luận văn những hạn chế của chính phong trào Tây Sơn và trong chính sách đối nội, cơ sở và nền tảng để thực hiện chính sách ngoại giao của triều đại này - Pdf 26

MỤC LỤC
M C L CỤ Ụ 1
L I M UỜ ỞĐẦ 1
CH NG 1ƯƠ 6
NH NG NHÂN T TÁC NG N QUÁ TRÌNHỮ Ố ĐỘ ĐẾ 6
HO CH NH CH NH SÁCH I NGO I C A TRI U I TÂY S N TH I QUANG TRUNGẠ ĐỊ Í ĐỐ Ạ Ủ Ề ĐẠ Ơ Ờ
- NGUY N HUỄ Ệ 6
1.1. Tình hình khu v c ông Nam Á l c aự Đ ụ đị 6
1.2. Nh Mãn Thanh d i th i tr vì c a C n Long (1736 – 1796)à ướ ờ ị ủ à 11
1.3. i Vi t: nh ng bi n ng cu i th k XVIIIĐạ ệ ữ ế độ ố ế ỷ 13
1.3.1. Kh i ngh a Tây S nở ĩ ơ 13
1.3.2. Tri u i Tây S nề đạ ơ 16
CH NG 2ƯƠ 18
NGO I GIAO TRI U I TÂY S NẠ Ề ĐẠ Ơ 18
TH I QUANG TRUNG – NGUY N HUỜ Ễ Ệ 18
2.1. Ngo i giao v i nh Thanhạ ớ à 18
2.2. Ngo i giao v i các qu c gia ông Nam Á l c aạ ớ ố ởĐ ụ đị 25
CH NG 3ƯƠ 32
NG L I NGO I GIAO VÀ NHÂN V T NGO I GIAOĐƯỜ Ố Ạ Ậ Ạ 32
3.1. Quang Trung – Nguy n Huễ ệ 32
3.2. Ngô Thì Nh mậ 35
CH NG 4ƯƠ 41
ÁNH GIÁ CH NH SÁCH NGO I GIAO TRI U IĐ Í Ạ Ề ĐẠ 41
TÂY S N TH I QUANG TRUNG - NGUY N HUƠ Ờ Ễ Ệ 41
VÀ NH NG TÁC NG T I KHU V CỮ ĐỘ Ớ Ự 41
ÔNG NAM Á L C AĐ Ụ ĐỊ 41
4.1. Tây S n - phong tr o nông dân i n hình trong khu v c ông Nam Á trong n a cu iơ à để ự Đ ử ố
th k XVIIIế ỷ 41
4.2. Vai trò c a nhân t Trung Qu củ ố ố 43
4.3. Nh ng tác ng c a chính sách ngo i giao tri u i Tây S n th i Quang Trung – ữ độ ủ ạ ề đạ ơ ờ
Nguy n Hu t i khu v c ông Nam Á l c aễ ệ ớ ự Đ ụ đị 46

Thế kỷ XVIII, ở Đại Việt, phong trào khởi nghĩa của nông dân phát triển
mạnh mẽ nhằm lật đổ sự thống trị của giai cấp phong kiến thối nát, điển hình
nhất là phong trào Tây Sơn. Cuộc khởi nghĩa đã cùng một lúc làm được hai
nhiệm vụ quan trọng: lật đổ ngai vàng một vua hai chúa, đặt cơ sở để thống
nhất nước nhà; đồng thời đánh tan quân xâm lược của đội quân Xiêm La được
coi là hùng mạnh nhất khu vực Đông Nam Á và hai mươi chín vạn Mãn
Thanh. Những thắng lợi này đã đưa đến sự thiết lập triều đại Tây Sơn. Tuy
thời gian tồn tại ngắn ngủi nhưng triều đại Tây Sơn thời Quang Trung –
Nguyễn Huệ đã có những đóng góp quan trọng trong lịch sử dân tộc, đặc biệt
trên mặt trận ngoại giao với hai đối tác lớn là Trung Quốc và các nước Đông
Nam Á lục địa. Những con người như Quang Trung, Ngô Thì Nhậm đã tạo
nên một thời kỳ ngoại giao hiển hách. Những thành công này có tác dụng duy
2
trì hoà bình, xoá bỏ hận thù và nguy cơ bùng nổ cuộc chiến tranh mới giữa
Đại Việt và Mãn Thanh. Không chỉ có thế, nó còn có những ảnh hưởng tới
chính sách ngoại giao của Quang Trung tới khu vực Đông Nam Á lục địa nói
chung và chính sách ngoại giao riêng biệt với từng quốc gia trong khu vực nói
riêng từ đó có những tác động nhất định tới tiến trình lịch sử của khu vực.
Trung Quốc với vai trò và ảnh hưởng to lớn trong khu vực nên trong quá trình
nghiên cứu cũng không thể không đề cập đến nhân tố này. Có thể nói, Trung
Quốc là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến chính sách đối
ngoại của bất cứ triều đại phong kiến Đại Việt nào nói chung và cũng đặc biệt
quan trọng với triều đại Tây Sơn thời Quang Trung – Nguyễn Huệ.
Những thắng lợi rực rỡ của Tây Sơn từ rất sớm đã trở thành mối quan tâm
của các nhà nghiên cứu. Do đó, nguồn tư liệu nghiên cứu về phong trào Tây
Sơn, thời đại Quang Trung – Nguyễn Huệ khá phong phú và đồ sộ. Riêng về
chính sách ngoại giao thời Tây Sơn đã có khoảng gần 30 bài viết và công
trình
1
nghiên cứu nghiêm túc và đầy tâm huyết. Những công trình nghiên cứu

sách ngoại giao triều đại Tây Sơn thời Quang Trung – Nguyễn Huệ đến khu
vực Đông Nam Á lục địa.
Trong quá trình nghiên cứu, một số nguồn tư liệu được sử dụng bao gồm:
 Các tài liệu lịch sử về khu vực Đông Nam Á lục địa, Trung Quốc và
lịch sử Việt Nam
 Các tài liệu lịch sử nghiên cứu về phong trào khởi nghĩa và triều đại
Tây Sơn.
 Các ghi chép của người đương thời, những nhân vật trọng yếu của
chính quyền Tây Sơn trực tiếp tham gia vào hoạt động ngoại giao đối ngoại,
những công văn, thư từ của vương triều Tây Sơn giao thiệp với các nước
Trung Quốc, Lào Lạn Xạng. Đặc biệt phải kể đến nguồn tư liệu chính sử của
Việt Nam bao gồm:
4
- Bộ tiểu thuyết lịch sử chương hồi “Hoàng Lê nhất thống chí” của các tác
giả thuộc dòng họ Ngô Thì (Ngô Gia văn phái).
- Tập “Đại Việt quốc thư” thu thập một số văn bản thư từ của quan chức
nhà Tây Sơn với nhà Thanh.
Trong quá trình hoàn thành khoá luận, phương pháp lịch sử và phương
pháp nghiên cứu quốc tế là hai phương pháp chính được sử dụng để phân tích
và lý giải các vấn đề.
Khoá luận được chia làm bốn chương:
Chương 1: Những nhân tố tác động đến quá trình hoạch định chính sách
ngoại giao của triều đại Tây Sơn thời Quang Trung – Nguyễn Huệ.
Chương này đề cập đến bối cảnh lịch sử của các quốc gia Đông Nam Á lục
địa, Trung Quốc thời đại Mãn Thanh, và tình hình của Đại Việt trong những
năm cuối thế kỷ XVIII.
Chương 2: Ngoại giao triều đại Tây Sơn thời Quang Trung – Nguyễn Huệ
Chương hai khái quát những chính sách và các hoạt động ngoại giao của
triều đại Tây Sơn thời Quang Trung – Nguyễn Huệ với hai đối tác chính là
Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á lục địa

cuộc chiến tranh này. Trước hết là ba cuộc chiến tranh Miến Điện – Xiêm La,
lôi kéo theo cuộc chiến xâm lược Lào Lạn Xạng của Miến Điện nhằm mở
đường chiếm Xiêm. Mâu thuẫn giữa Miến Điện va Xiêm La là vấn đề chính
trị gay gắt nhất của cả hai quốc gia với tư cách là những vương quốc mạnh
trong khu vực. Nó bắt nguồn từ bản thân sự tồn tại, mong muốn khẳng định
cộng với tham vọng làm chủ được Chiengmai và cao hơn là tham vọng bá
quyền trong khu vực. Và nó đã dẫn hai nước đến sự hằn thù, mâu thuẫn, và
gây chiến với nhau từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX (khi cả hai nước
6
đều đã suy yếu và phải lo toan những công việc nội bộ của quốc gia mình) mà
gay gắt và khốc liệt nhất là những năm cuối thế kỷ XVIII. Cuộc chiến tranh
Miến Điện – Xiêm La bắt đầu bằng những chiến dịch đưa đến việc đánh
chiếm Chiengmai và Viêng Chăn. Sự kiện Miến Điện đánh chiếm Lào Lạn
Xạng đã kích động các quốc gia lân bang nhiều đến mức buộc Trung Quốc
phải tham chiến. Sau chiến thắng quân Miến Điện, Xiêm lại bắt đầu các cuộc
chiến xâm lược Viêng Chăn và thu phục Luang Prabang đồng thời gây chiến
ở Chân Lạp dẫn đến sự tham chiến của Đại Việt. Trước đó, Xiêm đã đưa quân
sang chiếm đất Hà Tiên nhưng thất bại. Không chỉ có thế, sau Miến Điện, Đại
Việt cũng phải chiến đấu chống sự can thiệp của quân Xiêm La và quân Mãn
Thanh xâm lược.
Chính vì thế, tại các quốc gia Đông Nam Á lục địa lúc này đã diễn ra hai
cuộc đấu tranh: đấu tranh trong nội bộ mỗi quốc gia để chống lại giai cấp
phong kiến lạc hậu và phản động, đồng thời đó là cuộc đấu tranh của dân tộc
chống lại quân xâm lược.
Chân Lạp: Trong thế kỷ VI, nước Chân Lạp do vua Bhavavarman I đứng
đầu chấm dứt sự lệ thuộc của người Khmer vào nước Phù Nam. Sau khi chiến
thắng Phù Nam, Chân Lạp trở thành một quốc gia quan trọng trong khu vực,
làm chủ một vùng lãnh thổ rộng lớn, mở đầu cho giai đoạn vương quốc Chân
Lạp sơ kỳ cùng với sự lan toả của văn hoá Khơme [31, tr. 82]. Nhưng vương
quốc Chân Lạp chẳng thịnh trị được bao lâu, sau đó lại rơi vào chia cắt rồi

tìm cơ hội để khôi phục lại sự thống nhất trước đây, tranh thủ sự giúp đỡ của
Xiêm, Miến Điện hay Đại Việt [8, tr. 653].Vương quốc Viêng Chăn thực thi
chính sách ủng hộ Miến Điện nhưng chỉ có hiệu quả trong giai đoạn đầu. Đến
năm 1779, Viêng Chăn bị Xiêm xâm lược và hoàn toàn nằm dưới ách thống
trị của Xiêm. Còn vương quốc Luang Prabang thực thi chính sách thân Trung
Quốc, về sau thì thiết lập liên minh phòng thủ với Xiêm. Đến khi Viêng Chăn
8
bị xâm lược thì Luang Prabang cũng trở thành quốc gia phụ thuộc chặt chẽ
vào Xiêm. Như vậy, sau một thế kỷ chia cắt, Lào Lạn Xạng nằm dưới ách
thống trị của Xiêm nhưng điều này chỉ diễn ra ở chính quyền trung ương, còn
tại các địa phương thì lại thuần phục Tây Sơn [50, tr. 195].
Miến Điện: Miến Điện nằm ở phía tây bán đảo Trung Ấn, cả ba mặt Đông,
Bắc và Tây đều có những dãy núi cao và hiểm trở bao bọc [31, tr. 165]. Miến
Điện trở thành quốc gia tập trung từ thế kỷ X với tên gọi là vương quốc Pagan
do vua Anratha trị vì. Nhưng sự thống nhất này cũng chỉ mang tính tạm thời.
Trong xã hội Miến Điện tồn tại mâu thuẫn giữa các tộc người mà không một
triều đại nào có thể giải quyết một cách căn bản. Thời trị vì của vua
Hsinbyushin (1736 – 1776) đánh dấu một vương quốc Miến Điện hùng mạnh
từng bước mở rộng kiểm soát trên nhiều vùng đất gồm cả các nhà nước ở
vùng đồi núi Shan, trở thành một cường quốc khu vực đáng kể. Năm 1764,
chiến tranh với Xiêm bắt đầu. Đầu năm 1766, Ayut'ia bị bao vây và thất thủ
tháng 3/1767, bị người Miến Điện phá trụi. Và từ năm 1766 đến 1769, Miến
Điện đã phải đối phó với hàng loạt cuộc xâm lược của Trung Quốc, điều đó
đã làm suy yếu khả năng khống chế của Miến Điện với Xiêm và tạo điều kiện
cho người Xiêm dưới sự lãnh đạo của P’ya Taksin khôi phục lại nhanh chóng.
Cuộc chiến tranh với Xiêm chấm dứt với cái chết của Hsinbyushin vào năm
1776. P’ya Taksin đã đánh đuổi họ ra khỏi Lào, khôi phục lại Chiengmai và
thống nhất nước Xiêm. Khi Bodawpaya lên làm vua Miến Điện thì đến 1785,
cuộc chiến tranh kiệt sức giữa Xiêm và Miến Điện lại nổ ra lần nữa và lần này
quân đội Miến Điện đã thất bại thảm hại. Cuối thế kỷ XVIII, các cuộc chiến

Tóm lại, tình hình nổi bật của khu vực Đông Nam Á lục địa cuối thế kỷ
XVIII tập trung ở những vấn đề sau:
10
 Sự khôi phục của Miến Điện dẫn tới các cuộc chiến tranh xâm lược,
mở rộng lãnh thổ. Chiến tranh Miến Điện – Xiêm La đã gây ra tình trạng căng
thẳng trong khu vực đặc biệt với sự can thiệp của Trung Quốc khi đưa quân
xâm lược Miến Điện.
 Xiêm La dưới sự trị vì của Taksin và Rama ngày càng phồn thịnh tạo ra
một sự cân bằng với Miến Điện. Cùng với chiến thắng quân xâm lược Miến
Điện, Xiêm La bắt đầu mở rộng lãnh thổ và ảnh hưởng tại khu vực bằng các
cuộc chiến tranh thôn tính.
 Sự chia cắt của Lào Lạn Xạng và tình trạng bất ổn định tại Chân Lạp
cùng với tham vọng của Miến Điện và Xiêm La đã biến hai nước này thành
công cụ và nơi tranh giành ảnh hưởng của cả Miến Điện và Xiêm.
Tình hình Đông Nam Á lục địa như trên đã tác động đến chính sách ngoại
giao của Quang Trung. Trước những diễn biến tại khu vực này, Quang Trung
không thể không quan tâm để đưa ra những chính sách ngoại giao riêng biệt
với từng nước nhằm đảm bảo an ninh và vị thế của Đại Việt.
1.2. Nhà Mãn Thanh dưới thời trị vì của Càn Long (1736 – 1796)
Thế kỷ XVIII, trị vì nhà Thanh là Ái Tân Giắc La Hoàng Lịch là con thứ
tư của Ung Chính, hoàng đế thứ tư sau khi nhà Thanh vào quan ải. Giai đoạn
đầu cai trị của Càn Long, xã hội Trung Quốc có nhiều biến đổi tích cực nhưng
nó kéo dài không lâu. Khoảng giữa đời Càn Long về sau, xã hội ngày càng
mục ruỗng, ruộng đất tập trung vào tay giai cấp địa chủ người Hán, đời sống
nhân dân khốn khó, công thương nghiệp bị kìm kẹp không thể phát triển
mạnh. Cuối thế kỷ XVIII, mâu thuẫn xã hội bùng lên gay gắt: loạn ở Sơn
Đông năm 1774, Bạch liên giáo phất cờ khởi nghĩa phản Thanh phục Minh ở
Hà Nam, An Huy năm 1775…
Cũng như các triều đại phong kiến Trung Quốc trước, nhà Mãn Thanh từ
khi chiếm xong Trung Quốc liền tiến tới xâm lược và thôn tính các quốc gia

Thanh mà nếu chiến thắng, uy thế và vị trí đế quốc lớn nhất của Trung Quốc
sẽ được khẳng định mạnh mẽ. Chính vì thế Càn Long đã quyết định đưa sang
nước ta một lực lượng quân lớn với 29 vạn quân quyết tâm chiến thắng cao.
Như vậy, có thể thấy, dưới sự trị vì của Càn Long, đặc biệt là giai đoan
sau, Mãn Thanh đã không còn quan tâm đến sự phát triển kinh tế, và đời sống
của nhân dân, thay vào đó lại tăng cường đàn áp và khống chế người dân về
mặt tư tưởng. Điều đó lại làm cho những mâu thuẫn trong lòng xã hội nổi lên
gay gắt. Thêm vào đó, Mãn Thanh cũng phải liên tiếp gánh chịu những thất
bại trong các cuộc chiến tranh xâm lược.
1.3. Đại Việt: những biến động cuối thế kỷ XVIII
1.3.1. Khởi nghĩa Tây Sơn
Thế kỷ XVII đặc biệt là những năm đầu của thế kỷ XVIII “diễn ra quá
trình suy yếu của chế độ sở hữu ruộng đất của Nhà nước, do đó đã củng cố
chế độ chiếm hữu phong kiến tư nhân, chuyển thành chế độ sở hữu tư nhân về
ruộng đất” [37, tr. 49] ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài. Tình trạng này cùng
với sự mục ruỗng của chế độ phong kiến và sự tham ô của quan lại đã đẩy
cuộc sống của người nông dân vào cảnh khốn khó vô cùng do đó mà trong xã
hội Việt Nam “không có một thời kỳ nào mà cuộc biến động xã hội lại nổ ra
sâu sắc, rộng rãi và triền miên” [48, tr. 5] như thế. Các cuộc khởi nghĩa nông
dân diễn ra từ Bắc vào Nam, phong trào nọ nối tiếp phong trào kia, diễn ra sôi
nổi từ Bắc vào Nam. Đỉnh cao của các cuộc khởi nghĩa nông dân giai đoạn
này là phong trào Tây Sơn. Nó đã trở thành sự kiện có ý nghĩa quan trọng
nhất trong lịch sử Đại việt nửa sau thế kỷ XVIII. Năm 1771, Nguyễn Nhạc
cùng hai em là Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ dựng cờ khởi nghĩa ở Tây Sơn.
Khẩu hiệu khôn khéo “đánh đổ quyền thần Trương Phúc Loan, ủng hộ hoàng
tôn Hoàng Phúc Dương” vì đã đáp ứng đúng nguyện vọng nên đã thu hút
được đông đảo quần chúng nhân dân đi theo.
13
Chiến thắng Phú Yên năm 1775 đánh dấu một bước phát triển mới rộng ra
toàn quốc của phong trào Tây Sơn. Năm 1778, Nguyễn Nhạc tự xưng đế hiệu,

động ngoại giao đầu tiên của Tây Sơn với nhà Lê, tuy thất bại do không gặp
được Tôn Sĩ Nghị nhưng hoạt động ngoại này đã bác bỏ chiêu bài “phù Lê
diệt Tây Sơn” của quân Mãn Thanh và xác định chủ quyền lãnh thổ của Đại
Việt. Ngày 25/11 năm Mậu Thân (1789) đạo quân chủ lực của Tôn Sĩ Nghị
vượt sông Hồng kéo vào chiếm Thăng Long lúc này chỉ còn là một cái thành
rỗng sau khi quân Tây Sơn rút khỏi Thăng Long và đồng bằng Bắc Hà. Thấy
đội quân của Tôn Sĩ Nghị, lực lượng ủng hộ Lê Chiêu Thống bắt đầu ngóc
đầu dậy, xã hội Bắc Hà bị phân hoá thành nhiều xu hướng khác nhau. Tại Phú
Xuân, ngày 22/12/1788 (tức ngày 25/11 năm Mậu Thân) Nguyễn Huệ nhận
được tin cấp báo, vừa khẩn trương chuẩn bị về mặt quân sự vừa đề ra những
biện pháp chính trị, ngoại giao nhằm giành ngọn cờ chính nghĩa, vạch trần bộ
mặt của bè lũ bán nước và cướp nước và ngày 26/12/1788 (tức ngày 29/11
năm Mậu Thân), tại núi Bân (thuộc Phú Xuân), Ông lên ngôi Hoàng đế.
“Cùng với việc lên ngôi này, Nguyễn Huệ là người tuyên bố sự cáo chung của
triều Lê và khẳng định mình là người chịu trách nhiệm cao nhất trong việc
điều khiển vận mệnh quốc gia và dân tộc” [47, tr. 231]. “Chiếu lên ngôi” của
Nguyễn Huệ là bản cáo trạng chế độ nhà Lê thối nát, khẳng định quyền tự chủ
của dân tộc và trách nhiệm của Nguyễn Huệ đối với dân, với nước. “Chiếu
lên ngôi” phủ định hoàn toàn ngôi vua của Lê Chiêu Thống, kẻ bỏ ngôi chạy
trốn và rước quân Thanh về dày xéo đất nước đồng thời một lần nữa chỉ rõ,
chiêu bài “phù Lê diệt Tây Sơn” chỉ là hành động xâm lược của quân Thanh.
Sau khi cấp tốc hành quân, đêm 30 Tết, đại quân Nguyễn Huệ bắt đầu vượt
Gián Khẩu và bất ngờ tấn công vào dinh trại của quân Lê Chiêu Thống ở
vòng ngoài. Ngày mồng 3 Tết, đồn Hà Hồi thất thủ. Trận công kích vào thành
Thăng Long bắt đầu từ đêm mùng 4, rạng ngày mùng 5 Tết vào căn cứ Đống
15
Đa và tấn công trực diện vào đồn Ngọc Hồi. Chiến trận diễn ra ác liệt trong
vòng nửa ngày thì đồn Ngọc Hồi bị tiêu diệt. Tôn Sĩ Nghị liên tiếp nghe tin
thất bại, vội vàng sai làm cầu phao vượt sông Nhị Hà chạy về Bắc, vua Chiêu
Thống cũng vội và theo Tôn Sĩ Nghị về Bắc. Với thắng lợi oanh liệt của cuộc

“Quang Trung đã lập ra một nền chính trị hoàn toàn mới, trong đó, lần đầu
tiên trong lịch sử Đông Dương quân sự được xem trọng hơn dân sự” [38, tr.
65]. Trong công tác đối ngoại, người anh hùng áo vải cũng đã làm được rất
nhiều công việc giúp cho duy trì sự ổn định và an bình của đất nước.
Bối cảnh khu vực Đông Nam Á lục đại, tình hình Trung Quốc cộng với
những biến đổi trong nội bộ của Đại Việt là những nhân tố quan trọng và
quyết định tới chính sách đối ngoại của Quang Trung – Nguyễn Huệ. Chính
sách đối ngoại là sự tiếp nối của chính sách đối nôi, do đó nhân tố nội tại của
Đại Việt đóng vai trò quyết định nhất đến quá trình này. Những cải cách ban
đầu của Quang Trung đã đem lại một số kết quả nhất định, tạo ra sự ổn định
trong xã hội Đại Việt, để từ đó, Quang Trung đã đưa ra những đường lối đối
ngoại phù hợp với tình hình Trung Quốc và khu vực giai đoạn hậu bán thế kỷ
XVIII.
17
CHƯƠNG 2
NGOẠI GIAO TRIỀU ĐẠI TÂY SƠN
THỜI QUANG TRUNG – NGUYỄN HUỆ
Xuất phát từ mục đích ngoại giao, đặc điểm trong quan hệ đối ngoại của
Tây Sơn thời Quang Trung – Nguyễn Huệ là đấu tranh chính trị với Trung
Quốc là chủ yếu, coi trọng phát triển quan hệ bang giao với các nước trong
khu vực Đông Nam Á lục địa. Về phía Bắc, Quang Trung muốn khẳng định
vị thế chính trị, tính chính thống của mình bằng sự thừa nhận của nhà Thanh
đối với Đại Việt. Đối với biên giới phía Tây, Quang Trung muốn có sự yên
ổn, phát triển thương mại để tập trung lực lượng đối phó với Nguyễn Ánh ở
phía Nam. Nền ngoại giao thời Tây Sơn với hai đối tác chính là Trung Quốc
đời Càn Long và các quốc gia Đông Nam Á lục địa, tuy còn sơ khai nhưng đã
có rất nhiều thành tựu quan trọng trong lịch sử ngoại giao Việt Nam. Vị thế
Đại Việt được nâng cao trong sự đánh giá của Trung Quốc . Đối với người
Xiêm “ngoài miệng tuy nói khoác nhưng trong lòng sợ Tây Sơn hơn sợ cọp”
sau thất bại Rạch Gầm, Xoài Mút. Đối với Ai Lao, các tiểu quốc hoặc các

việc này cho Ngô Thì Nhậm phải đưa thư sang Thanh xin giảng hoà, xưng
thần, nộp cống vật và cầu phong. Sau này, khi Nguyễn Huệ trở về Phú Xuân
thì công việc bang giao với nhà Thanh cũng được giao lại cho Ngô Thì Nhậm,
Phan Huy Ích. Đồng thời khi kéo quân vào Thăng Long, Quang Trung cũng
ra lệnh cấm giết bại binh Thanh khi bắt được. Về phần Phúc Khang An, vốn
là người phụ trách quân lương cho đoàn quân của Tôn Sĩ Nghị trước đây cho
nên cũng thấy cái thế khó thắng của mình. Trong đội quân bại trận của Tôn Sĩ
Nghị có Thang Hùng Nghiệp đã tìm cách hoà hoãn với quân Tây Sơn khi biết
sức mình không thể thắng nổi. Ngày mồng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu,
Thang Hùng Nghiệp chạy trốn lên phía ải Nam Quan qua biên giới về nước.
19
Vừa tới Quảng Tây, ngày 18 tháng Giêng vội viết thư cho đại tướng của Đại
Việt là Hám Hồ Hầu
2
“đề nghị hoãn binh và yêu cầu Hám Hồ Hầu trình bày
với Nguyễn Huệ những lẽ hơn thiệt về việc nên giảng hoà với triều đình nhà
Thanh, Thang Hùng Nghiệp xin tình nguyện đứng ra làm trung gian điều
đình” [4, tr. 187, 188]. Như vậy, có thể thấy, cả Phúc Khang An và Thang
Hùng Nghiệp đều rất muốn hoà hoãn với Tây Sơn, dập tắt mưu đồ phục thù
của nhà Thanh. Tháng Giêng năm Kỷ Dậu, vua Quang Trung cho Nguyễn
Hữu Trì, Vũ Huy Phúc sang gặp Thang Hùng Nghiệp, tháng 2 năm Kỷ Dậu
lại cho Ngô Thì Nhậm sang Quảng Tây gặp Phúc Khang An. Sau những cuộc
gặp gỡ đó việc giao thiệp giữa hai nước được tiến hành khẩn trương. Tháng 3
năm Kỷ Dậu, một sứ bộ Đại Việt gồm có Nguyễn Quang Hiển, Võ Huy Tấn,
Ngô Vi Quý, Nguyễn Đình Cử mang cống vật và biểu văn lên đường sang
Yên Kinh xin yết kiến Càn Long và xin cầu phong. Đại Việt trao trả 800 tù
binh. Nhà Thanh phải đem một số cựu thần nhà Lê là bọn Nguyễn Đình Bài
cùng với gia đình của họ, gồm khoảng ngót 100 người trao trả cho quân đội
Tây Sơn. Đoàn sứ thần này được tiếp đón long trọng và ban thưởng rất hậu.
Cùng với những nỗ lực của Phúc Khang An, Thang Hùng Nghiệp ra sức dàn

Thăng Long cho nên không dám vào Phú Xuân theo lời mời của Quang
Trung. Sau đó, Nguyễn Huệ cho người giả làm Ông ra Thăng Long đón lệnh
tiếp đón sắc thư và bài thư ngự chế của vua Càn Long. Việc sắc phong cho
Quang Trung là một thắng lợi ngoại giao lớn của nhà Tây Sơn, nó chính thức
phủ nhận cơ sở pháp lý để tồn tại của nhà Lê và sự chính thống của nhà Tây
Sơn.
Vua Quang Trung giả sang nhà Thanh: Mùa xuân năm 1790, Phúc
Khang An giục Quang Trung sửa hành trang sang triều cận vua Thanh như
hẹn ước. Nhưng vua Quang Trung lấy cớ là mẹ chết, phải chịu tang, rồi xin
cho con là Quang Thuỳ đi thay. Phúc Khang An liền cho người sang Đại Việt
bảo cho vua Quang Trung biết rằng nếu không thể đi được thì nên tìm một
21
người có dung mạo giống nhà vua đi thay. Vì thế Phạm Công Trị đóng vai
Quang Trung giả rồi cùng “Ngô Văn Sở, Đặng Văn Chân, Phan Huy Ích, Vũ
Huy Tấn, Vũ Danh Tiêu, Nguyễn Tiến Lỗ, Đỗ Văn Công” [40, tr. 524] đem
theo đủ lễ vật và thêm hai thớt voi đực sang Yên Kinh dự lễ bát tuần thượng
thọ của vua Càn Long. Vua Quang Trung giả được đón tiếp trọng thể và ban
thưởng hậu hĩnh. “Trong lúc sứ bộ đang ở Yên Kinh thì bọn giặc biển đánh
phá miền duyên hải Trung Quốc giáp với nước ta. Tướng Trung Hoa là Trần
Diệu Cần nhờ viên biên tướng Việt Nam là Phạm Quang Chương giúp sức,
tiêu diệt được bọn giặc biển” [45, tr. 139]. Vì thế vua Càn Long đã ban
thưởng cho Quang Chương rất hậu hĩnh càng tỏ ra tin tưởng tấm lòng thành
thật của vua Quang Trung. Cuộc đón tiếp vua Quang Trung giả ấy “tốn tiền
bạc hơn cả quân phí một cuộc viễn chinh lớn” [30, tr. 50] đủ cho thấy thắng
lợi ngoại giao này rực rỡ như thế nào. Phái bộ này cũng có ảnh hưởng rất lớn
đến thái độ của nhà Thanh. “Tháng 4 năm Tân Hợi (1791), triều đình nhà
Thanh cho đem đày bọn cựu thần nhà Lê đi các nước. Còn Lê Chiêu Thống
và gia đình hắn bị giam lỏng tai “Tây An Nam dinh” trong kinh thành Yên
Kinh” [6, tr. 317]. Như vậy mưu đồ phục thù của bon xâm lược nhà Thanh bị
dẹp tan.

thời gian rảnh rỗi để nhòm ngó vào Bắc Hà. Quang Trung cũng liên kết với tổ
chức Thiên địa hội ở Tứ Xuyên. Tại vùng duyên hải Quảng Đông, Phúc Kiến
có lực lượng các toán nghĩa quân mà được biết dưới cái tên “giặc tàu ô”
tương đối quan trọng với hơn 100 chiến thuyền đã nhận được sự giúp đỡ và
ủng hộ của Quang Trung. Quang Trung đã phong cho 12 người thủ lĩnh của
họ làm tổng binh và ban bằng sắc, ấn tín Đại Việt cho họ. Những toán nghĩa
quân này đồng thời làm một lúc hai nhiệm vụ: đánh phá các miền duyên hải
Trung Quốc, giữ chân quân đội nhà Thanh không cho chúng xâm lấn Bắc Hà,
23
và tiến xuống vùng biển Bình Khang, Bình Thuận, hợp tác với quân đội
Nguyễn Nhạc đánh phá vùng duyên hải Gia Định.
Phát triển quan hệ thông thương, buôn bán cũng là một trong những mục
tiêu quan trọng của ngoại giao giai đoạn này nhằm phát triển kinh tế đất nước,
tăng thêm nội lực. Dưới thời trị vì của vua Quang Trung, quan hệ ngoại
thương với Trung Quốc là đáng kể và phát triển nhộn nhịp nhất. Ngày 4 tháng
12 năm 1789, trong đạo chỉ của Càn Long về việc thông thương với Đại Việt
nêu rõ: “Còn việc thông thương với An Nam, từ khi bị cấm đến nay, nước ấy
không có hàng hoá của nội địa. Những vật dụng hàng ngày của dân gian tất là
thiếu thốn. Nay nước ấy đã thành tâm quy phụ, giữ chức phiên bang, thì nhân
dân hạt ấy đều là xích tử của ta. Ta nên cho mở cảng thông thương, sớm ngày
nào thì dân được lợi ngày ấy. Vả lại, An Nam vừa bị nạn binh đao, làng mạc
tan nát, tài lực đều hết, lại càng phải kíp cho thông thương ngay, để hoá vật
chỗ này lưu thông sang chỗ khác, mà nhân dân được giàu có. Vậy chuẩn sức
cho Đốc phủ miền duyên hải cho mở các cửa cảng và cho thông thương như
trước” [dẫn theo 26, tr. 23]. Qua năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung sai
Võ Kỉnh Thành, Trần Ngọc Thuỷ sang triều đình nhà Thanh hiến thiệp, xin
mở cửa ải Bình Thuỷ ở Cao băng và Du Thôn ở Lạng Sơn để cho Bắc Nam
qua lại buôn bán với nhau được miễn thuế, lại xin lập nha hàng ở phủ Nam
Ninh tỉnh Quảng Tây để người Nam qua đó sinh sống, vua Càn Long đều
chấp thuận những điều này.

các quốc gia trong khu vực. Quan hệ giữa Đại Việt và các quốc gia trong khu
vực diễn ra từ rất lâu trong lịch sử như là một tất yếu khách quan dựa trên cơ
sở phát triển ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân. Suốt 1000 năm Bắc
thuộc, quan hệ giữa Đại Việt với các nước Đông Nam Á bị giảm sút hoặc
chấm dứt về mặt nhà nước nhưng quan hệ thương mại giữa nhân dân Đại Việt
25

Trích đoạn CHƯƠNG 4 ĐÍ ẠỀ ĐẠ TÂY S NT HI QUANG TRUNG - NGUY NHU ỄỆ VÀ NH NG TÁC Ữ ĐỘNG TI KHU V CỚ Ự ĐỤ ĐỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status