phát triển đội ngũ công nhân ngành công nghiệp đóng tàu ở hải phòng hiện nay - Pdf 10

Mở ĐầU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, Đảng và Nhà nớc ta đang đề ra các mục tiêu, chiến lợc phát
triển mạnh các ngành kinh tế dựa trên những tiềm năng, lợi thế của đất nớc và
có khả năng tạo ra các sản phẩm kinh tế có giá trị cao, có sức cạnh tranh lớn
trên thị trờng. Kinh tế biển là một ngành nh vậy. Với chiều dài bờ biển trên
3.200 km, vùng biển, thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc
gia của Việt Nam rộng trên 1.000.000 km
2
, gấp 3 lần diện tích đất liền, Việt
Nam có một vị trí hết sức thuận lợi trong việc phát triển các ngành công
nghiệp biển và đẩy mạnh sự giao lu kinh tế quốc tế qua đờng hàng hải, mở
rộng sự liên kết, hợp tác trong khai thác và phát triển kinh tế biển có hiệu quả,
đồng thời góp phần củng cố quốc phòng và an ninh.
Từ thực tế trên, Nghị quyết Trung ơng 4 Khoá X của Đảng ta đã khẳng
định vị trí, vai trò to lớn của kinh tế biển và vạch ra mục tiêu, chiến lợc biển,
tăng cờng tiềm lực mọi mặt để khai thác biển từ nay đến năm 2020 và định h-
ớng đến năm 2030 với mục tiêu tổng quát sau: "phấn đấu đa nớc ta trở thành
quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển".
Trong số các tỉnh, thành có biển của cả nớc hiện nay, Hải Phòng -
Thành phố Cảng, là nơi có nhiều tiềm năng to lớn để phát triển các ngành
công nghiệp biển, trong đó ngành công nghiệp đóng tàu đợc xác định là ngành
công nghiệp chủ lực. Thực tế cho thấy ngành công nghiệp đóng tàu ở Hải
Phòng những năm qua đợc sự quan tâm, đầu t của Đảng, Nhà nớc và Thành uỷ
Hải Phòng nên đã đạt đợc nhiều thành tựu, đóng góp vào sự phát triển chung
của toàn Thành phố, tạo đợc nhiều việc làm và thu nhập cao cho đội ngũ công
nhân viên công tác trong ngành này Dù vậy, theo đánh giá của nhiều chuyên
gia và xuất phát từ tiềm năng sẵn có của thành phố thì hiệu quả của ngành
công nghiệp đóng tàu trong thời gian qua là cha tơng xứng với tiềm năng sẵn
có. Điều đó là do, ngành công nghiệp đóng tàu Hải Phòng hiện còn tồn tại
những hạn chế sau: về quy mô sản xuất còn nhỏ, cơ sở vật chất, kỹ thuật và

Giai cấp công nhân trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nớc của GS.TS. Dơng
Xuân Ngọc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004. Sự phát triển của giai cấp
công nhân Việt Nam và vai trò của nó trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nớc của
Trần Ngọc Sơn, Luận án tiến sỹ, 2001. Kỷ yếu hội thảo - Về giai cấp công nhân
và công đoàn Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH, Trờng Đại học công đoàn
Việt Nam, 2002. Các công trình trên đã đề cập về mối quan hệ biện chứng giữa
quá trình CNH, HĐH đất nớc với sự phát triển của giai cấp công nhân, đặt ra
những yêu cầu nhằm phát triển giai cấp công nhân cả về số lợng và chất lợng đáp
ứng yêu cầu của lao động sản xuất trong thời kỳ mới.
Ngoài những công trình nêu trên còn có một số luận văn thạc sỹ; các
bài viết trong Tạp chí ngành công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam nh: Công nhân Hải
Phòng trong công cuộc đổi mới, những vấn đề đặt ra và những phơng hớng giải
2
pháp của Nguyễn Văn Năm, Luận văn thạc sỹ, Viện chủ nghĩa xã hội khoa học,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1995. Góp phần đào tạo nguồn nhân
lực kỹ thuật cao cho ngành công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam của Vũ Tiến Đạt, Tạp
chí Công nghiệp tàu thuỷ (7), 2004. Với công tác xây dựng đội ngũ công nhân
viên chức lao động ngành công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam của Tô Ngọc, Tạp chí
Công nghiệp tàu thuỷ (13), 2005 Các công trình trên đã đề cập tới thực trạng
công nhân của ngành công nghiệp tàu thuỷ và đa ra một số phơng hớng giải pháp
nhằm xây dựng củng cố và phát triển đội ngũ công nhân công nghiệp đóng tàu.
Tuy nhiên cho đến nay cha có một công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên
sâu về phát triển giai cấp công nhân ngành công nghiệp đóng tàu trong sự nghiệp
đẩy mạnh CNH, HĐH đất nớc hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn
- Mục đích:
Làm rõ thực trạng, xu hớng phát triển đội ngũ công nhân ngành công
nghiệp đóng tàu ở Hải Phòng; từ đó nêu ra những giải pháp cơ bản nhằm xây
dựng và phát triển đội ngũ này góp phần đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy
mạnh CNH, HĐH, thực hiện mục tiêu, chiến lợc phát triển kinh tế biển của

quá trình CNH,HĐH và thực hiện chiến lợc phát triển kinh tế biển của Đảng
và Nhà nớc ta hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm từng bớc thúc đẩy quá
trình xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân ngành công nghiệp đóng tàu
Hải Phòng hiện nay.
- Làm tài liệu tham khảo để các cơ quan có thẩm quyền vận dụng vào
việc hoạch định các chủ trơng, chính sách phù hợp trong quản lý và phát triển
công nhân ngành công nghiệp đóng tàu hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chơng, 6 tiết.
4
Chơng 1
về phát triển công nhân ngành công nghiệp đóng tàu
1.1. Công nghiệp đóng tàu và công nhân ngành công
nghiệp đóng tàu
1.1.1. Nhận thức chung về kinh tế biển và công nghiệp đóng tàu
Về kinh tế biển:
Biển có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và an
ninh của các nớc có biển nói riêng và của thế giới nói chung. Các nớc có biển
luôn vơn ra biển, khai thác các nguồn lợi từ biển. Nhng kinh tế biển trong t
duy của nhiều ngời mới chỉ đợc nhìn nhận một cách rời rạc; chủ yếu ngời ta
bàn nhiều về vấn đề đánh bắt, khai thác dầu khí và vận tải Các vấn đề khác
thuộc kinh tế biển cũng cha có một nghiên cứu cụ thể chuyên sâu nào cho
từng ngành công nghiệp biển. Những vấn đề trên qua nhiều cuộc hội thảo
quốc tế về kinh tế biển hiện nay vẫn còn nhiều mặt cần đợc tiếp tục làm sáng
tỏ.
Hiện nay, kinh tế biển thờng đợc hiểu theo hai cách cơ bản sau:
Thứ nhất, theo nhận thức chung của thế giới hiện nay, kinh tế biển là
một nền kinh tế tổng thành của các ngành công nghiệp do môi trờng biển đem

Chế tạo các loại máy móc thiết bị phục vụ cho khai thác biển.
Xây dựng biển bao gồm đóng tàu và xây dựng cơ sở hạ tầng, cảng biển
Nếu kinh tế biển đợc nhận thức rộng nh trên thì nớc ta đang nắm trong tay
một quyền sở hữu tài nguyên về biển to lớn, đầy tiềm năng để phát triển và cũng
gồm cả những thách thức lớn cần đợc nhận rõ để chủ động khai thác tiềm năng
ấy. Trên thực tế nó cha đợc khai thác và phát huy đầy đủ. Xây dựng chiến lợc
phát triển kinh tế biển Việt Nam một cách toàn diện và khoa học để góp phần
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội là việc làm cần thiết.
Chính sự phát triển của lực lợng sản xuất mới quy định và làm rõ nét
quan hệ sản xuất và các quan hệ xã hội khác có gắn bó với kinh tế. Logic này
cũng phù hợp với quá trình phát triển kinh tế biển của Việt Nam. Việc chuyển
hoá những tài nguyên và tiềm năng ấy thành hiện thực đợc hay không lại tuỳ
thuộc phần quan trọng vào yếu tố lực lợng sản xuất hàng đầu là đội ngũ công
nhân CNĐT.
Về công nghiệp đóng tàu:
Trong thực tế, ngành CNĐT có lịch sử hình thành từ rất sớm, đặc biệt từ
những thế kỷ XVI - XIX nó đã có những bớc tiến vợt bậc ở các nớc Châu Âu
có nền công nghiệp phát triển nh: Anh, Đức, Pháp, Hà Lan, Ba Lan, Nauy,
Đan Mạch Vào những thế kỷ này, do nhiều phát kiến mới về địa lý, nhu cầu
phát triển của CNTB cùng những cuộc tìm kiếm thị trờng trên thế giới đã lấy
đờng biển làm con đờng chính, phát triển công nghiệp đóng tàu và hải quân
làm phơng tiện thực dân chủ đạo để CNTB thoả mãn khát vọng xâm chiếm
của nó. Công nghiệp đóng tàu của những nớc đế quốc theo đó, đã khá phát
6
triển; lịch sử phát triển ngành đóng tàu ngay từ giai đoạn này đã mang dấu ấn
chính trị - xã hội rõ nét; các đế quốc nh Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha là
những nớc có hạm đội mạnh và ngành CNĐT phát triển sớm. ít có lĩnh vực
kinh tế - kỹ thuật nào mang rõ nét tính chất chính trị - xã hội nh ngành công
nghiệp này. Và, cũng hiếm có quốc gia hiện đại nào có biển mà lại không
quan tâm và có chính sách riêng với ngành công nghiệp đặc thù này.

các phơng tiện công cụ máy móc nguyên vật liệu để tiến hành thiết kế, chế
tạo giá rất đắt và thờng chúng ta phải nhập khẩu. Khả năng quay vòng vốn
lại rất chậm, trong quá trình sản xuất thờng gặp rủi ro tơng đối cao so với
ngành sản xuất khác vì bạn hàng cũng mang tính lựa chọn bởi không phải
quốc gia nào cũng có biển và có nhu cầu đóng mới hay sửa chữa tàu biển.
CNĐT có tính tuỳ thuộc khá lớn vào các yếu tố của điều kiện tự nhiên
nh vị trí địa lý, thời tiết, diện tích bến bãi nhà xởng phải đủ rộng để bố trí phù
hợp các xởng gia công thuận tiện cho sản xuất lắp ráp các phân đoạn và các
tổng đoạn Trong đó, đặc biệt là phải có hệ thống cảng sông, cảng biển phát
triển đạt tiêu chuẩn yêu cầu riêng của quá trình sản xuất đóng mới và sửa chữa
hạ thuỷ từng loại tàu.
Tuy vậy ngành CNĐT cũng là một ngành công nghiệp có khả năng gây
ra ô nhiễm môi trờng lớn, do đó, trong quá trình đề ra mục tiêu chiến lợc phát
triển ngành, kinh nghiệm của các nớc đi trớc cho biết là cần phải gắn liền với
việc đề ra các chính sách giải pháp xử lý vấn đề môi trờng ngay từ đầu. Theo
đó, ngành CNĐT có những yêu cầu đặc thù về kinh tế kỹ thuật.
Đồng thời đây cũng là ngành kinh tế mà muốn phát triển cần phải thoả
mãn nhiều yêu cầu kinh tế - chính trị - xã hội; chẳng hạn nó có tiền đề từ việc
đẩy mạnh quá trình hợp tác kinh tế quốc tế, phát triển đa ngành nghề, có tiềm
lực kinh tế đủ khả năng xuất nhập khẩu lu thông hàng hoá với khối lợng lớn,
có quan hệ rộng tạo điều kiện thúc đẩy sự giao lu thơng mại dịch vụ, du lịch
với các nớc
Trong đó, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải có một nền kinh tế biển
với một trình độ khai thác biển phát triển mạnh mẽ tạo ra đợc nhu cầu lớn về
các phơng tiện tàu trong thăm dò, khai thác, vận tải biển. Chính sự phát triển
kinh tế biển nó là động lực trực tiếp cho sự phát triển ngành CNĐT thuỷ phát
triển. Ngành CNĐT muốn phát triển vì thế, còn đòi hỏi các quốc gia phải có một
chiến lợc phát triển toàn diện nền kinh tế, đặc biệt là phát triển kinh tế biển.
Mối quan hệ giữa kinh tế biển với ngành công nghiệp đóng tàu:
Kinh tế biển và ngành CNĐT là hai ngành có mối quan hệ biện chứng

Lan, Hà Lan họ đã có mặt khắp các đại dơng và chính các quốc gia này
cũng đã khai thác đợc những nguồn tài nguyên từ biển lớn nhất cho sự phát
triển kinh tế - xã hội của quốc gia mình. Trong những năm gần đây, các nớc ở
khu vực châu á, nh Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore có những
bớc phát triển nhanh chóng về kinh tế biển. Họ đã có ý thức về kinh tế biển và
tận dụng và khai thác có hiệu quả những lợi thế kinh tế từ biển của mình.
Việt Nam có một tiềm năng to lớn về biển và có điều kiện rất thích hợp
để có thể xây dựng phát triển các ngành công nghiệp biển, đặc biệt là ngành
công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển có tầm vóc và vị thế trong khu vực
và quốc tế. Thực tế sự phát triển của các nớc cho thấy để khai thác đợc những
9
tiềm năng lợi thế từ biển phải có một ngành CNĐT phát triển cung cấp những
phơng tiện đảm bảo cho sự khám phá, chinh phục Đại dơng một cách chủ
động và khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên từ biển, môi trờng biển.
Nhng mặt khác, để phát triển đợc ngành CNĐT, tất yếu cần phải có một mục
tiêu chiến lợc phát triển kinh tế biển một cách toàn diện.
ở nớc ta, biển chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng, việc xác định phát
triển kinh tế biển gắn liền với phát triển ngành CNĐT tiên tiến, hiện đại, phục
vụ đắc lực cho quá trình khai thác và phát triển kinh tế biển thúc đẩy sự
chuyển hớng cơ cấu kinh tế theo hớng CNH, HĐH đất nớc và bảo vệ an ninh,
quốc phòng phải là một mục tiêu của chiến lợc phát triển. Nhận thức rõ tầm
quan trọng của vấn đề này hiện Đảng và Nhà nớc ta đã đề ra chiến lợc phát
triển kinh tế biển và ngành CNĐT nh sau:
Mục tiêu, chiến lợc phát triển kinh tế biển:
Căn cứ vào xu thế phát triển của thế giới hiện đang trong thời kỳ hớng
ra biển nhằm khai thác những tiềm năng, lợi thế từ biển; đồng thời xuất phát
từ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ đất nớc ta trớc mắt và lâu dài;
gần đây Bộ Chính trị đã có hẳn một nghị quyết về phát triển kinh tế biển, đảo.
Hội nghị BCH TW lần thứ 4 khoá X ngày 26/1/2007 đã bàn và đa ra nghị
quyết về 5 vấn đề trọng yếu của đất nớc, trong đó có vấn đề chiến lợc biển

Thứ nhất, xây dựng phát triển Tổng Công ty CNTT Việt Nam trở thành
tập đoàn kinh tế mạnh hoạt động theo mô hình Công ty mẹ, Công ty con, kinh
doanh đa ngành, đa sở hữu (trong đó sở hữu Nhà nớc chiếm tỷ lệ chi phối), có
trình độ công nghệ tiên tiến, quản lý hiện đại làm nòng cốt cho ngành tàu thuỷ
Việt Nam. Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nớc trong điều kiện hội
nhập và cạnh tranh quốc tế.
Thứ hai, xây dựng Tổng Công ty CNTT Việt Nam phát triển theo hớng
đa ngành, lấy đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ là chính, phát triển các ngành
nghề khác trên nguyên tắc là những ngành hỗ trợ cho ngành đóng tàu. Theo
đó Tổng Công ty đợc hoạt động trong một số lĩnh vực hàng hải, phát triển vận
tải biển, vận tải sông và các ngành phụ trợ; hoạt động trong một số lĩnh vực tài
chính theo quy định của pháp luật và sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền.
Tự thu xếp vốn, tự liên doanh, liên kết trong việc phát triển công nghiệp và các
dịch vụ khác để đảm bảo thực hiện sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Thứ ba, Tổng Công ty thực hiện chiến lợc sản phẩm mẫu, sản phẩm
trọng điểm, sản phẩm mũi nhọn, làm chủ công nghệ tiên tiến để nâng cao chất
lợng sản phẩm nhằm mở rộng thị trờng, xuất khẩu ngày càng nhiều và đáp ứng
nhu cầu về các loại phơng tiện trong nớc.
+ Mục tiêu phát triển công nghiệp tàu thuỷ
Đóng mới đợc các loại tàu hàng có trọng tải tới 80.000 tấn riêng tàu
chở dầu thô có trọng tải từ 100.000 tấn đến 300.000 tấn. Tàu container có sức
chứa đến 3.000 TEU, các loại tàu khách, tàu công trình, tàu dịch vụ dầu khí,
11
tàu đánh cá xa bờ, tàu chế biến hải sản, tàu cứu hộ, tàu bảo đảm hàng hải, tàu
đẩy trên sông và ven biển, tàu LASH, tàu tuần tra và tàu thông dụng.
Sửa chữa đợc tàu có trọng tải tới 400.000 tấn.
Đầu t các ngành công nghiệp phụ trợ để hỗ trợ cho ngành công nghiệp
đóng tàu. Đến năm 2010 phấn đấu thực hiện các mục tiêu sau:
Sản xuất thép tấm đóng tàu thông dụng.
Lắp ráp và sản xuất động cơ diesel đến 22.000 sức ngựa.

viễn thám từ vũ trụ Đặc trng nghề nghiệp ấy đòi hỏi hệ tri thức đa dạng và
chuyên sâu của công nhân CNĐT.
Ngành CNĐT là ngành kỹ thuật có tính chính xác cao yêu cầu đội ngũ
công nhân ngành CNĐT phải là ngời lao động đợc đào tạo một cách căn bản
chuyên sâu. Hơn nữa, do sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ trong
ngành cơ khí thờng xuyên thay đổi và các sản phẩm tàu ngày càng đòi hỏi
chất lợng phục vụ cao theo nhu cầu của khách hàng. Điều này đòi hỏi ngời lao
động trong ngành CNĐT phải có kinh nghiệm thực tế, thờng xuyên đợc đào
tạo và đào tạo lại để cập nhật những công nghệ mới, ứng dụng vào trong quá
trình sản xuất. Hiện các sản phẩm đóng tàu mà họ tạo ra nó ngày càng đòi hỏi
tính năng kỹ thuật, công nghệ cao, trọng tải lớn, vận hành với tốc độ cao. Phải
đáp ứng mọi tiêu chuẩn nghiêm ngặt của các cục đăng kiểm quốc tế, đảm bảo
các sản phẩm tàu có độ bền thích nghi với mọi điều kiện thời tiết, khí hậu và
nớc biển với mức độ an toàn cao trên mặt nớc và hoạt động dới nớc. Do đó,
đây là một ngành kinh tế kỹ thuật có sự tích hợp nhiều nghề chuyên sâu trong
quá trình sản xuất nh kỹ năng nghề cắt tôn, sơn, gò, hàn, thiết kế vỏ tàu, điện
tàu, triền đà, ụ, lái tàu, lái cẩu giữa các công đoạn sản xuất nó đòi hỏi tính
năng cơ số hoá trong từng chi tiết phải đạt độ chính xác cao theo mẫu thiết kế
và sử dụng các phơng tiện công cụ hiện đại bán tự động và tự động hoá cao
trong sản xuất thi công.
Tính chất xã hội hoá đợc thể hiện khá rõ trong lao động và trong sinh
hoạt của công nhân CNĐT. Do tính chất đặc thù nghề nghiệp ngời lao động
trong ngành công nghiệp cơ khí kỹ thuật này, đòi hỏi đội ngũ công nhân lao
động trong ngành phải có tính tổ chức, kỷ luật cao. Kỷ luật công nghiệp và
yêu cầu bán quân sự đã rèn luyện cho công nhân CNĐT tác phong công
nghiệp. Vì, đội ngũ công nhân này phải làm việc trong các môi trờng nhà x-
ởng tách biệt, tạo ra các phân đoạn, tổng đoạn theo từng loại modul khác nhau
trong một sản phẩm tàu điều đó yêu cầu tính chính xác rất cao giữa các công
đoạn ấy để tạo ra sản phẩm mới hoàn thiện. Đòi hỏi những ngời công nhân
phải có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình thiết kế và thi

độ phát triển của lực lợng sản xuất có tính chất chuyên môn hoá, xã hội hoá
cao trong ngành công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ. Họ là ngời góp phần
quyết định vào năng lực và hiệu quả khai thác kinh tế biển của đất nớc.
1.2. Những yếu tố quy định sự phát triển của công nhân
ngành công nghiệp đóng tàu
1.2.1. Vai trò của công nhân ngành Công nghiệp đóng tàu
Trong bất kỳ một lĩnh vực lao động sản xuất nào ngời lao động luôn
đóng vai trò quan trọng, quyết định trực tiếp nhất tới sự phát triển sản xuất và
tăng năng suất lao động. Ngày nay, khoa học kỹ thuật và công nghệ trên thế
14
giới không ngừng đợc phát triển, hàm lợng chất xám trong các sản phẩm hàng
hoá ngày càng tăng cao, vai trò của ngời lao động lại càng có vị trí quan trọng
hơn bao giờ hết trong lực lợng sản xuất. Vì con ngời chính là một bộ phận
quan trọng nhất cấu thành lực lợng sản xuất trong mọi thời kỳ, con ngời vừa là
điểm khởi đầu nhng cũng là đích đến trong mọi sáng kiến phát minh, ứng
dụng sáng tạo các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ vào trong quá
trình sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội. V.I Lênin đã chỉ ra rằng: lực lợng
sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là ngời lao động [18,
tr.430].
Đội ngũ công nhân ngành CNĐT là yếu tố quan trọng hàng đầu cho sự
phát triển của ngành công nghiệp đóng tàu. Trong điều kiện kinh tế, kỹ thuật
phát triển ngày càng hiện đại với quá trình quốc tế hoá cạnh tranh gay gắt nh
hiện nay cần phải có nguồn lực con ngời và chất lợng nguồn lực con ngời ngày
càng cao. Họ là lực lợng lao động đông đảo bao gồm cả các kỹ s, kỹ thuật viên
và những ngời thợ lành nghề ở những cấp bậc khác nhau đang làm chủ những
tri thức khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, có kinh nghiệm và sự am
hiểu sâu sắc những nhân tố tự nhiên tác động đến các quy trình sản xuất đóng
mới và sửa chữa tàu thuỷ.
Hiện nay, đội ngũ công nhân ngành CNĐT là những ngời tiền phong
trong nắm bắt và ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến ấy

Thế kỷ XXI, tàu biển thế giới phát triển theo 3 tiêu chí quan trọng sau:
An toàn, trọng tải lớn, giảm ô nhiễm môi trờng. Đây thực sự là một cuộc cạnh
tranh gay gắt trong lĩnh vực công nghệ đóng tàu tiên tiến; thời gian hoàn thành
đúng hạn; nhân công chất lợng kỹ thuật cao. Đảm bảo sự rút ngắn thời gian
sản xuất, giảm chi phí sản xuất, sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, giá thành
sản phẩm phù hợp.
Ngành CNĐT cũng không nằm ngoài quy luật khách quan của xu thế
ấy. Trớc đây, ngành CNĐT chỉ đơn thuần đóng các phơng tiện phục vụ cho
ngành giao thông đờng thuỷ đi lại và vận chuyển hàng hoá thông thờng là chủ
yếu. Nhng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các nền kinh tế biển, khai thác
biển của các nớc trên thế giới hiện nay, công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu
biển trên thế giới những năm gần đây đã và đang có những bớc tiến vợt bậc về
chất để đáp ứng nhu cầu, trình độ phát triển kinh tế biển không ngừng gia tăng
của các quốc gia. Nhu cầu phát triển đó đòi hỏi ngành CNĐT và đội ngũ công
nhân ngành phải tạo ra các sản phẩm tàu có chất lợng và trọng tải lớn hoạt động
với tốc độ cao, đảm bảo an toàn, thuận tiện cho việc bốc, xếp dỡ hàng hoá và
hành khách trên tàu với yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao.
Chính nhu cầu đó làm cho ngành CNĐT phải không ngừng đổi mới, cải
tiến kỹ thuật và công nghệ phù hợp với thực tiễn và hình thành hàng loạt xu h-
ớng mới. Hiện có ba xu hớng tiêu biểu: xu hớng cơ khí hoá - điện khí hoá - tự
16
động hoá trong công nghệ đóng tàu đáp ứng tính năng kỹ thuật công nghệ cao,
đạt các tiêu chuẩn đăng kiểm nghiêm ngặt trong nớc và quốc tế; Xu hớng
nâng cao năng lực đóng tàu có tải trọng lớn - siêu trờng, siêu trọng với khối l-
ợng khổng lồ; Xu hớng đa dạng hoá các chủng loại tàu (chở khách, tàu chở
dầu, chở hoá chất, chở hàng rời, tàu chuyên dụng ).
Hiện các nớc có ngành CNĐT phát triển đang ứng dụng một cách nhanh
chóng các thành tựu công nghệ mới vào quá trình sản xuất làm thay đổi tính
chất từ một ngành công nghiệp cơ khí sử dụng nhân công là chính thì nay đã
và đang đợc chuyển dần sang trở thành một ngành cơ khí kỹ thuật cao. Trong

tạo cho những hành lang pháp lý thuận lợi, xây dựng thành một ngành công
nghiệp mũi nhọn của đất nớc. Hiện ngành đang tập trung mọi lực lợng đẩy
mạnh quá trình hợp tác quốc tế với các nớc có trình độ công nghệ đóng tàu
phát triển của thế giới nh Ba lan, Hà Lan, Anh, Na Uy, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Trung Quốc, Bớc đầu đã thu đợc nhiều hợp đồng trong chuyển giao công
nghệ và các hợp đồng đóng mới và sửa chữa tàu với giá trị hợp đồng lên tới
hàng tỷ USD: Chúng ta đã ký với Công ty thơng mại Đức MDC 8 tàu
container loại 700TUE, dự án này sẽ mở đờng cho Vinashin tiến tới đạt 2 Tỷ
USD kim ngạch xuất khẩu đóng tàu vào năm 2010, cao hơn 17% so với kim
ngạch tổng thể đặt ra trong giai đoạn 2006 - 2010. Riêng năm 2005 - 2007 đã
ký thêm hơn chục cái hợp đồng đóng tàu có giá trị lớn cho các chủ tàu Nhật
Bản, Anh, Balan trong đó nổi bật nhất là hợp đồng đóng mới tàu hàng
53.000ĐWT. Với tổng giá trị hợp đồng khoảng trên 450 triệu USD và hợp
đồng đóng mới 9 tàu hàng loại 34.000ĐWT tổng giá trị là 238,5 triệu USD
cho chủ tàu Vơng Quốc Anh. Gần đây nhất Vinashin đã ký thêm 18 hợp đồng
kinh tế khác với các đối tác nớc ngoài và trong nớc tại Triển lãm quốc tế về
công nghệ tàu thuỷ, hàng hải và vận tải lần thứ 3 - Vietship 2/2006. Chỉ tính
riêng 2 hợp đồng cung cấp 3 tàu chở hàng, trọng tải mỗi tàu 8.700 ĐWT cho
hãng Kannenmat (Nhật Bản) và 10 tàu đa năng có trọng tải mỗi tàu 4.500 tấn
cho hãng tàu biển Clipper (Đan Mạch) đã mang về cho Vinashin khoảng 300
triệu USD, trong khi đó nhiều chủ tàu khác từ các nớc tiên tiến trên thế giới
đang tiếp tục đến đề nghị ký hợp đồng với Vinashin, đóng các loại tàu hàng có
trọng tải từ 10.000ĐWT đến 56.000 ĐWT [3, tr.27].
Nh vậy, với số hợp đồng đã ký và đang tiếp tục đàm phán để ký, tổng
trị giá các hợp đồng đóng tàu xuất khẩu của Vinashin đã đạt trên 2 tỷ USD
đến hết năm 2010 và theo ớc tính các hợp đồng đã ký thì ngành CNĐT Việt
Nam phải làm việc hết công suất đến năm 2015 mới thực hiện đủ các hợp
đồng. Vấn đề đặt ra hiện nay là chúng ta làm nh thế nào để thực hiện những
hợp đồng trên theo đúng tiến độ bàn giao, giữ đợc uy tín cao với các bạn hàng
quốc tế để chúng ta còn có cơ hội ký tiếp các hợp đồng đóng mới.

nằm ở ven bờ biển Đông với vùng biển đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1 triệu
km
2
, có trên 3000 hòn đảo lớn nhỏ, phân bố tập trung ở ven bờ Tây Vịnh Bắc
Bộ (Quảng Ninh - Hải Phòng) và hai quần đảo ngoài khơi là Trờng sa và
Hoàng sa. Nhiều đảo có thể xây dựng thành các trung tâm kinh tế và dịch vụ
cho các hoạt động khai thác biển xa cũng nh các đảo, nhiều khu vực bờ biển
nớc ta có điều kiện về tự nhiên rất thuận lợi cho việc xây dựng các khu công
nghiệp ven biển, đặc biệt là phát triển ngành công nghiệp đóng mới và sửa
19
chữa tàu thuỷ. Trên cơ sở đó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng CNH, HĐH các ngành công nghiệp,
du lịch và an ninh quốc phòng biển, đảo.
Các nguồn tài nguyên của biển Việt Nam đợc thể hiện nh sau:
Các nguồn tài nguyên biển hết sức phong phú có khả năng khai thác
lớn đóng vai trò quan trọng cho sự tăng trởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trong đó trớc hết phải kể đến dầu khí là một nguồn tài nguyên mũi nhọn có u
thế nổi trội của Việt Nam. Ngoài ra biển Việt Nam còn có khả năng nguồn lợi
hải sản đợc đánh giá vào loại phong phú trong khu vực có nhiều loại đặc sản
khác có giá trị kinh tế cao. Riêng cá biển đã phát hiện hơn 2000 loài khác
nhau, trong đó có trên 100 loài có giá trị kinh tế cao. Dọc ven biển có trên 37
vạn hecta mặt nớc có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nớc mặn-lợ, nhất là nuôi
các loại đặc sản xuất khẩu nh Tôm, Cua, Rong câu, Bên cạnh đó, biển nớc ta
còn có các loại tài nguyên khoáng sản quan trọng có tiềm năng khác (ngoài
dầu khí) nh: than, sắt, titan, cát thuỷ tinh và các loại vật liệu xây dựng khác để
phát triển nền kinh tế theo hớng công nghiệp hoa, hiện đại hoá.
Biển nớc ta có vị trí hết sức quan trọng trong thực hiện chiến lợc phát
triển kinh tế hớng ra biển và hội nhập kinh tế với các nớc trong khu vực và
trên thế giới. Việt Nam nằm ở rìa biển Đông, án ngữ trên các tuyến hàng hải
và hàng không huyết mạch thông thờng giữa ấn Độ Dơng và Thái Bình Dơng,

ở trình độ thấp, đánh bắt ven bờ theo kiểu truyền thống bằng chài, lới, câu, là
chủ yếu. Các ngành nghề biển nh thăm dò tìm kiếm, khai thác vận chuyển cha
phát triển. Hầu hết các ngành nghề trên biển đang thiếu hụt các phơng tiện công
cụ tàu thuyền các loại có khả năng vơn ra xa làm chủ và khai thác biển khơi.
Hiện nay chúng ta cha thể tiến xa ra và làm chủ đại dơng để phát triển kinh tế
biển và làm giàu lên từ biển với những phơng tiện công cụ thủ công. Thực tiễn
đòi hỏi Việt Nam phải phát triển một nền công nghiệp biển, đặc biệt là ngành
CNĐT đủ mạnh để cung cấp những phơng tiện hiện đại có khả năng cao trong
thăm dò và khai thác biển có hiệu quả.
Thị trờng đóng tàu thế giới hiện đang mở ra nhiều cơ hội cho ngành
CNĐT nớc ta phát triển. Nhu cầu vận tải đờng biển tại các nớc Đông Nam á
không ngừng gia tăng đạt tới 143,3 triệu TEU vào năm 2007 nhng công suất
vận tải của tất cả các hãng vận tải biển trên thế giới mới chỉ đáp ứng đợc 129,5
triệu TEU. Số đơn đặt hàng đóng tàu dầu và tàu container trên thế giới đến
ngày 01/07/2004 tăng đạt mức kỷ lục trong vòng 30 năm qua. Trên toàn thế
giới có 3.388 tàu đợc đặt đóng mới với tổng trọng tải 183,8 triệu tấn tàu.
Ngoài ra, các nớc đang có có nhu cầu tăng mạnh về mua sắm các loại tàu mới
đáp ứng yêu cầu khai thác vận chuyển đờng biển, phát triển ngành dịch vụ
21
hoạt động hậu cần thiết yếu nh các tàu chuyên dùng phục vụ an ninh quốc
phòng đảm bảo hoạt động hàng hải thông suốt.
Hiện số lợng đơn đặt hàng đóng tàu trên thế giới vẫn có xu hớng liên
tục tăng đến năm 2007 đạt mức 315 triệu đồng cùng với nó là sự dịch chuyển
thị trờng đóng tàu từ Châu Âu sang châu á. Hiện các nớc nh: Hàn Quốc,
Nhật Bản, ấn Độ đang tích cực xây dựng đầu t nâng cấp và mở rộng các cơ
sở đóng tàu của mình ngày càng hiện đại, sản xuất các sản phẩm tàu có chất l-
ợng giá trị cao với yêu cầu kỹ thuật và công nghệ tiên tiến đủ sức cạnh tranh
các thị phần đóng mới tàu trên thế giới. Còn các nớc châu âu trên thế giới
đang dựa vào thế mạnh của mình về khoa học kỹ thuật, công nghệ đẩy mạnh
sự hợp tác xuất khẩu những thiết bị công nghệ cao trên cơ sở liên doanh liên

nhiều hơn cho ngân sách Nhà nớc và tự lực phát triển đội tàu của mình. Để
đáp ứng yêu cầu của sự phát triển ngành kinh tế vận tải biển hiện nay, chúng
ta phải đầu t khoảng 2 tỷ USD đến năm 2007 để có thêm 6 tàu dầu trọng tải
370.000 ĐWT và 25 tàu container với trọng tải 460.000 ĐWT, 28 tàu hàng với
tổng trọng tải 350.000 ĐWT và đầu t thêm 5 tỷ USD đến năm 2010 để nâng
tổng trọng trọng tải của đội tàu trong nớc lên 4,4 triệu ĐWT. Vấn đề đặt ra là
phải đầu t cho sự phát triển ngành CNĐT và đội ngũ công nhân ngành phát
triển ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ sản xuất thực tế hiện nay.
Nhận thức đợc cơ sở tiềm năng to lớn về biển của nớc ta và xuất phát từ
yêu cầu thực tế sự phát triển của các ngành kinh tế biển trong nớc và quốc tế
hiện nay. Đảng và Nhà nớc ta đã rất chú trọng quan tâm đến chính sách phát
triển kinh tế biển, đặc biệt là đầu t phát triển ngành CNĐT trở thành một
ngành công nghiệp đầu tàu trong quá trình CNH, HĐH đất nớc lôi kéo các
ngành kinh tế khác cùng phát triển. Trớc sự quan tâm và đầu t mạnh của Chính
phủ ta, cũng nh tạo mọi cơ sở pháp lý thuận lợi cho Tổng Công ty CNTT Việt
Nam chủ động liên minh, liên kết với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế nhằm
huy động vốn, công nghệ cho sự phát triển tăng tốc của ngành. Riêng trong
năm 2005 tổng vốn ngân sách Nhà nớc và vốn tín dụng u đãi thực hiện đối với
Tổng Công ty CNTT Việt Nam là 638.454 triệu đồng, tổng vốn vay trái phiếu
quốc tế là 750.000 USD. Trong năm 2006 vốn do tập đoàn thực hiện đầu t xây
dựng cơ bản nhằm cải tạo nâng cấp, mở rộng các nhà máy đóng mới và sửa
chữa tàu thuỷ trên cả nớc là 474.083 triệu đồng.
Ngành đóng tàu đang đẩy mạnh liên doanh, liên kết với các quốc gia có
ngành CNĐT phát triển trên thế giới nh: Anh, Đức, Hà Lan, Hàn Quốc, Nhật,
Đan mạch nhằm xây dựng, nâng cấp, mở rộng các nhà máy trên cả 3 miền
Bắc-Trung - Nam đủ sức sản xuất đa dạng các sản phẩm tàu đáp ứng nhu cầu
vận tải trong nớc và hớng ra xuất khẩu. Cụ thể ở khu vực phía Bắc là nhà máy
đóng tàu Bạch Đằng, Nam Triệu, Phà Rừng, Sông Cấm, và nhà máy đóng tàu
23
Hạ Long; ở miền Trung là nhà máy đóng tàu Đà Nẵng, nhà máy đóng tàu Nha

Năm 981 thuỷ quân Tống chia làm hai ngả tiến vào cửa công Bạch Đằng và
cửa sông Hồng đều bị thuỷ quân Lê Hoàn tiến công tháo chạy về nớc Đến
thời Lý, theo giáo s Hoàng Xuân Hãn thì triều đình Việt Nam đã có những x-
24
ởng lớn đóng thuyền và thuyền thời Lý có thể chở đợc tới 200 ngời và đầy đủ
lơng thực nớc uống để vợt biển với cự ly hàng ngàn hải lý. Thuyền chiến thời
Tây Sơn, vua Quang Trung đã cho đóng những chiếc tàu lớn, trang bị từ 50 -
60 khẩu súng, Ông còn cho đóng hàng loạt các thuyền lớn để chở voi sang
đánh nhà Thanh. Qua đây, chúng ta thấy rõ ngành đóng tàu và đội ngũ công
nhân ngành đóng tàu ở nớc ta luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong
chiến lợc quốc phòng, an ninh.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, đội ngũ công nhân ngành
đóng tàu đã có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp chung. Đế quốc Mỹ tiến
hành chiến tranh huỷ diệt miền Bắc, chúng muốn làm tê liệt sức chi viện của
hậu phơng lớn cho tiền tuyến lớn. Các mạch máu giao thông từ cửa sông, cửa
biển của Việt Nam đều bị thuỷ lôi và các loại bom từ trờng của đế quốc Mỹ
giăng bẫy. Các nhà xởng đóng tàu của quân đội hay dân sự trên phạm vi cả n-
ớc và ở Hải Phòng đều chuyển sang làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là
chính. Với tinh thần yêu nớc và lòng căm thù giặc sâu sắc, đội ngũ cán bộ và
công nhân viên các nhà xởng đóng mới và sửa chữa tàu lúc bấy giờ đã lao
động quên mình, sáng tạo nhiều phơng tiện, công cụ để đánh thắng đế quốc
Mỹ xâm lợc. Ngày 11/10/1962 hàng loạt tàu không số xuất phát từ Hải
Phòng thẳng tiến vào miền Nam làm nên những kỳ tích trên con đờng Hồ Chí
Minh trên biển. Nhiều tàu thuyền, máy móc phục vụ cho rà phá thuỷ lôi, mở
thông luồng lạch đã đợc công nhân Hải Phòng sản xuất và mang lại hiệu quả
cao, góp phần quan trọng vào thắng lợi của đất nớc.
Ngày nay trong quá trình CNH, HĐH đất nớc nhằm thực hiện thắng lợi
mục tiêu chiến lợc kinh tế biển và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền thiêng
liêng của Tổ Quốc đã và đang đặt ra cho ngành CNĐT và đội ngũ công nhân
ngành này những nhiệm vụ hết sức to lớn và nặng nề.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status