Phát triển đội ngũ công nhân kỹ thuật Hồ chí minh đến năm 2010 - Pdf 26

1
MỤC LỤC
Mở đầu...................................................................................................................... 7
Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực và đội
ngũ công nhân kỹ thuật ......................................................................................... 10
1.1 Khái niệm về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực................................... 10
1.1.1 Khái niệm về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực........................... 10
1.1.2 Khái niệm về đào tạo và phát triển đội ngũ CNKT............................ 12
1.2 Vai trò, vò trí của đội ngũ CNKT trong nền kinh tế quốc dân .................... 13
1.2.1 Phát triển đội ngũ CNKT là yêu cầu đảm bảo thành công trong sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước................................................................................... 13
1.2.2 Phát triển đội ngũ CNKT góp phần làm cho lực lượng lao động xã
hội ít bò tổn thương khi cơ cấu lại nền kinh tế........................................................ 15
1.2.3 Phát triển đội ngũ công nhân kỹ thuật là cơ sở để nâng cao chất
lượng giai cấp công nhân, đảm bảo giữ vững đònh hướng XHCN. ........................ 16
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng và kinh nghiệm về phát triển đội ngũ CNKT
phục vụ CNH, HĐH đất nước................................................................................. 17
1.3.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ CNKT phục vụ
CNH, HĐH đất nước............................................................................................... 17
1.3.1.1 Các yếu tố môi trường tác động đến sự phát triển đội ngũ
CNKT ..................................................................................................................... 17
1.3.1.2 Cơ sở vật chất – thiết bò và tài chính giáo dục nghề
nghiệp..................................................................................................................... 19
1.3.1.3 Giáo viên và người học............................................................... 20
1.3.2 Những kinh nghiệm và bài học của các nước về phát triển giáo
dục dạy nghề cho CNKT.......................................................................................20
1.3.2.1 Quan niệm của quốc gia về phát triển giáo dục nghề
nghiệp....................................................................................................................20
2
1.3.2.2 Kinh nghiệm của các nước .........................................................22
1.3.2.3 Bài học kinh nghiệm ..................................................................26

lượng .....................................................................................................................67
3.2.6 Giải pháp đa dạng hoá các hình thức huy động vốn cho phát
triển đào tạo nghề .................................................................................................68
3.2.7 Giải pháp đa dạng hoá các hình thức tổ chức giáo dục đào tạo.........69
3.2.8 Giải pháp tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật .........................71
3.2.9 Giải pháp thực hiện chính sách khuyến khích hoạt động dạy
nghề.......................................................................................................................72
3.2.10 Xây dựng và phát triển hệ thống thông tin về thò trường lao
động cho đào tạo nghề ..........................................................................................74
3.3 Các kiến nghò ..............................................................................................75

Kết luận.................................................................................................................. 78
Tài liệu tham khảo................................................................................................. 80
Phụ lục .................................................................................................................... 82
4
MỞ ĐẦU

1/ Lý do chọn đề tài
Tổng kết thực tiễn 15 năm đổi mới, nghò quyết Đại hội IX của Đảng
Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) một lần nữa khẳng đònh “Con người và nguồn
nhân lực là nhân tố quyết đònh sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Phát triển nguồn nhân lực là quá trình biến đổi về số
lượng và chất lượng cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế – xã hội. Việc phát triển nguồn nhân lực mang lại hiệu quả rất lớn và
theo đánh giá của một số chuyên gia thì không có việc đầu tư nào mang lại
nguồn thu lợi lớn như đầu tư vào giáo dục. Chính vì vậy, Nhà nước ta hiện nay
đang chú trọng phát triển giáo dục đào tạo, đây là quốc sách hàng đầu trong quá
trình CNH, HĐH đất nước.
Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) được coi là một Thành phố năng
động trong việc phát triển kinh tế – thương mại của cả nước, và là trọng điểm

3/ Phạm vi nguyên cứu:
Không gian nguyên cứu là đòa bàn Tp. HCM, thời gian nguyên cứu đến
năm 2010.
Đề tài tập trung phân tích thực trạng đội ngũ CNKT ở Tp. HCM và tìm ra
một số giải pháp để phát triển đội ngũ CNKT.
4/ Phương pháp nguyên cứu:
Để thực hiện đề tài, tác giả thu thập số liệu thứ cấp ở các đơn vò Sở LĐ –
TB & XH, Sở Khoa học Công nghệ, Viện kinh tế Tp. HCM, các đơn vò có liên
quan, trên sách, báo chí, tạp chí và internet.
Phương pháp xử lý số liệu: đối với các dữ liệu thu được, tác giả áp dụng
các biện pháp xử lý sau: so sánh, tổng hợp, phân tích, thống kê.
5/ Bố cục của luận văn:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực và đội
ngũ CNKT
Chương 2: Thực trạng đội ngũ CNKT Tp.HCM
Chương 3: Các giải pháp phát triển đội ngũ CNKT Tp.HCM đến năm
2010
Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghòêp tác giả đã nguyên cứu,
tham khảo và sử dụng nhiều tài liệu của các công trình nguyên cứu, hội thảo
khoa học có liên quan đến nguồn nhân lực và đội ngũ CNKT để tăng cường tính
thực tiễn của đề tài nguyên cứu đóng góp vào chủ trương phát triển kinh tế, xã
hội của Thành phố.
6
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC VÀ ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN KỸ THUẬT

1.1 Khái niệm về đào tạo và phát triển
1.1.1 Khái niệm về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Theo Liên Hiệp Quốc: sự phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục

gồm một loạt những hoạt động khác của phát triển và đào tạo nguồn nhân lực
được thực hiện từ bên ngoài: học việc, học nghề, các hoạt động dạy nghề.
Các lý do và tác dụng của việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là:
• Để chuẩn bò và bù đắp vào những chỗ thiếu, bò bỏ trống. Sự bù
đắp và bổ sung này diễn ra thường xuyên nhằm làm cho nền kinh
tế hoạt động trôi chảy.
• Để chuẩn bò cho những ngừơi lao động thực hiện được những
trách nhiệm và nhiệm vụ mới do có sự thay đổi trong mục tiêu:
cơ cấu, luật pháp, chính sách và kỹ thuật công nghệ mới tạo ra.
• Để hoàn thiện khả năng người lao động (nhiệm vụ hiện tại cũng
như nhiệm vụ tương lai một cách có hiệu quả)
Tác dụng của phát triển và đào tạo nguồn nhân lực còn là: giảm bớt được
sự giám sát, vì đối với người lao động được đào tạo, họ là người có thể tự giám
sát; giảm bớt những tai nạn do những hạn chế của con người hơn là do những hạn
chế của trang bò. Sự ổn đònh và năng động của tổ chức tăng lên, chúng được bảo
đảm có hiệu quả ngay cả khi thiếu những người chủ chốt do có nguồn đào tạo dự
trữ để thay thế.

8
1.1.2 Khái niệm về đào tạo và phát triển đội ngũ công nhân kỹ thuật
(CNKT).
- Hiện nay, CNKT được hiểu như là những công nhân đã hoàn thành
chương trình dạy nghề dài hạn hoặc ngắn hạn, tốt nghiệp qua các chương trình
dạy nghề. Ngay cả luật giáo dục (1998) chỉ đề cập “dạy nghề nhằm đào tạo
người lao động có kiến thức, có kỹ năng nghề nghiệp phổ thông, CNKT, chuyên
viên nghiệp vụ”.
Như vậy CNKT được xác đònh theo thời gian đào tạo và tên gọi của
bằng cấp, mà chưa chứa đựng được vai trò của CNKT trong quá trình sản xuất. Vì
thế có thể hiểu: CNKT là người có năng lực tác động trực tiếp và hiệu quả vào
quá trình tạo ra sản phẩm xã hội.

động.
Phát triển đội ngũ CNKT của một quốc gia, một vùng lãnh thổ là tạo sự
biến đổi về số lượng và chất lượng của từng CNKT, tạo lập một cơ cấu đội ngũ
CNKT hợp lý và sự sử dụng năng lực của họ vì sự tiến bộ kinh tế – xã hội.
1.2. Vai trò, vò trí của đội ngũ CNKT trong nền kinh tế quốc dân
Cơ sở quan trọng để xác đònh việc phát triển đội ngũ CNKT là yêu cầu
mang tính khách quan vì đây là đòi hỏi tất yếu của quá trình CNH, HĐH đất
nước. Vì thế vai trò của việc phát triển đội ngũ CNKT được xem xét trên cả 3
lónh vực: kinh tế, xã hội, chính trò.
1.2.1 Phát triển đội ngũ CNKT là yêu cầu đảm bảo thành công trong sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước
Ngày nay, mặc dù công nghệ hiện đại, hệ thống thiết bò tiên tiến, nhưng
CNKT vẫn là mắc xích quan trọng trong dây chuyền sản xuất để tạo ra sản phẩm
ngày càng nhiều và có chất lượng, bởi vì, không có một kỹ thuật hay phương
10
pháp nào có thể đem lại hiệu quả, nếu không có những người có đủ năng lực
quản lý và sử dụng nó.
Sự nghiệp CNH, HĐH sẽ thúc đẩy nền sản xuất hiện đại. Lực lượng sản
xuất càng tiên tiến, hiện đại càng yêu cầu phải có một lực lượng CNKT ở các
trình độ khác nhau. Thiết bò, công nghệ càng hiện đại đòi hỏi người sử dụng phải
có trình độ nghề nghiệp tương ứng mới có thể điều kiển hệ thống máy móc phục
vụ cho quá trình sản xuất.
Cơ cấu hợp lý của lực lượng lao động về trình độ chuyên môn đối với
khu vực công nghiệp được phân bố theo tỷ lệ như sau:
Biểu 1.1 Quan hệ cơ cấu chất lượng lao động
và trình độ kỹ thuật (Đvt:%)Các giai đoạn tiến bộ kỹ thuật
Loại lao động

các nước đang phát triển có nguồn lao động dồi dào để tích luỹ ban đầu và ngày
càng trở thành một ngành thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước.
1.2.2 Phát triển đội ngũ CNKT góp phần làm cho lực lượng lao động xã
hội ít bò tổn thương khi cơ cấu lại nền kinh tế.
Trong 20 năm qua (1986-2006), nước ta thực hiện đường lối đổi mới,
nhiều việc làm được tạo ra trong khu vực dòch vụ và công nghệ cao như: ngân
hàng, bảo hiểm, ngành giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, tin học, điện tử,
công nghệ vật liệu mới … Mặc khác từ sự cơ cấu lại nền kinh tế và cả trong từng
ngành, từng doanh nghiệp theo xu hướng giảm dần những công việc truyền
thống, sử dụng cơ bắp để thay thế bằng những người lao động có trình độ cao
hơn, đòi hỏi người lao động phải có các phẩm chất như tính cơ động và chủ động.
Do vậy, rất cần những người chòu khó học tập, biết thích nghi với sự biến đổi
trong cơ cấu lao động hiện nay.
Xu hướng lao động hiện nay là đa năng, tức là kết hợp giữa năng lực kỹ
12
thuật với khả năng quản lý và tài năng doanh nghiệp (nói đến khả năng thích
nghi và kỹ năng ứng xử trong xã hội). Đối với công nhân trực tiếp sản xuất, họ
chòu ảnh hưởng bởi sự phát triển công nghệ mới và các hình thức lao động mới.
Bản chất chung của việc làm đang thay đổi. Việc nâng cao trình độ tay
nghề đồng thời kéo theo sự thay đổi về cơ cấu việc làm theo xu hướng lao động
có trình độ thấp dần dần được thay thế bởi lao động có trình độ cao. Trong hệ
thống sản xuất mới, người công nhân vừa trực tiếp sản xuất, vừa đảm nhận các
chức năng của nhà phân tích, nhà quản lý, do đó đòi hỏi khả năng sáng tạo của
họ ở mức cao hơn nhiều so với chức năng khi họ chỉ là người thừa hành. Do vậy,
CNKT có khả năng thích nghi cao với xu hướng học tập thường xuyên, học suốt
đời, có đủ năng lực sáng tạo, đổi mới và phát triển.
Thò trường việc làm hiện nay có nhiều thay đổi theo hướng tăng nhanh
số lượng việc làm đòi hỏi có một chuyên môn nhất đònh. Vì thế cần coi trọng
việc đào tạo thường xuyên đội ngũ CNKT, bởi vì, một trong những nguyên nhân
kiến cho người lao động bò loại khỏi các doanh nghiệp là do trình độ và kiến thức

a/ Kinh tế - xã hội:
Bối cảnh kinh tế – xã hội chung, đặc biệt là cơ cấu và cơ chế kinh tế vó
mô cũng như những quá trình kinh tế kèm theo như thò trường sức lao động, nhu
cầu về lao động, tình trạng việc làm và thất nghiệp, mức độ đô thò hoá, cơ cấu và
động thái dân số, cơ cấu xã hội và nghề nghòêp, về lãnh thổ, về dân tộc, sắc tộc
và tôn giáo, hệ thống truyền thông đại chúng cũng như các thiết chế chính trò –
xã hội của quốc gia đều là những điều kiện tác động mạnh mẽ đến qui mô, tốc
độ và tính chất của sự phát triển đội ngũ CNKT.
Nhiều yếu tố cụ thể trong đời sống kinh tế – xã hội như tập quán học
tập, các quan hệ xã hội, tâm lý trong sản xuất – kinh doanh, các quan hệ thương
14
mại trong nước và nước ngoài, mối quan tâm của gia đình, cộng đồng cũng ảnh
hưởng không ít đến sự phát triển giáo dục nghề nghòêp của quốc gia.
Những điều kiện trên có tác động rất khác nhau theo từng nước và từng
khu vực. Môi trường kinh tế – xã hội của các nước phát triển thì ổn đònh nên tác
động chủ yếu đến chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Trái lại, đối với các nước
đang phát triển và các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam thì
môi trường kinh tế – xã hội tác động mạnh đến sự phát triển qui mô và mạng
lưới giáo dục nghề nghiệp, cải cách giáo dục dạy nghề trên nhiều mặt như pháp
lý, nhân sự, mục tiêu, quản lý, nội dung, phân bố lãnh thổ, tài chính, tổ chức…
b/ Chính sách và công cụ thể chế hoá giáo dục nghề nghòêp:
Chính sách giáo dục nghề nghiệp hiện nay là tập trung phục vụ phát
triển những ngành tri thức mũi nhọn và công nghệ sạch, tăng cường các giá trò
nhân văn, văn hoá và đạo đức cơ bản hay giá trò sống, có lựa chọn và ưu tiên
dành cho các trường đào tạo theo chuẩn chất lượng cao.
Công cụ thể chế hoá đặc trưng cho giáo dục nghề nghiệp là hệ thống
chuẩn quốc gia bao gồm: nội dung giáo dục (chương trình), phát triển giáo dục
dạy nghề; công nghệ, phương tiện kỹ thuật giảng dạy và học tập, môi trường vật
chất của giảng dạy và học tập, quản lý và thanh tra giáo dục.
Chính sách về chương trình giáo dục là điều kiện pháp lý hàng đầu

kiện giáo dục nghề nghiệp. Một tỷ lệ hợp lý sẽ nâng cao được chất lượng giảng
dạy của giáo viên và học viên có thể tiếp thu bài một cách tốt nhất.
Vấn đề cung cấp tài chính cho giáo dục nghề nghiệp có vai trò quan
trọng. Xu thế trong tài chính giáo dục nghề nghiệp là tỷ lệ chi ngân sách ở các
nước phát triển tăng chậm hơn nhưng đồng đều hơn tuy luôn cao hơn so với các
nước đang phát triển.
16
1.3.1.3 Giáo viên và người học
Giáo viên là điều kiện quyết đònh của sự nghòêp giáo dục nghề nghòêp
và phát triển giáo dục nghề nghiệp. Vì thế, vấn đề tiêu chuẩn hoá, chuyên
nghòêp hoá và nâng cao chất lượng giáo viên dạy nghề trên vò thế nghề nghòêp,
nhân cách và xã hội là vấn đề then chốt.
Người học cũng là nhân tố quan trọng đóng vai trò động lực bên trong
của sự phát triển giáo dục nghề nghiệp. Bản thân nhu cầu học tập của dân cư chi
phối cơ cấu, tính chất của hệ thống và quy mô của giáo dục nghề nghiệp. Yếu tố
quan trọng để thúc đẩy nhu cầu học nghề của dân cư là các cơ hội học tập và cơ
hội thành đạt trong cuộc sống dựa vào học vấn và tri thức. Những tác động bên
ngoài đến nhu cầu và ý thức học nghề của người dân là cơ sở hạ tầng giao thông,
liên lạc và thông tin, quỹ thời gian nhàn rỗi của con người trong xã hội. Vấn đề
trọng tâm hiện nay là tạo ra sự bình đẳng về học phí học tập bình quân trên mỗi
người học nghề, bởi vì điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thành công hay
thất bại trong học tập, đến khả năng thắng hay bại trong cạnh tranh về trình độ
học vấn và tri thức.
1.3.2 Những kinh nghiệm và bài học của các nước về phát triển giáo
dục dạy nghề cho CNKT.
1.3.2.1 Quan niệm của quốc gia về phát triển giáo dục nghề nghiệp.
Từ Đại hội III của ĐCSVN (1960) nguyên lý giáo dục Việt Nam được
khẳng đònh và tiếp tục được quán triệt trong luật giáo dục (1998): “hoạt động
giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết
hợp với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục

về khoa học và công nghệ. Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên
gia, nhà khoa học, nhà văn hoá, nhà kinh doanh, nhà quản lý”.
18
1.3.2.2 Kinh nghiệm của các nước
Trung Quốc thực hiện thí điểm chế độ dự bò lao động cho các em học
sinh cấp 2,3 trước khi họ tham gia vào thò trường lao động ở 36 thành phố. Nội
dung cơ bản của chế độ dự bò lao động này là tập hợp đồng thời đào tạo nghề
nghiệp và giáo dục tương đương từ 1-3 năm đối với những thanh niên thành thò
tốt nghòêp cấp 2,3 mà không thể học lên được nữa mà có ý muốn đi làm để họ có
nghề nghiệp tương ứng và có thể tham gia cạnh tranh trên thò trường lao động,
cuối cùng xin được việc làm dưới sự giúp đỡ của nhà nước. Loại hình giáo dục kỹ
thuật – nghề nghiệp ở Trung Quốc gồm có các loại hình như sau: trường Trung
học nghề sơ cấp, trường CNKT, trường Trung học nghề nghiệp cao cấp, ở các
trường này thời gian học là 2 – 3 năm, một số rất ít trường học đến 4 năm và tuổi
nhập học là từ 15-16 tuổi. Trung Quốc rất quan tâm đến giáo dục dạy nghề nên
đầu tư cho giáo dục dạy nghề chiếm tỷ lệ cao nhất là 41,64% trên tổng đầu tư
cho giáo dục trong năm 1997. Trung Quốc đã đưa ra yêu cầu giáo dục gắn với
thực tiễn, giáo dục lao động kỹ thuật vào trong chương trình giáo dục và chiếm
đến 5% thời lượng học tập. Tuy vậy số lượng CNKT vẫn chưa đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế: cán bộ kỹ thuật chỉ chiếm khoảng 5% dân số lao động (tương
đương với trình độ của Hoa Kỳ chiếm trên 30% tổng số lao động). Trong toàn bộ
công nhân lao động trong các xí nghiệp công nghiệp trong cả nước, trình độ lao
động từ THCS trở xuống chiếm 68%, trình độ PTTH và qua đào tạo ở trường
CNKT là 30,4%, trình độ từ cao đẳng trở lên chỉ có 2,6%. Trình độ công nhân trẻ
có tay nghề cao cấp chỉ chiếm 3%; 70% công nhân trẻ vốn là lực lượng trụ cột
của sự phát triển của ngành công nghiệp thì tay nghề thực tế dưới mức sơ cấp.
Trước yêu cầu phát triển kinh tế với tốc độ cao, Trung Quốc sẽ thiếu rất nhiều
lao động trẻ có kỹ năng tương ứng với yêu cầu của ngành sản xuất tập trung
nhiều tri thức và ngành phục vụ vốn là những ngành chủ lực thúc đẩy kinh tế
phát triển với tốc độ cao. Ngay cả đối với các ngành sản xuất truyền thống, do

500.000 công ty, ngành nghề và cơ quan nhà nước hợp tác chặt chẽ với ngành
giáo dục để vận hành một hệ thống giáo dục kép: kết hợp giảng dạy ở lớp học
nghề tại cơ sở sản xuất về 400 ngành nghề khác nhau. Gầm 2/3 thanh niên Đức từ
16 đến 19 tuổi sau khi học xong lớp 10 đều tham gia chương trình học nghề trong
thời gian 3 năm. Điều cốt lõi trong hệ thống giáo dục kép của Đức là các doanh
nghiệp tích cực tham gia và có quan hệ đối tác chặt chẽ với ngành giáo dục.
Trong những năm 90, công nghiệp và những ngành nghề Đức đã chi khoảng 15
tỷ USD/năm về đào tạo nghề. Đức coi đào tạo thanh niên là cái giá phải trả để
có thể kinh doanh, kể cả thời kỳ khó khăn. Hầu hết các ngành công nghiệp Đức
đều chăm lo và bảo vệ hệ thống giáo dục kép này.
Nhật lại không giống với hệ thống học nghề cấp trung học như của
Đức. Tại Nhật các công ty múôn tự tiến hành công việc đào tạo cụ thể, còn các
trường trung học tập trung vào việc hoàn thành chương trình giáo dục hàn lâm cơ
bản. Mặc dù vậy, Nhật giống Đức ở chỗ đảm bảo một sự quá độ êm thấm từ nhà
trường đến thò trường lao động, Nhật đã xây dựng được mối quan hệ ngày càng
chặt chẽ với các đơn vò kinh doanh và nhà trường. Một tỷ lệ rất cao học sinh
trung học không có khả năng vào đại học đã có việc làm trước khi các em tốt
nghiệp.
Hệ thống giáo dục Hàn Quốc được cấu trúc có sự phân luồng sớm vào
bậc trung học và đào tạo kỹ thuật nghề nghiệp khi tốt nghiệp bậc tiểu học 6 năm.
Đồng thời công tác hướng nghiệp rất được quan tâm nhằm tạo mối liên hệ chặt
chẽ giữa giáo dục và nghề nghòêp cho học sinh. Từ năm học thứ 3 của tiểu học
đến các lớp đầu tiên của PTTH sẽ có 10 môn học bắt buộc, bao gồm những vấn
đề giáo dục có liên quan đến công nghệ thông tin, kỹ năng máy tính, khoa học,
công nghệ, kinh tế gia đình, nguyên cứu các ngành công nghiệp. Thực hiện việc
cải cách giáo dục nghề ở bậc trung học nhằm tạo điều kiện để người học có thể
21
lựa chọn chương trình học trong tương lai của mình trên cơ sở dựa trên năng lực
và nhu cầu của bản thân là tiếp tục học tập trong các trường cao đẳng, đại học
hay tại nơi làm việc. Đồng thời nhà nước ưu tiên đầu tư cho việc hiện đại hoá các

triển ta thấy có những đặc trưng như sau:
- Các trường nghề phải tự đổi mới và nâng cao chất lượng chương trình
giảng dạy. Khẩu hiệu chung hiện nay là giáo dục phải thúc đẩy suy nghó của
người học. Dạy nghề truyền thống được coi là đào tạo thực tế cho những người
học, nay cũng được cơ cấu lại. Các cải cách này bao gồm việc tăng cường nội
dung lý thuyết vào các lớp học nghề và tạo điều kiện cho những người tốt nghiệp
có thể theo học đại học.
- Học nghề đối với học sinh dựa trên công việc. Đây là cách giáo dục
thông qua làm việc, được coi là một phương pháp dạy kiến thức và kỹ năng cần
thiết cho công việc thông qua đó để học sinh học tập.
- Nhà trường gắn liền với xí nghòêp sản xuất. đây là một hướng phát
huy nội lực quan trọng nhằm lôi cuốn sự tham gia của xí nghiệp vào giáo dục
nghề nghiệp về các mặt: tài trợ, cung cấp học bổng, góp ý nội dung giảng dạy,
cung cấp nơi thực hành, tham quan thực đòa của giáo viên và học sinh mà nội
dung cao nhất là gắn nội dung học nghề với đời sống sản xuất thực, học với hành,
tránh học hàn lâm, lý thuyết thuần tuý.
- Doanh nghiệp đặt ở các trường học, kết hợp học tập với sản xuất. Tại
Hoa Kỳ, 19% các trường trung học đang vận hành một loại xí nghiệp nào đó.
Trong đó, học sinh sản xuất các loại hàng hoá và dòch vụ cho những người khác
với tư cách là một bộ phận của sự học tập của các em tại trường.
- Công ty là nhà trường. Để giảm thiểu chi phí cho đào tạo nhân công,
các công ty đào tạo ngừơi làm việc của mình thông qua chiến lược học tập kòp
23
thời dưới một số hình thức đào tạo như: công nhân đào tạo lẫn nhau, chế độ góp
ý cải tiến. Một số doanh nghiệp lập ra trường học riêng của doanh nghiệp để
thực hiện việc đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho người lao
động. Một trong những ưu thế của việc đào tạo tại công ty là tạo ra một hệ thống
đào tạo có tính liên tục để những người làm việc có thể thích nghi kòp thời và
năng động với các công nghệ mới, các loại hình tổ chức lao động mới.
- Xã hội hoá giáo dục chuyên nghòêp, dạy nghề góp phần nâng cao

tạo nhiều học viên với nhiều hình thức đào tạo ngày càng phong phú và đa dạng.
Nhờ đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của thành phố tăng lên thể hiện qua
bảng số liệu sau:
Biểu 2.1: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động
trên đòa bàn Tp.HCM
2000 2004
Trình độ
chuyên môn
Số người Tỷ lệ% Số người Tỷ lệ%
Tốc độ
tăng
A. Tổng số 2,359,375 100 2,561,104 100.00 108.55
Không có CMKT 1,824,156 77.32 1,768,367 69.05 96.94
Sơ cấp 46,185 1.96 115,250 4.50 249.54
CNKT không bằng 149,675 6.34 225,377 8.80 150.58
CNKT có bằng 83,034 3.52 116,383 4.54 140.16
THCN 90,904 3.85 95,188 3.72 104.71
Cao đẳng, đại học 153,155 6.49 228,778 8.93 149.38
Trên đại học 7,187 0.30 7,411 0.29 103.12
Không xác đònh 5,079 0.22 4350 0.17 85.65
Nguồn: Cục thống kê Tp.HCM
Nhận xét:
Năm 2000 số lao động của thành phố là 2.359.275 người trong đó trong
25
đó lao động không có chuyên môn nghiệp vụ chiếm đa số (77,32%). Tuy nhiên
đến năm 2004 thì tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 69,05% điều này cho thấy có sự
cải thiện chất lượng của đội ngũ lao động của thành phố.
Lao động được đào tạo nghề ở trình độ sơ cấp đã tăng từ 1,96% năm
2000 lên 4,5% năm 2004. Đây là nhóm lao động có tốc độ nhanh nhất đạt gần
249.54% so với năm 2000. Tuy nhiên lao động ở trình độ này vẫn còn khá khiêm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status