SKKN rèn chữ viết cho hs lớp 1 - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN KĨ NĂNG ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP MỘT
THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC
A. PHẦN MỞ ĐẦU:
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
- Trong quá trình giảng dạy học sinh ở các lớp tiểu học, nhiệm vụ
của người giáo viên là phải cung cấp, truyền đạt cho học sinh những kiến thức cơ
bản, cần thiết. Riêng lớp Một là đối tượng cần được quan tâm và chú ý nhất. Bỡi vì
khi vào học, đa số các em chỉ biết nói chứ không biết đọc, biết viết. Nên khi dạy
cho đối tượng nầy giáo viên cần xác định là phải dạy cái gì? Dạy như thế nào? Để
hết lớp Một các em đọc đúng chính âm, dọc đúng từ, câu, đoạn văn đoạn thơ và đọc
được cả bài văn, bài thơ.
- Xuất phát từ định hướng đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy
đồng thời coi trọng cả 4 kĩ năng của môn Tiếng Việt ( nghe, đọc, nói, viết ). Dựa
vào hai định hướng trên, giáo viên khối Một chúng tôi nghiên cứu và chú trọng hơn
ở 2 kĩ năng đọc và viết. Trong hai kĩ năng trên giáo viên khối Một đặc biệt quan tâm
ở kĩ năng đọc nhiều hơn. Vì sao? Vì các em có đọc đúng, chính âm, chính xác thì
mới viết đúng. Do đó, người thầy với vai trò là người cung cấp kiến thức chuyển
sang người tổ chức hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu và tiếp thu kiến thức cơ bản.
Trong đó việc dạy học sinh tập đọc là vấn đề chủ yếu, tạo sự chuyển biến mới cho
phù hợp với nội dung, chương trình và sách giáo khoa lớp Một . nhằm trang bị cho
học sinh vốn kiến thức Tiếng Việt đa dạng, phong phú làm hành trang cho các bậc
học cao hơn.
- Tuy nhiên trong giảng dạy vẫn còn một số bất cập giữa giáo viên
và học sinh cho nên hiện nay đến hết lớp Một vẫn còn một số học sinh đọc rất chậm,
muốn đọc phải đánh vần trước rồi mới đọc và đọc còn sai về cáh phát âm, ngừng
nghĩ không đúng chỗ, thậm chí vẫn còn một vài trường hợp khi học xong một bài
Tập đọc mà các em vẫn chưa đọc được… Đây chính là vấn đề lo lắng nhất của đội
ngũ giáo viên khối Một. Vì vậy nhằm nâng cao chất lượng dạy và học và để giúp
các em đọc được tốt hơn. Hôm nay tổ khối Một chọn chuyên đề “ Rèn kĩ năng đọc
cho học sinh lớp Một thông qua phân môn Tập đọc”.

và phong phú, có tính khoa học và nghệ thuật cao. Trong đó, dân bản nghệ thuật
chiếm 70%; nhằm đảm bảo mục đích dạy tiếng đồng thời với dạy văn, phát triển khả
năng giao tiếp kết hợp với bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, giáo dục đạo đức cho HS.
Cung cấp cho trẻ những hiểu biết cần thiết về thế giới các em đang sống. Giúp các
em đọc tốt các kiểu văn bản, mở rộng hiểu biết về thế giới tự nhiên, và học cách
giao tiếp với mọi người xung quanh.
- Ngồi các văn bản văn xuôi còn xen kẻ với văn vần chiếm tỉ lệ 60% đảm bảo
cho sự phát triển trí tuệ có phân tích và tư duy lôgic của trẻ. Các văn bản được
chọng thường là những trích đoạn trọn vẹn, được xếp theo trật tự từ ngắn đến dài, từ
đơn giản đến phức tạp, độ dài từ tuần đầu đến tuần cuối dao động khoảng 50 đến
100 từ.
- Ngồi các văn bản khoa học và nhật dụng còn một số văn bản mang tính hài
hước gây hứng thú cho trẻ khi đọc. Từ đó giúp trẻ sớm phát triển tính hài hước của
mình; ví dụ: Bài “ Vì bây giờ mẹ mới về”. Khi đọc bài nầy giúp các em hứng thú
luyện đọc phân vai ở các bài tập đọc sau.
Ơû học kì II sau tuần lễ 24, khi dạy phân môn Tập đọc, giáo viên phải rèn cả 4 kĩ
năng : nghe, nói, đọc, viết. Song để HS đọc thông viết thạo GV phải tập trung rèn 2
kĩ năng đọc và viết. Trong 2 kĩ năng đó, kĩ năng đọc lại được chú trọng nhiều hơn,
vì đây là giai đoạn quan trọng từ đánh vần chuyển sang đọc trơn từ – câu – đoạn và
cả văn bản; đây củng là bước ngoặc được mở ra để các em nhanh chóng đạt được
yêu cầu cơ bản: học tốt, đọc tốt.
II. NỘI DUNG GIẢNG DẠY:
- Trong thực tế cho thấy, khi lên lớp giảng dạy giáo viên đều có sự chuẩn bị
trước; từ khâu chuẩn bị đồ dùng dạy học đến kế hoạch bài học. Cách chuẩn bị bài
phù hợp với đặc điểm lao động của người GV; đây là điều kiện, là cơ sở để GV chủ
động linh hoạt khi tổ chức dạy cho HS đọc văn bản.
- Để HS có hứng thú trong học tập ở phân môn Tập đọc, mỡi GV cần nghiên
cứu kĩ mục tiêu, nội dung, yêu cầu của bài đọc, có định hướng trước nên đọc từ nào
và câu văn nào, đọc ngắt nghỉ ra sao, lấy hơi ngắn hay dài, từ nào cần nhấn
giọng…

4) Củng cố:
- Tìm tiếng có vần vừa học.
5) Nhận xét tiết.

Nghỉ chuyển tiết ( 10
/
)
Tóm lại: Ở tiết 1 GV có nhiệm vụ giúp HS đọc trơn tiếng, từ ngữ, câu, đoạn và cả
bài theo từng bước từ dễ đến khó. Đối với HS khá giỏi GV hướng dẫn cho HS đôc
lưu lót trôi chảy đoạn văn, thơ, bài văn, thơ.
µ Tiết 2
Ở tiết nầy, GV tiếp tục luyện đọc cho HS kết hợp với nhiệm vụ giúp HS
nhớ và hiểu nội dung bài học đồng thời trả lời các câu hỏi, trong quá trình hướng
dẫn cho HS luyện nói theo nội dung tranh có liên quan đến bài học. GV thực hiện
với nhiều thao tác tư duy, đây là sự khởi đầu nhận thức của các em, GV không nên
nôn nóng khi các em chưa kịp nhớ nội dung đã phải phân tích – tổng hợp – khái
quát hóa… các yếu tố trong bài để tìm ra ý nghĩa của bài.
Luyện đọc hiểu kết hợp chặt chẽ với luyện đọc nhiều lần văn bản, hay nói cách
khác trước khi hỏi về nội dung một câu, một đoạn văn ( thơ ) trong bài GV yêu cầu
các em đọc đi đoc lại câu văn, đoạn văn ( thơ )giúp cho tư duy các em mau chóng
nắm bắt kiến thức, hiểu được nội dung bài học.
Đối với HS yếu kém, GV nên dành thời gian cho phần luyện đọc, phần hỏi về nội
dung bài có thể thu lại hoặc lược bớt câu hỏi.
Sau bước tìm hiểu bài, GV yêu cầu HS đọc lại bài với yêu cầu cao hơn: Đọc đúng,
đọc chuẩn, đọc diễn cảm, đọc hay bai văn, bài thơ với nhiều hình thức thi đọc.
Riêng đối với HS lớp Một đọc diễn cảm chưa phải là yêu cầu bắt buộc, mà các em
chỉ có thể đọc được, đọc đúng,đọc chuẩn.
Đối với bài tập đọc là bài thơ thường có yêu cầu học thuộc lòng, nên GV có thể
hướng dẫn HS đọc thuộc tại lớp một đoạn hoặc cả bài với nhiều hình thức: thi đua,
nối tiếp, cá nhân, nhóm…để các em dễ dàng khắc sâu kiến thức đối với những em

. Qua thời gian giảng dạy tôi rút ra một số kinh nghiệm khi dạy phân môn tập đọc
cho HS lớp một như sau:
-Tiếng Việt là phương tiện giúp HS học tốt các môn học khác, vì vậy GV cần quan
tâm hướng dẫn các em học tốt môn học này. Đặc biệt là GV chú ý đến sự phát triển
tâm sinh lý của các em, ở tuổi mới vào lớp một các em thích chơi nhiều hơn học,
mỗi khi vào học các em thường có biểu hiện thiếu tập trung cho nhu cầu học tập. Do
đó trong mỗi tiết học GV nên thay đổi hình thức tổ chức học tập sau cho sinh động,
nhẹ nhàng , thoải mái để gây hứng thú và tạo sự chú ý cho các em.
-GV là người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập cho các em giúp các em
chiếm lĩnh tri thức bằng sự nổ lực phấn đấu của mình, trên cơ sở tích cực chủ động
sáng tạo nhạy bén tiếp thu kiến thức mớiGV không làm thay cho HS mà giúp các
em động não suy nghĩ đối với HS khá giỏi. Riêng đối với HS yếu hoặc có khiếm
khuyết trong cách phát âm, GV không nên nóng vội đặt yêu cầu quá cao mà phải
giúp các em luyện tập dần dần từ dễ đến khó,mặc khác, GV cần phát huy khen
thưởng kịp thời những tiến bộ của các em dù là rất nhỏ để tạo niềm tin vững chắc
mà phấn đấu vươn lên.
- GV cần quan tâm nhiều ở phần luyện đọc( vần, tiếng, từ, câu )mỗi HS điều được
đọc.)
-Tổ chức lớp học thật sự đồn kết, thống nhất giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ.
- Xây dựng mối quan hệ gần gũi giữa thầy và trò, thầy sẳn sàng chia sẻ với trò
những bức xúc, khó khăn trong học tập. Trò mạnh dạn trao đổi thông tin với thầy có
như vậy thì hiệu quả dạy và học không ngừng nâng cao.
Người thực hiện
Trần Thị Thanh Nguyên
Sáng kiến kinh nghiệm 2007 - 2008
MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TRÌNH
TRÌNH TRẠNG HỌC SINH YẾU KÉM
A. PHẦN MỞ ĐẦU.

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

1) Về phía giáo viên:
- Trong giảng dạy còn một số giáo viên chưa quan tâm đúng mức
đến đối tượng HS yếu kém, chưa theo dõi kịp thời những biểu hiện nhút nhát của
HS. Tốc độ dạy kiến thức mới quá nhanh và thời gian tổ chức cho HS thực hành
quá ít làm cho HS nhận thức không kịp.
- Sợ dạy không kịp chương trình bất kể bài dài hay ngắn, khó hay dễ,
cứ dạy theo số tiết đã được phân bố theo phân phối chương trình, mặc cho HS hiểu
hay không hiểu GV vẫn thực hiện cho đủ số tiết qui định để khỏi bị góp ý phê bình,
vì vậy HS chậm phát triển không nắm được kiến thức, lơ là rèn luyện kĩ năng.
- Chưa có kế hoạch phụ đạo học sinh yếu cụ thể cho từng nhóm đối
tượng, thực hiện phụ đạo còn chung chung.
2) Về phía phụ huynh:
- Do điều kiện hồn cảnh kinh tế gia đình khó khăn hoặc gia đình bị
rạn nức, bao nhiêu buồn phiền đổ trút về phía các em, thậm chí có những hành vi
đánh đập, chữi mắng làm cho các em thiếu tự tin, từ đó dẫn đến hậu quả học tập yếu
kém.
-Một số phụ huynh tuy có quan tâm nhưng quan tâm chưa đúng mức,
sợ con đến lớp làm bài điểm không cao hoặc không làm bài được đã tự ý làm bài
thay cho con trước ở nhà.
-Ngồi ra vẫn còn một số phụ huynh chưa thật sự quan tâm đến việc
học của con mình, chưa tạo điều kiện để các em đến lớp học tập vui vẻ, có những
em chưa có dụng cụ học tập hoặc có dụng cụ học tập nhưng không đầy đủ, từ đó
làm cho các em mặc cảm có chiều hướng chểnh mảng đến lớp. Mặc khác có những
phụ huynh khốn trắng cho nhà trường.
3) Về phía nhà trường:
-Hiện nay các phòng học nhà trường đã khang trang nhưng bàn ghế
học sinh đã bị xuống cấp nặng và không đúng qui cách nên ảnh hưởng rất lớn đến
chất lượng chữ viết của học sinh.
-Các văn bản hướng dẫn về chuyên môn và tài liệu tham khảo hiện
nay chỉ dành cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi, chưa có tài liệu nào đề cập đến việc

Trên cơ sở phân chia nhóm giáo viên lựa chọn phương pháp giảng dạy cho phù
hợp với từng nhóm đối tượng.
- Đối với những HS yếu, kém, khi giảng dạy giáo viên phải thường xuyên
theo dõi, kiểm tra kết quả học tập của các em, tìm hiểu cách suy nghĩ qua bài làm
của các em, không nên nôn nóng mà tùy tiện nâng cao yêu cầu bài học vượt quá khả
năng của các em.
- Có kế hoạch phụ đạo HS yếu trong các buổi phụ đạo cụ thể, chủ yếu là
ôn lại kiến thức đã học trên lớp mà các em chưa nắm được, phân tích cụ thể những
sai lầm mà các em mắc phải để các em khắc phục sửa sai.
- Tổ chức cho HS khá giỏi thường xuyên giúp đỡ HS yếu kém với nhiều
hình thức: Học nhóm ở trường , ở nhà, truy bài đầu giờ…
III. KẾT QUẢ:
Thực hiện theo phương chăm “ Tất cả vì đàn em thân yêu ” Tôi đã vận
dụng phương pháp phụ đạo HS yếu đạt kết quả tốt trong năm học 2007 – 2008 như
sau:
*Giữa học kì I:

Xếp loại
Môn
Tỉ lệ
Giỏi
Tỉ lệ
khá
Tỉ lệ
T. Bình
Tỉ lệ
Yếu
Tốn
Tiếng việt
* Cuối học kì I:

Môn
Tỉ lệ
Giỏi
Tỉ lệ
khá
Tỉ lệ
T. Bình
Tỉ lệ
Yếu
Tốn
Tiếng việt
C. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Qua thời gian giảng dạy và áp dụng các biện pháp nêu trên, tôi rút ra được một
số kinh nghiệm về công tác khắc phục trình trạng học sinh yếu, kém như sau:
-Mỗi giáo viên cần quan tâm đến việc tự học, tự bồi dưỡng nhằm nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân, thường xuyên trao dồi phẩm chất đạo
đức, lối sống làm tấm gương sang cho HS noi theo.
- Có tấm lòng vị tha độ lượng, yêu nghề mến trẻ gần gũi thương yêu chăm
sóc giúp đỡ HS.
-Thường xuyên theo dõi,kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS phân tích
tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu để lựa chọn phương pháp phụ đạo
phù hợp và tạo hứng thú học tập cho HS.
- Phân chia HS thành nhiều nhóm đối tượng cụ thể và lựa chọn phương pháp
giảng dạy cho phù hợp với từng nhóm đối tượng, lưu ý cho HS các kiến thức trọng
tâm của từng bài dạy, hướng dẫn HS làm bài tập cụ thể chú ý phát huy tính tích cực,
chủ động , sáng tạo của HS, có thể đưa thêm một số bài tập cùng thể loại, cùng mức
độ để rèn kĩ năng khắc sâu kiến thức cho HS, GV không làm thay.
-Ngồi giờ học chính khóa, GV cần có kế hoạch phụ đạo riêng cho các em học
yếu học trái buổi.
- Tổ chức cho học sinh tham gia học tốt với hình thức: “ đôi bạn cùng tiến ”,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status