Lời nói đầu
Trong bối cảnh thế giới hiện nay với những biến đổi sâu sắc và mạnh mẽ
về tất cả các mặt. Sự phát triển nhảy vọt của khoa học công nghệ, nền kinh tế tri
thức chiếm vị thế ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển. Do vậy hợp
tác kinh tế giữa các nớc, các khu vực và toàn cầu có xu hớng ngày càng phát
triển bởi nó không chỉ mang lại lợi ích cho mỗi quốc gia, khu vực mà còn mang
lại lợi ích trên thế giới. Nhất là Việt Nam với một nền kinh tế đang phát triển và
thành tựu khoa học công nghệ thấp kém thì việc hội nhập khu vực và thế giới sẽ
mang lại hiệu quả rất lớn cho tiến trình phát triển kinh tế xã hội mà đờng lối
của Đảng đã xác định: Việt Nam làm bạn với tất cả các nớc trên thế giới, cùng
nhau hợp tác, đôi bên cùng có lợi.
Toàn cầu hoá là xu thế khách quan của quá trình phát triển, Việt Nam
tham gia hội nhập sẽ có đợc những cơ hội to lớn nhng cũng đứng trớc những thử
thách nặng nề. Việc chủ động hội nhập quốc tế những và một số giải pháp thực
hiện là những nội dung đợc đề cập trong bài viết.trong bài viết chắc chắn không
tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế mong thầy cô và các bạn góp ý.
Bài viết này đã đợc hớng dẫn và giúp đỡ rất tận tình của giáo viên
Nguyễn Thị Hào.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
B. Nội dung chính:
Thời đại chúng ta đã bớc sang một trang mới với những thành tựu quan
trọng có tính chất đột phá trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong bối
cảnh mà cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang phát triển mạnh
mẽ trên phạm vi toàn cầu và xu hớng quốc tế hoá ngày càng sâu rộng, thì Đảng ta
đã đa ra quan điểm Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nớc trong
cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển. Để hiểu sâu hơn
về quan điểm này chúng ta đi tìm hiểu một số vấn đề sau:
Chơng I:
Toàn cầu hoá kinh tế và tính tất yếu khách
quan của quá trình toàn cầu hoá kinh tế
ời/năm. Sự phân bố không đều về tài nguyên, khí hậu và môi trờng dẫn đến sự
khác nhau về trình độ phát triển, thu nhập, mức sống vật chất và tinh thần. Đây là
nguyên nhân của những làn sóng di dân từ vùng có mật độ dân số cao, điều kiện
kiếm việc khó khăn, thu nhập thấp đến nơi có dân c tha thớt dễ kiếm việc làm, thu
nhập cao đời sống, môi trờng tốt hơn. Điều đó diễn ra thờng xuyên trong quá trình
phát triển của xã hội loài ngời.
Mặt khác con ngời phải tìm các giải pháp khắc phục tình trạng khan hiếm
tài nguyên bằng cách giao thơng, trao đổi, mua bán hàng hoá tiêu dùng và các loại
tài nguyên khoáng sản nhằm khai thác tài nguyên d thừa của các nớc để khắc phục
tình trạng khan hiếm, thiếu hụt nguồn lực phát triển của nớc mình. Những yếu tố
này góp phần tạo nên xu thế tất yếu phục vụ cho nhu cầu phát triển của tất cả các
quốc gia trên thế giới. Bởi vì trên thế giới không có một quốc gia nào có đầy đủ
các yếu tố nguồn lực để tự mình xây dựng một nền kinh tế phát triển bền vững.
Nh vậy toàn cầu hoá kinh tế nhằm khắc phục tình trạng khan hiếm và phân
bố tài nguyên không đều, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao và số lợng dân
c ngày một nhiều. Nhng nhiệm vụ đó chỉ đợc diễn ra khi mà khoa học công nghệ
và lực lợng sản xuất phát triển ở trình độ cao.
Trong điều kiện hiện nay cùng với quá trình hội nhập thì việc đẩy mạnh
phân công lao động không chỉ xuất phát từ yêu cầu phát triển các ngành kinh tế
văn hoá xã hội mà còn để đáp ứng yêu cầu mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế bởi lẽ
nền sản xuất vật chất càng cao, càng đòi hỏi sự hợp tác càng sâu. Trong thế giới
ngày nay một sản phẩm thờng là kết quả của sự hợp tác phân công lao động trên
phạm vi quốc tế. Sự ra đời và phát triển của các Công ty xuyên quốc gia (TNC)
ngày càng làm cho nền sản xuất mang tính toàn cầu. Ngày nay trên thế giới có
60.000 TNC chiếm 25% giá trị nền sản xuất toàn cầu. 65% kim ngạch mậu dịch
quốc tế, 70% đầu t nớc ngoài, 90% công nghệ cao, các quan hệ thơng mại, các
3
dòng vốn đầu t, các hoạt động dịch vụ phát triển rộng khắp cha từng có giữa các n-
ớc.
Dới tác động của xu thế toàn cầu hoá, mức độ liên kết thống nhất của thị tr-
mối quan hệ biện chứng với các vấn đề chính trị, xã hội.
Bốn là, toàn cầu hoá gắn liền với sự tiến bộ xã hội và các thành tựu về cách
mạng khoa học- công nghệ và bùng nổ thông tin tự động hoá cao.
4
2. Tính tất yếu khách quan của quá trình toàn cầu hoá.
Bớc vào thế kỷ XXI, tình hình thế giới có những biến đổi sâu sắc và mạnh
mẽ. Khoa học công nghệ có những bớc nhảy vọt cha từng thấy, nền kinh tế tri thức
sẽ chiếm vị trí càng lớn mạnh trong quá trình phát triển. Toàn cầu hoá kinh tế và
hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một xu thế tất yếu trong quan hệ kinh tế hiện
nay.
Hội nhập, tham gia vào toàn cầu hoá kinh tế không chỉ tạo ra những điều
kiện thuận lợi mà cả những khó khăn thách thức cho phát triển kinh tế xã hội của
nhiều quốc gia trên thế giới. Trong xu thế đó, ở các mức độ khác nhau, các nớc
không thể không tham gia hội nhập bởi lẽ. Toàn cầu hoá đã lôi cuốn tất cả các n-
ớc, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy vừa hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh
tranh và tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế.
Quan hệ song phơng, đa phơng giữa các quốc gia ngày càng sâu rộng cả
trong kinh tế, văn hoá và bảo vệ môi trờng phòng chống tội phạm, thiên tai và các
đại dịch các Công ty xuyên quốc gia tiếp tục cấu trúc lại, hình thành những tập
đoàn khổng lồ chi phối nhiều linh vực kinh tế, vì vậy các quan hệ đa phơng không
chỉ giới hạn ở các quan hệ lợi ích kinh tế mà còn có các lợi ích khác, nh liên kết
các nớc đang phát triển cùng nhau đấu tranh vì sự toàn cầu hoá, chân chính chống
lại sự áp đặt không công bằng, thiếu bình đẳng của các nớc phát triển và các tập
đoàn kinh tế xuyên quốc gia.
Nh vậy, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới là một xu thế tất yếu và là yêu
cầu khách quan đối với bất cứ một nớc nào trên con đờng phát triển trong điều
kiện thế giới ngày nay. Thực chất của hội nhập là đấu tranh để giành thị trờng
hàng hoá, vốn kỹ thuật, kinh nghiệm tham gia phân công lao động quốc tế để khai
thác tiềm năng bên ngoài, kết hợp phát huy tối đa nội lực, không ngừng nâng cao
sức mạnh về kinh tế và vị thế quốc gia, trớc tác động mạnh mẽ của xu thế đã khiến
năm 2001), theo thông tin có đợc thì mức nhập siêu phần lớn rời vào các nhóm
hàng nh máy móc, công nghệ và nguyên phụ liệu để sản xuất hàng gia công cho
xuất khẩu.
Thứ hai, giữa hệ thống chính sách, pháp luật của Việt Nam và định chế của
các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế còn có sự khác biệt lớn. Ngoài ra, sự thiếu
ổn định và nhất quán trong chính sách thu hút đầu t nớc ngoài và đầu t của t nhân
trong nớc, những thiếu sót trong quy hoạch, đầu t, thuế, tín dụng cho phát triển các
ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển vùng còn phải đáng lu tâm thêm nữa.
Chúng ta cần phải giải quyết nhanh chóng những mâu thuẫn những khó
khăn còn tồn tại để có thể tranh thủ các điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế
xây dựng một nền kinh tế có sức cạnh tranh và hội nhập có hiệu quả.
1.2. Đầu t vốn:
Không chỉ đối với riêng nớc ta mà với tất cả mọi nớc trên thế giới, việc khai
thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực luôn có ý nghĩa quyết định đối với tăng
trởng, phát triển nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong bối cảnh toàn cầu
6
hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, ý nghĩa của chính sách đầu t lại càng quan trọng
hơn. Bởi lẽ, một chính sách đầu t đúng đắn sẽ cho phép phát huy và sử dụng có
hiệu quả không chỉ các nguồn nội lực mà cả các nguồn ngoại lực có đợc từ những
lợi thế so sánh, những u thế của phân công lao động và hợp tác quốc tế.
Ngợc lại, một chính sách đầu t không đúng sẽ không những cản trở việc
phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, mà còn là nguyên nhân dẫn đến
khủng hoảng thậm chhí làm sụp đổ cả nền kinh tế.
Trong những năm qua, nớc ta đa chủ động hội nhập kinh tế thế giới và khu
vực. Hiện nay nền kinh tế nớc ta đợc đánh giá là một nền kinh tế tơng đối mở xét
theo tỷ lệ kim ngạch ngoại thơng so với GDP và chính sách thu hút đầu t nớc
ngoài. Vì vậy nớc ta có nhiều cơ hội để phát huy các nguồn lực (cả nội lực và
ngoại lực) cho phát triển, nếu có chính sách đầu t đúng. Nhng cũng sẽ có không ít
những thách thức nếu chúng ta không có chính sách đầu t đúng theo tinh thần
Nghị quyết của Bộ chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế đang đợc quán triệt và
hệ kinh tế thế giới, là nhân tố quan trọng hàng đầu của nhiều nớc nhằm phát huy
lợi thế của mỗi quốc gia để phát triển. Nhu cầu đầu t càng trở nên thiết thực trong
điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật và phân công lao động quốc tế ngày nay, sẽ
không có sự phát triển hoàn chỉnh nếu không có sự đầu t t bản và công nghệ giữa
các nớc và khu vực trên thế giới.
1.3. Chuyển giao công nghệ
Chiến lợc phát triển đất nớc ta là chiến lợc phấn đấu đến năm 2020 nớc ta
cơ bản trở thành nớc công nghiệp, để đạt đợc mục tiêu đó, chúng ta phải có đợc
một nền khoa học hiện đại áp dụng vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ và quản lý kinh tế - xã hội.
Trong thời đại ngày nay khoa học và công nghệ thực sự là nền tảng của sự
phát triển. Nhận thức rõ vai trò đó của khoa học và công nghệ, Đảng ta đã có
nhiều nghị quyết quan trọng về khoa học và công nghệ. Đặc biệt, Hội nghị lần thứ
hai ban chấp hành trung ơng khoá VIII một lần nữa nhấn mạnh: Cùng với giáo
dục - đào tạo, khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển
kinh tế xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập và xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội.
Thực tiễn phát triển của hơn 15 năm đổi mới, đã chứng tỏ việc chúng ta áp
dụng những tiến bộ khoa học, đổi mới công nghệ, tiếp thu công nghệ tiên tiến và
một yếu tố rất quan trọng làm thay đổi bộ mặt đất nớc và cuộc sống của nhân dân.
Để đạt đợc tốc độ tăng trởng tổng sản phẩm trong nớc (GDP) liên tục đạt khoảng
8% những năm qua, ngoài yếu tố chuyển đổi cơ chế, mở cửa, chủ động, hội nhập
với thị trờng khu vực và thế giới thì yếu tố quan trọng.
Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thờng thấy nổi lên vấn đề vốn, nhng
phân tích kỹ thì thực ra, vốn phần lớn cũng là để đổi mới và tiếp thu công nghệ
(mua thiết bị, máy móc - phần cứng của công nghệ, và mua quy trình, bí quyết
8
công nghệ, nâng cao trình độ tay nghề, năng lực quản lý cho ngời lao động .phần
mềm của công nghệ).
Không chỉ riêng đối với nớc ta mà lịch sử công nghiệp hoá trên thế giới
các nớc xuất khẩu dầu lửa (OPEC), Liên Hiệp Châu Âu (EU - 15), Hiệp hội các n-
ớc Đông Nam á (ASAN) vv .
9
Ngày nay xu thế chung của thế giới là đi vào hoà hoãn mọi vấn đề có tính
quốc tế giải quyết bằng con đờng đối thoại và chuyên môn hoá sản xuất hợp tác
sản xuất giữa các quốc gia, giữa các khu vực, giữa các vùng đã trở nên là điều
nghiễm nhiên, bởi lẽ chuyên môn hoá sản xuất và hợp tác sản xuất là sự lợi dụng
hợp lý nhất những điều kiện vốn có của vùng - nhằm tiết kiệm và tăng năng suất
lao động xã hội, nâng cao hiệu quả vốn đầu t hiệu quả sản xuất - kinh doanh để tạo
ra một khối lợng sản phẩm hàng hoá vừa tốt vừa rẻ, có sức cạnh tranh thoả mãn
nhu cầu của vùng, vừa đáp ứng nhu cầu nhất định của nền kinh tế quốc dân nghĩa
là thông qua chuyên môn hoá sản xuất vùng, tham gia tích cực vào các hoạt động
kinh tế - xã hội giữa các vùng, góp phần thúc đẩy quá trình phân công lao động xã
hội theo lãnh thổ trên phạm vi cả nớc.
Đứng trớc xu thế toàn cầu hoá thì sự chuyên môn hoá sản xuất và hợp tác
sản xuất thực sự là cần thiết, có nh vậy mới có đợc sự hỗ trợ nhau tốt nhất trong
sản xuất kinh doanh cũng nh trong các hoạt động phát triển khác, có thể khai thác
và sử dụng đợc hợp lý những nguồn tài nguyên thiên nhiên những nguồn lao
động hơn nữa lại có thể giải quyết đ ợc những vấn đề mang tính toàn cầu nh nạn
ô nhiễm môi trờng căn bệnh thế kỷ, chiến tranh hạt nhân . liên quan đến vận
mệnh nhân loại, số phận của nhiều cộng đồng, dân tộc mà sự giải quyết chúng cần
có sự phối hợp, hợp tác của nhiều quốc gia.
1.5. Xuất khẩu lao động
Đảng và Nhà nớc đã khẳng định, con ngời giữ vị trí trung tâm trong toàn bộ
chiến lợc phát triển kinh tế xã hội và phải phát triển thị trờng sức lao động nhằm
đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hớng tăng nhanh tỷ lệ lao
động chất xám, lao động có kỹ thuật.
Nớc ta có nguồn nhân lực dồi dào, trung bình mỗi năm tăng thêm khoảng 1
triệu đến 1,1 triệu ngời. Với số dân 76,3 triệu ngời vào thời điểm ngày 1 - 4- 1999,
Việt Nam là quốc gia có quy mô dân số lớn thứ 3 ở Đông Nam á, thứ 14 trên thế