chứng, duy vật lòch sử và sử dụng các phương pháp nghiên cứu như mô tả,
thống kê, sử dụng lý thuyết hệ thống, phân tích, so sánh và tổng hợp.
6.
Kết cấu của Luận văn :
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, các phụ lục, nội dung
của Luận văn được trình bày trong 03 chương:

Chương 1 : Cơ sở lý luận về khu công nghiệp
Chương 2 : Thực trạng phát triển các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai
Chương 3 : Một số giải pháp phát triển các khu công nghiệp tại tỉnh Đồng
Nai đến năm 2010
Vấn đề phát triển khu công nghiệp ở nước ta nói chung và tại tỉnh Đồng
Nai nói riêng còn mới mẻ, do vậy luận văn không thể tránh khỏi những thiếu
sót. Kính mong nhận được sự cảm thông và đóng góp ý kiến của qúy Thầy, Cô
trong hội đồng đánh giá, của các chuyên gia, bạn bè và đồng nghiệp để luận văn
được hoàn thiện hơn.

- 3 -

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP

gây ô nhiễm.
- 4 -

- Quy hoạch KCN phải đồng thời quy hoạch cả bên trong và bên ngoài
KCN, phải gắn với việc đô thò hoá nông thôn và phù hợp với tiến trình chuyển
dòch cơ cấu kinh tế chung của mỗi đòa phương và cả nước.
- Tiết kiệm tối đa đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng trọt màu mỡ để
xây dựng khu công nghiệp.
1.1.2.2. Nguyên tắc bình đẳng trong thu hút vốn đầu tư
Việc thu hút vốn đầu tư để phát triển các KCN cần phải bình đẳng giữa các
thành phần kinh tế, đảm bảo tính đa dạng của các thành phần tham gia đầu tư,
có như vậy mới phát huy được nội lực và tranh thủ được ngoại lực.
1.1.2.3. Nguyên tắc về công tác quản lý khu công nghiệp
Cần phân đònh rõ chức năng, nhiệm vụ trong công tác quản lý nhà nước:
- Nhà nước chòu trách nhiệm về mặt pháp lý, xây dựng hành lang pháp lý,
cấp phép, duyệt quy hoạch bên trong, bên ngoài KCN; chòu trách nhiệm đầu tư
bên ngoài KCN về cơ sở hạ tầng xã hội như cung cấp điện, nước, đường giao
thông, hệ thống thông tin liên lạc, các công trình phúc lợi xã hội, văn hoá, an
ninh quốc phòng, quản lý môi trường, đền bù giải tỏa.
- Doanh nghiệp đầu tư hạ tầng KCN chòu trách nhiệm về quy hoạch tổng
thể bên trong các KCN, tổ chức việc kinh doanh cơ sở hạ tầng trong KCN, thu
hút đầu tư và đảm bảo môi trường bên trong KCN.
- Doanh nghiệp KCN : Đầu tư vào việc sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản
phẩm, đảm bảo môi trường hoạt động của doanh nghiệp trong KCN, thực hiện
nghiêm túc pháp luật của Nhà nước và các chính sách xã hội khác.
1.1.2.4. Nguyên tắc tính tương thích trong bố trí các doanh nghiệp
Việc bố trí các doanh nghiệp trong KCN phải đảm bảo tính tương thích, tạo
nên sự hài hòa để tránh gây khó khăn cho việc xử lý môi trường, liên doanh,
liên kết, dẫn đến kém hiệu quả về mặt kinh tế – xã hội. Quy mô KCN và quy
mô doanh nghiệp đầu tư vào KCN phải phù hợp với đặc điểm công nghệ và phải

phát triển như ở nước ta, việc quy hoạch và xây dựng các KCN có khả năng giải
quyết được nhiều việc làm cho người lao động càng có ý nghóa to lớn.
- 6 -

1.1.2.9. Nguyên tắc bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái
Khi bố trí các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp phải tính đến việc xử lý
chất thải, vệ sinh công nghiệp để hạn chế gây ô nhiễm môi trường xung quanh.
Các vấn đề về môi trường cần quan tâm như chất thải khí, nước thải, chất thải
rắn phải được kiểm soát chặt chẽ.
1.1.2.10. Nguyên tắc đảm bảo an ninh quốc phòng và trật tự xã hội của quốc gia
và từng đòa phương
Một KCN phát triển sẽ tập trung vốn, thiết bò, công nghệ, lao động… hình
thành một trung tâm sản xuất, đô thò nên tác động của nó là rất lớn đối với vấn
đề an ninh quốc phòng, an ninh trật tự. Phải giải quyết tốt hai vấn đề này thì mới
đảm bảo những điều kiện thuận lợi cho KCN phát triển ổn đònh.
1.1.3. Những căn cứ để lựa chọn khu công nghiệp
1.1.3.1. Những căn cứ để lựa chọn khu công nghiệp trên thế giới
Thông thường vùng lãnh thổ dùng để xây dựng KCN có ưu điểm về điều
kiện tự nhiên, đòa chất công trình, thuận tiện về cấp thoát nước, có khả năng
cung cấp công nhân lành nghề,… các nhà kinh doanh thuê đất trong khu vực này
để hình thành các doanh nghiệp trên cơ sở đã xem xét các điều kiện thuận lợi
cho quá trình sản xuất công nghiệp và tiêu thụ sản phẩm.
1.1.3.2. Những căn cứ để lựa chọn khu công nghiệp ở Việt Nam
Vò trí đòa lý : Nước ta đang hình thành các loại hình KCN có vò trí như sau:
- KCN xây dựng hoàn toàn mới: Vò trí thường tập trung tại các thành phố,
các khu vực đang phát triển, thuận lợi về giao thông, điện nước, thông tin liên
lạc, nguồn nhân công…
- KCN được xây dựng trên khuôn viên sẵn có một số doanh nghiệp đang
hoạt động: Do nhu cầu mở rộng mặt bằng, đổi mới công nghệ, … những doanh
nghiệp này chấp nhận thực trạng hiện có để cải tạo, nâng cấp.

phủ để giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc quy hoạch, đầu tư xây dựng, phát
triển và quản lý các KCN đã được quy hoạch và phê duyệt. Sau một thời gian
hoạt động do xuất hiện nhiều nhược điểm của cơ quan này như : có sự lầm lẫn
hoặc đồng nhất giữa chức năng, thẩm quyền của các cơ quan do Quốc hội và
Chính phủ thành lập với Ban quản lý các KCN Việt Nam.
- 8 -

Do những nhược điểm nêu trên, từ năm 2000, Ban quản lý các KCN Việt
Nam đã được chuyển giao về Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sắp xếp đầu mối này vào
Vụ quản lý KCN và KCX.
Ngoài việc chuyển giao trên, nhiệm vụ của các Bộ, ngành Trung ương vẫn
thực hiện như Nghò đònh 36/CP của Chính phủ.
1.1.4.2. Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh, thành phố
Theo Nghò đònh 36/CP, Ban quản lý KCN cấp tỉnh, thành phố là cơ quan
trực tiếp quản lý các KCN, là đơn vò dự toán ngân sách nhà nước, có các nhiệm
vụ, quyền hạn sau :
- Xây dựng điều lệ quản lý KCN trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, quy
hoạch phát triển công trình kết cấu hạ tầng, quy hoạch bố trí ngành nghề, tham
gia phát triển công trình kết cấu hạ tầng ngoài KCN có liên quan và khu dân cư
phục vụ cho công nhân lao động tại KCN, hỗ trợ vận động đầu tư vào KCN, tổ
chức thẩm đònh và cấp giấy phép đầu tư cho các dự án đầu tư nước ngoài theo
thẩm quyền, thỏa thuận với các doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN trong việc
thẩm đònh giá cho thuê đất gắn liền với công trình kết cấu hạ tầng đã xây dựng,
phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để kiểm tra, thanh tra việc thực hiện
các quy đònh của pháp luật về lao động.
- Các bộ, ngành ủy quyền cho Ban quản lý KCN cấp tỉnh thực hiện một số
nhiệm vụ quản lý nhà nước như : Bộ Kế hoạch và Đầu tư ủy quyền cấp, điều
chỉnh, thu hồi giấy phép đầu tư đối với các dự án đến 40 triệu USD. Bộ Thương
mại ủy quyền phê duyệt kế hoạch xuất nhập khẩu và quản lý hoạt động thương
mại, Bộ Lao động Thương binh Xã hội ủy quyền cấp phép cho người lao động

Điều này đã thực sự hấp dẫn và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vốn dó rất lo
ngại về cơ sở hạ tầng không đầy đủ, đồng bộ và các thủ tục hành chính của nước
chủ nhà.
Cùng với chính sách khuyến khích đầu tư vào KCN, hiện nay nhà nước
cũng đang tiến hành di dời hàng loạt các doanh nghiệp trong nội thành gây ô
nhiễm môi trường vào các KCN, do đó KCN không chỉ là đòa chỉ hấp dẫn các
nhà đầu tư nước ngoài mà cả các nhà đầu tư trong nước, thúc đẩy quá trình huy
động vốn đầu tư cho công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

- 10 -

1.2.2 Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực
Đối với các nhà đầu tư, mục tiêu cao nhất là thu được lợi nhuận tối đa, chi
phí đầu tư thấp, do đó với hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật sẵn có của KCN nhà
đầu tư có thể xây dựng ngay nhà máy, tiết kiệm thời gian và tiền bạc, không bỏ
lỡ cơ hội đầu tư.
Sự thuận lợi về nguồn lao động, điện, nước, giao thông, thông tin liên lạc
và bố trí các cơ sở vật chất đồng bộ, hợp lý, giúp cho quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh được nhanh chóng, hạn chế thấp nhất sự gián đoạn trong sản
xuất do những điều kiện khách quan gây ra. Công suất thiết bò được sử dụng cao
nhất, hàng hoá sản xuất ra cũng nhanh chóng được đưa vào lưu thông, giảm
thiểu chi phí vận chuyển và bảo quản.
Các KCN được quy hoạch phát triển theo từng ngành, nghề nên việc khai
thác tài nguyên trở nên có khoa học và có hiệu quả, tránh được sự lạm dụng,
khai thác triệt để, dẫn đến làm kiệt quệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
1.2.3 Đầu mối tạo việc làm, hình thành các thò trấn và khu dân cư để thực hiện
đô thò hoá nông thôn
Các KCN sử dụng một lực lượng lao động khá lớn. Trên cơ sở cạnh tranh
để thu hút lao động, người lao động có cơ hội được cải thiện chế độ tiền lương,
điều kiện làm việc, chính sách thỏa đáng hơn trong tuyển dụng, sử dụng và đào

mà trước hết là tại thò trường trong nước với các công ty nước ngoài. Trong bối
cảnh đó, KCN đã đóng góp to lớn vào việc tăng trưởng kinh tế của đất nước, làm
chuyển dòch cơ cấu ngành công nghiệp và cơ cấu kinh tế, góp phần thực hiện
chiến lược sản xuất thay thế nhập khẩu và hướng về xuất khẩu mà một số nước
đã thực hiện. Việc phát triển thành công các KCN sẽ góp phần đẩy mạnh xuất
khẩu, tạo tích lũy để trang bò kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế.
- 12 -

1.3. Kinh nghiệm phát triển khu công nghiệp trên thế giới và bài học đối
với Việt Nam
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển khu công nghiệp của thế giới
1.3.1.1. Trung Quốc [12]
Nhà nước thành lập các “Đặc khu kinh tế” với quy chế hoạt động tự do,
linh hoạt, được kinh doanh tổng hợp các loại hình sản xuất – dòch vụ, được tiêu
thụ một phần sản phẩm trong nội đòa, được khuyến khích sử dụng nguyên vật
liệu trong nước. Ban lãnh đạo đặc khu được cấp quyền hành rộng rãi, độc lập,
quyền hành không chỉ liên quan đến sản xuất mà còn liên quan đến hải quan,
cấp visa đi lại, lưu trú của nhà đầu tư nước ngoài. Điểm nổi bật tại các “Đặc khu
kinh tế” là sử dụng chính sách ưu đãi hơn so với chính sách đầu tư nước ngoài và
được áp dụng trong toàn quốc. Các chính sách này bao gồm những ưu đãi về
thuế, đất đai, quản lý ngoại hối, quản lý xuất nhập khẩu, lao động tiền lương,
các chính sách tiêu thụ sản phẩm…
Trong những năm gần đây, để đẩy nhanh tốc độ phát triển cao và bền
vững, Trung Quốc liên tục ban hành nhiều chính sách, biện pháp quan trọng
nhằm cải thiện môi trường đầu tư, có thể kể ra như:
- Coi trọng đầu tư của các công ty xuyên quốc gia trong các dự án sử dụng
công nghệ kỹ thuật cao thông qua việc nới lỏng kiểm soát việc thành lập các xí
nghiệp 100% vốn nước ngoài và các xí nghiệp do người nước ngoài điều phối.
- Cải cách hành chính và hệ thống ngoại thương, khuyến khích nhà đầu tư
nước ngoài đầu tư vào khu vực miền Trung và miền Tây. Cho phép các tỉnh

Bộ Công nghiệp, trong đó chính quyền Trung ương trực tiếp quản lý 12 KCN
trọng điểm, các KCN còn lại do chính quyền đòa phương hoặc tư nhân quản lý
thông qua ban điều hành KCN do các doanh nghiệp KCN cử đại diện tham gia.
Nhà nước không thành lập cơ quan quản lý riêng cho từng KCN. Đồng thời Đài
Loan còn tách cơ quan hoạch đònh chiến lược phát triển, chính sách phát triển,
quy hoạch ra khỏi cơ quan quản lý điều hành nhằm đảm bảo tính khách quan
trong điều hành kinh tế. Trong quá trình triển khai, các cơ quan này có thể kiểm
tra công việc của nhau để kòp trình Chính phủ những giải pháp thích hợp khắc
phục những khiếm khuyết hoặc sai lầm trong quy hoạch, kế hoạch, chính sách,
hay trong công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện.
- 14 -

Có thể tóm tắt những nguyên nhân dẫn đến thành công của các KCN Đài
Loan như sau:
- Việc quy hoạch các KCN theo một tổng thể thống nhất;
- Phương thức quản lý các KCN của Chính phủ linh hoạt và có hiệu quả;
- Tổ chức các dòch vụ tốt để tạo thuận lợi cho nhà đầu tư;
- Vò trí đòa lý thuận lợi, giá cho thuê đất thấp.
1.3.1.3. Thái Lan [13]
Các khu quy hoạch xây dựng KCN đều được Nhà nước bảo trợ. Nhà nước
đứng ra bảo lãnh cho các công ty nhà nước vay mà không thế chấp, đồng thời
khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân, kể cả các công ty nước ngoài tham gia
xây dựng các KCN. Năm 1996 trong số 56 KCN tại Thái Lan, có 11 KCN do
Chính phủ lập và 45 KCN do các xí nghiệp tư nhân đầu tư.
Đối với công tác thu hút đầu tư, ngoài giá đất cho thuê thấp, dòch vụ hành
chính một cửa, nhà nước phân ba vùng phát triển KCN với những ưu đãi khác
nhau để khuyến khích đầu tư vào những vùng khó khăn, cụ thể :
- Thuế thu nhập công ty : 11 KCN ở vùng 1 (bao gồm Băng cốc và 5 tỉnh
phụ cận) được miễn trong vòng ba năm, 19 KCN ở vùng 2 (bao gồm 9 tỉnh xung
quanh khu vực 1) được miễn bảy năm và 54 KCN ở vùng 3 (gồm 62 tỉnh còn lại)

- Nguồn vốn đầu tư trên cơ sở phát huy nội lực bên trong đất nước, không
quá chú trọng nguồn vốn từ bên ngoài. Có chính sách nhất quán trong việc thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nhà nước huy động mọi nguồn vốn trong xã
hội và khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển KCN.
- Giá cho thuê đất và nhà xưỡng hợp lý, hạ tầng kỹ thuật KCN tốt.
- Chủ trương phát triển các KCN phải được sự quan tâm của tất cả các ban
ngành trong cả nước từ trung ương đến đòa phương chứ không phải chỉ riêng
ngành công nghiệp.
- 16 -

- Nhà nước có chính sách đầu tư nhất quán trên cơ sở khuyến khích ưu đãi
cao, nhất là thuế. Bên cạnh những can thiệp bằng cơ chế, chính sách, Chính phủ
còn hỗ trợ về kinh tế cho các KCN ở đòa bàn khó khăn nhằm thúc đẩy phát triển
cả hệ thống KCN trong cả nước.
- Cơ chế quản lý linh hoạt, có hiệu quả cao, mô hình quản lý KCN phải thật
sự thông thoáng, thực hiện tốt cơ chế một cửa, đơn giản thủ tục hành chính, bộ
máy hành chính gọn nhẹ, tránh mức độ thấp nhất tệ quan liêu, hành chính gây
phiền hà cho các nhà đầu tư. Ban quản lý KCN được chủ động về tài chính nhằm
tạo điều kiện thực hiện tốt các chức năng được giao.
- Việc phát triển các KCN theo hai giai đoạn: Giai đoạn đầu thu hút các
doanh nghiệp, các ngành có hàm lượng lao động cao, ưu tiên những dự án xuất
khẩu, những dự án đầu tư vào những khu vực xa đô thò, chọn những ngành có lợi
thế so sánh và tạo mọi điều kiện cho ngành đó phát triển làm tiền đề cho các
ngành khác. Kết hợp xây dựng những nhà máy lớn – hiện đại, vừa và nhỏ. Giai
đoạn sau chú ý đến những dự án có công nghệ cao.
- Nguồn nhân lực : Lao động dồi dào, có kỹ năng, có những chính sách phát
triển nguồn nhân lực để đảm bảo cung cấp đủ nguồn nhân lực ngay từ khi có
đònh hướng phát triển các KCN.
- Các KCN thường được xây dựng ở những đòa điểm có lợi thế về kinh tế, xã
hội, tự nhiên như gần sân bay, bến cảng, đầu mối giao thông; cơ sở hạ tầng,

nghiệp tỉnh Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung.
- 18 -

Chương 2 : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH ĐỒNG NAI

2.1. Những nét chung về tình hình phát triển các khu công nghiệp Việt Nam
trong thời gian qua
Quá trình hình thành và phát triển các KCN tỉnh Đồng Nai nằm trong bối
cảnh phát triển KCN ở Việt Nam, vì vậy thông qua phân tích khái quát thực
ftrạng phát triển các KCN cả nước, có thể nhận diện được thực trạng và vò trí
phát triển của các KCN tỉnh Đồng Nai một cách toàn diện.
2.1.1. Tình hình quy hoạch và phát triển các KCN ở Việt Nam
Sau 14 năm phát triển, đến tháng 12/2004, Thủ tướng Chính phủ đã duyệt
quy hoạch 152 KCN (không tính đến khu kinh tế Dung Quất 14.000 ha và khu
kinh tế mở Chu Lai 4.000 ha), với diện tích 25.400ha. Thành lập 112 KCN (trong
đó có 107 KCN và 5 KCX) với tổng diện tích 21.829ha, trong đó có 68 KCN đã
đi vào hoạt động với tổng diện tích tự nhiên là 14.012ha và 44 khu (tổng diện
tích tự nhiên là 7.817ha) đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và
xây dựng kết cấu hạ tầng KCN.
Bảng 2.1 : Quy hoạch các khu công nghiệp Việt Nam đến 2010
Số KCN quy hoạch đã duyệt đến 2010
Stt Vùng
Số lượng Quy mô (ha)
1 Trung du miền núi phía bắc 5 553
2 Tây Nguyên 5 681
3 Đồng bằng sông Cửu Long 23 4.573

tỷ đồng, chiếm trên 40% vốn đăng ký.
Một số KCN đã xây dựng hạ tầng hoàn chỉnh như khu chế xuất Tân Thuận,
khu chế xuất Linh Trung (TP. Hồ Chí Minh); KCN Việt Nam – Singapore (Bình
Dương); KCN Amata, Biên Hòa II (Đồng Nai)… Các KCN còn lại hầu hết đang
tiến hành đền bù giải toả, giải phóng mặt bằng, tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ
tầng.
Tình hình xây dựng cơ sở hạ tầng phụ thuộc phần lớn vào tiềm lực tài chính
của các công ty kinh doanh phát triển KCN. Một số KCN do chủ đầu tư hạ tầng
mạnh về tài chính nên tiến độ xây dựng nhanh và đảm bảo đầy đủ cơ sở hạ tầng
- 20 -

cho KCN. Còn nhiều KCN thiếu cơ sở hạ tầng do đơn vò đầu tư thiếu vốn, thiếu
năng lực.
2.1.2.2. Cơ sở hạ tầng ngoài khu công nghiệp
Hạ tầng ngoài KCN do Nhà nước đầu tư, tuy nhiên trong thời gian qua công
tác thu hút vốn đầu tư vào lónh vực này còn yếu và chưa đảm bảo. Một phần do
thiếu vốn từ ngân sách, thiếu sự phân công trách nhiệm rõ ràng, quá trình quy
hoạch và triển khai chưa đồng bộ, chưa có chính sách ưu đãi trong việc huy động
vốn, tốc độ phát triển KCN một số vùng khá cao đã vượt khả năng đối ứng của
hạ tầng chung của đòa phương, nhất là đường vào các KCN, trạm tiếp nhận nước
thải KCN, nhà ở công nhân, các dòch vụ khác phục vụ KCN và người lao động…
2.1.3. Tình hình thu hút đầu tư
Đến tháng 12/2004 các KCN cả nước thu hút được 232 dự án đầu tư mới
(tăng 10% so với năm 2003) có vốn đầu tư nước ngoài vào KCN với vốn đầu tư
đăng ký 1.016 triệu USD (tăng 33% so với năm 2002). Các KCN ở các đòa
phương Đồng Nai, Bình Dương, Tp. Hồ Chí Minh thu hút được nhiều dự án đầu
tư nước ngoài vào KCN, KCX nhất trong cả nước, chiếm khoảng 75% về số dự
án và vốn đầu tư nước ngoài mới vào các KCN của cả nước.
Bên cạnh các dự án đầu tư cấp mới trong năm 2004 có 358 dự án đầu tư
nước ngoài với tổng vốn đầu tư tăng thêm 789 triệu USD, nâng tổng vốn đầu tư

chiếm gần 42% diện tích đất dành cho thuê (13.809 ha). Nếu không tính 38 KCN
thành lập mới năm 2003, năm 2004 và một số KCN đã thành lập từ năm 1997
nhưng chưa triển khai thì tỷ lệ lấp đầy của các KCN trong cả nước đạt 59,8%
diện tích đất công nghiệp.
Có 50 KCN đã cho thuê từ 50% diện tích đất trở lên (chiếm 47%). Một số
KCN đã được lấp đầy như KCN Biên Hòa II, KCN Linh Trung (giai đoạn 1),
KCN Tân Tạo (giai đoạn 1). Các KCN mới thành lập hoặc chưa phát huy thu hút
đầu tư cao nên tỷ lệ cho thuê đất còn tương đối thấp, nhất là những khu vực có
điều kiện khó khăn, hạ tầng yếu kém. Giá thuê đất trong KCN khá cao, giá thuê
đất ở TP. Hồ Chí Minh dao động ở mức 30 -108 USD/m
2
trong khi khung giá
- 22 -

chào của Bắc Kinh là 54 -73 USD/m
2
, Bangkok là 57 USD/m
2
. Giá đất cao cũng
là một trong những nguyên nhân khiến các KCN ở nước ta mất hấp dẫn thu hút
đầu tư.
Bảng 2.2 : Tình hình thuê đất tại các KCN Việt Nam đến 2004
Stt Tỷ lệ đất cho thuê/ đất công nghiệp (%) Số KCN Tỷ lệ (%)
1 Đã cho thuê trên 80% 25 23,4
2 Đã cho thuê từ 50% đến 80% 25 23,4
3 Đã cho thuê từ 30 đến 50% 17 15,9
4 Đã cho thuê đến 30% 18 16,8
5 Chưa cho thuê 22 20,5
Tổng cộng 107 100
Nguồn : Vụ quản lý KCN và KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

5 2003 7.300 146 3.210 100 11.470 131 6.225 138
6 2004
10.200

140 4.600 143 15.000 130 7.780 125
Nguồn : Vụ quản lý KCN và KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nộp ngân sách nhà nước tăng nhanh, nếu trong năm 2003 các KCN đã nộp
ngân sách 421 triệu USD (tăng gấp 2,3 lần so với năm 2001 và 1,8 lần so với
- 23 -

năm 2002) thì trong năm 2004 các KCN đã nộp ngân sách khoảng 437 triệu USD
(tăng 12% so với cùng kỳ năm 2003).
2.1.6. Tình hình phát triển nguồn nhân lực
Như đã đề cập ở trên, hầu hết các lónh vực sản xuất trong các KCN đều là
công nghiệp nhẹ, sử dụng nhiều lao động như : dệt, may mặc, giày da, lắp ráp
điện tử,… Tính đến 12/2004, các KCN trong cả nước đã thu hút khoảng 600.000
người lao động trực tiếp (có đến 62% là lao động nữ), và khoảng hơn 1 triệu lao
động gián tiếp. Trong đó lực lượng chủ yếu là từ các vùng nông thôn đổ về, hầu
hết có trình độ văn hoá thấp và không có tay nghề, chỉ mới qua một số lớp dạy
nghề ngắn ngày tại các trung tâm đào tạo nghề. Một số doanh nghiệp nước
ngoài (đặc biệt là Nhật Bản) khi tuyển dụng thường có chế độ đào tạo nâng cao
tay nghề cho một số lao động tại các khâu quan trọng trong dây chuyền sản
xuất.
Nhìn chung, lực lượng lao động sau một thời gian sản xuất cũng đã thích
nghi dần với tác phong công nghiệp, tuy nhiên đa số lao động có thu nhập thấp,
nhà ở và các dòch vụ phục vụ thiếu thốn, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và
tinh thần của người lao động.
Bảng 2.4 : Tình hình lao động trong các KCN Việt Nam đến 2004
Stt Đòa phương Lao động Tỷ lệ (%)
1 Đồng Nai 180.000 30,0

và quốc lộ 51, hệ thống cảng Bà Ròa – Vũng Tàu, đường cao tốc Tp. Hồ Chí
Minh – Long Thành, Long Thành – Dầu Giây, hệ thống đường sắt Dầu Giây –
Vũng Tàu, hệ thống cảng trên sông Lòng Tàu, Thò Vải. Đất đai tương đối bằng
phẳng và nền đất cứng, khí hậu thuận lợi. Đến nay, Đồng Nai trở thành một
trong những đòa phương phát triển KCN lớn nhất và nhanh nhất trong cả nước.
Có thể nói đóng góp của KCN vào sự phát triển của đòa phương và quốc gia là
rất lớn, song hiện nay việc phát triển KCN vẫn còn nhiều khó khăn, tồn tại.
2.2.1. Công tác quy hoạch các khu công nghiệp
Tính đến 31/12/2004, tỉnh đã quy hoạch 23 KCN (chiếm 15,1% so với cả
nước) với tổng diện tích quy hoạch ban đầu là 8.119ha, chủ yếu dọc theo hành
lang quốc lộ 1A và quốc lộ 51 nối tỉnh Đồng Nai với các tỉnh thành phố nằm
trong khu vực kinh tế trọng điểm phía nam, thuận lợi trong việc xây dựng hệ
thống cung cấp điện, nước, thông tin liên lạc, giao thông vận tải, cung ứng nhân
công,… Ngoài ra tỉnh cũng đã quy hoạch bổ sung 09 KCN khác (đến 2010) với
- 25 -

Trích đoạn Hồn thiện cơ chế quản lý, thực hiện cải cách hành chính Giải pháp thực hiện cơng tác đền bù, giải toả Giải pháp về cơng tác quản lý mơi trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status