NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
KINH DOANH NGOẠI HỐI
ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG
ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM
NHÓM: 1. Lê Hoàng Anh Thư
2. Nguyễn Thị Ngọc Tiền
3. Nguyễn Hoàng Vinh
4. Nguyễn Viết Dũng
5. Nguyễn Hữu Thiện Duyên
6. Nguyễn Thanh Chiến
LỚP: EC004_141_D01
TP HỒ CHÍ MINH
NĂM 2014
MỤC LỤC
Trang 2
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 : Phân loại cơ chế tỷ giá
Bảng 1.2 : Thay đổi biên độ giao dịch tỷ giá so với tỷ giá VND/USD được công bố trên
thị trường Liên ngân hàng
Bảng 3.1 : Mô tả biến giải thích sử dụng trong mô hình
Bảng 4.1 : Tỷ giá thực đa phương của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2012 với rổ tiền
tệ 10 quốc gia được chọn
Trang 3
PHẦN 1: GIỚI THIỆU
1. Đặt vấn đề:
Tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế và các quyết định
đầu tư. Đồng thời, tỷ giá hối đoái cũng là một trong những công cụ của chính sách tiền
tệ quốc gia mà Ngân hàng nhà nươc (NHNN) sử dụng để giúp nền kinh tế ổn định hơn
học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh. Đề tài khá bao quát cũng như đem đến một cái nhìn tổng
quan không chỉ về tỷ giá mà còn các nhân tố tác động đến tỷ giá và tác động của tỷ giá
đến lạm phát và cán cân thương mại. Phân tích định lượng chạy trên chương trình
eview, các số liệu khá sát thực tế. Đặc biệt, có phân tích đến yếu tố tâm lý hành vi
trong việc giải thích biến động của tỷ giá hối đoái của Việt Nam cho đến năm 2011. Đề
tài “Chênh lệch tỷ giá hối đoái thực đa phương và tỷ giá thực đa phương cân bằng của
Việt Nam” của TS.Hà Thị Thiều Dao và ThS.Phạm Thị Bình Minh. Đề tài này nghiên
cứu chuyên sâu với mục đích xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá thực đa
phương của Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn, từ đó xem xét diễn biến của tỷ giá
thực đa phương cân bằng trong dài hạn và xác định chênh lệch của tỷ giá hối đoái thực
đa phương so với mức cân bằng dài hạn cho đến quý III năm 2010. Với mục tiêu rõ
ràng chỉ tập trung vào nghiên cứu nhân tố tỷ giá thực đa phương, đề tài đã cung cấp
cho ta nhiều mô hình tác động tỷ giá và tìm ra được mô hình phù hợp với Việt Nam
cho đến quý III năm 2010. Đề tài “Sai lệch tỷ giá ở Việt Nam” do nhóm tác giả Vũ
Quốc Huy, Vũ Phạm Hải Đăng, Nguyễn Thị Thu Hằng thực hiện, cũng tính REER và
sử dụng nó làm tỷ giá đa phương, đồng thời áp dụng phương pháp BEER để ước lượng
tỷ giá cân bằng. Từ đó để tính mức độ sai lệch của tỷ giá cho đến năm 2010. Bài
nghiên cứu “ Lựa chọn chính sách tỷ giá trong bối cảnh phục hồi kinh tế” của nhóm tác
giả Nguyễn Thị Thu Hằng, Đinh Tuấn Minh, Tô Trung Thành, Lê Hồng Giang, Phạm
Trang 5
Văn Hà cũng áp dụng tính tỷ giá thực RE và REER để dự báo tỷ giá. Bài nghiên cứu
mang khá chi tiết về tỷ giá , xem xét về xu hướng tỷ giá trên thế giới từ đó đánh giá cơ
chế tỷ giá hiện tại của Việt Nam cho đến năm 2009.
Và một số đề tài có cùng phạm vi nghiên cứu khác như: “Thực trạng tỷ giá hối đoái
tại Việt Nam giai đoạn 2008 đến nay” – Đỗ Nguyễn Tấn Trường (2011); tiểu luận “
Những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái và tác động của tỷ giá hối đoái đối với
nền kinh tế” – Hà Thu Thủy ( 2006)… Tuy nhiên những đề tài này chỉ tìm hiểu về thực
trạng mà chưa có phân tích định lượng đối với các nhân tố tác động đến tỷ giá của Việt
Nam.
6. Tính mới và những đóng góp:
số phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ.
- Tỷ giá thực đa phương (Real Effective Exchange Rate – REER): Là tỷ giá danh
nghĩa đa phương đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát trong nước với tất cả các
nước còn lại, nó phản ánh sức mua của đồng nội tệ so với tất cả các đồng tiền còn
lại.
Ngoài ra còn nhiều cách phân loại khác , tùy vào các tiêu thức mà ta có cách phân
loại tỷ giá khác nhau.
1.3 Các chế độ tỷ giá:
Hiện nay theo IMF chế độ tỷ giá được phân thành:
Bảng 1.1 : Phân loại cơ chế tỷ giá:
Trang 7
Cơ chế tỷ giá
1.Không dùng đồng bản địa (no separate legal tender)
2.Neo cứng theo một đồng tiền mạnh (currency board)
3.Neo cố định (Conventional fixed peg arrangements)
4.Neo trong biên độ (pegged exchange rate within horizontal bands)
5.Neo tỷ giá có điều chỉnh (cawling peg)
6.Neo tỷ giá với biên độ điều chỉnh (crawling band)
7.Thả nổi có quản lý (managed floating)
8. Thả nổi hoàn toàn (independently floating)
Nguồn: IMF.
1.4 Ý nghĩa kinh tế của tỷ giá hối đoái:
- So sánh sức mua của các đồng tiền: Tỷ giá hối đoái phản ánh tương quan giá trị
giữa hai đồng tiền, thông qua đó có thể so sánh giá cả tại thị trường trong nước và
trên thế giới, đánh giá năng suất lao động, giá thành sản phẩm trong nước với các
nước khác.
- Vai trò kích thích và điều chỉnh xuất nhập khẩu: Thông qua cơ chế tỷ giá, chính phủ
sử dụng tỷ giá để tác động đến xuất nhập khẩu trong từng thời kỳ, khuyến khích
những ngành hàng, chủng loại hàng hóa tham gia hoạt động kinh tế đối ngoại, hạn
chế nhập khẩu nhằm thực hiện định hướng phát triển cho từng giai đoạn.
hai cấp. Đồng thời điểm nổi bật của giai đoạn này là tỷ giá hối đoái trên thị trường tự
do khác xa với thị trường chính thức do Ngân hàng nhà nước công bố, đặc biệt là
những năm 1989 – 1990. Chính vì vậy mà, đây được coi là thời kỳ “thả nổi tỷ giá” và
Nhà nước không có khả năng kiểm soát.
1.5.3 Thời kỳ 1992 – 1997 ( trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính – tiền
tệ khu vực)
Tỷ giá được ấn định và điều chỉnh gần như cố định để kiềm chế lạm phát, ổn định
thị trường tiền tệ và đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài.
Với việc đấu thầu tại trung tâm giao dịch ngoại tệ từ 10/1991 đến 31/12/1994, do
đó nội dung tỷ giá đã hàm chứa yếu tố cung – cầu ngoại tệ trên thị trường. Từ những
thành công của việc đưa tỷ giá ổn định cuối năm 1991 đầu năm 1992, gắn liền với
Trang 9
những thành tích của công cuộc chống lạm phát, cùng với nỗi ám ảnh về hậu quả của
lạm phát và nguy cơ tái lạm phát đã thúc đẩy các nhà hoạch định chính sách Việt Nam
chuyển sang lựa chọn chính sách tỷ giá vì mục tiêu chống lạm phát, bằng cách cố gắng
duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái danh nghĩa. Đặc điểm nổi bật là tỷ giá chính thức
theo sát giá cả thị trường tự do, Ngân hàng Nhà nước đã nỗ lực điều chỉnh để ổn định
tỷ giá trong giai đoạn này.
1.5.4 Thời kỳ 1997 đến nay
- Từ 1997 – 2/1999:
Đặc trưng cơ bản trong thời gian này là việc sử dụng tỷ giá chính thức và biên độ
dao động. Ban hành Nghị định 63/1998/NĐ-CP ngày 17/08/1998 về quản lý ngoại hối,
theo đó tỷ giá hối đoái của đồng Việt nam so với các ngoại tệ hình thành dựa trên cơ sở
cung – cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.
- Từ 3/1999 đến nay:
Từ đầu năm 1999, Ngân hàng Nhà nước đã chính thức bỏ cơ chế điều hành tỷ giá
theo kiểu bao cấp như trước đây thông qua việc công bố hai quyết định mới về tỷ giá là
Quyết định số 64/1999/NQ-NHNN7 về việc quy định nguyên tắc xác định tỷ giá mua
bán ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ. Đặc trưng cơ bản
của thời gian này là Ngân hàng Nhà nước bây giờ chỉ công bố tỷ giá theo giao dịch
khỏi ý chí chủ quan trong điều hành tỷ giá của NHNN.
+ Ngoài ra, NHNN còn sử dụng hệ thống các công cụ (trực tiếp và gián tiếp) để
tác động lên tỷ giá, như: trực tiếp mua vào và bán ra trên thị trường ngoại hối, sử dụng
biện pháp kết hối, tăng giảm lãi suất…
Bảng 1.2 : Thay đổi biên độ giao dịch tỷ giá so với tỷ giá VND/USD được công bố
trên thị trường Liên ngân hàng.
Ngà
y
1/7/
02
31/12/
06
12/12/
07
10/3/
08
27/06/
08
6/11/
08
24/3/
09
1/12/
09
11/2/
11
Biên
độ
±0.2
5%
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI.
Dựa vào một số tài liệu nghiên cứu về các nhân tố tác động đến tỷ giá đã được
công bố rộng rãi, ta có thể thấy rằng tỷ giá biến động rất nhanh và mạnh trong ngắn
hạn, nhưng lại có xu hướng biến động từ từ trong dài hạn. Các nhân tố tác động đến tỷ
giá bao gồm cả những nhân tố ngắn hạn; các nhân tố trung và dài hạn.
Khi phân tích các nhân tố nào đó ảnh hưởng đến tỷ giá, ta quy định là các nhân tố
khác không thay đổi và tỷ giá được yết theo kiểu trực tiếp.
2.1 Các nhân tố ngắn hạn
Những nhân tố biến động nhanh và tác động trực tiếp lên tỷ giá sẽ quyết định
xu hướng vận động của tỷ giá trong ngắn hạn.
2.1.1 Tương quan lãi suất giữa hai đồng tiền
a) Mức lãi suất của đồng ngoại tệ
Tại mỗi mức tỷ giá nhất định, khi lãi suất của ngoại tệ tăng, làm tăng lợi tức kỳ
vọng của tài sản ngoại tệ so với nội tệ, làm tăng cầu nắm giữ tài sản ngoại tệ, làm tỷ
giá tăng. Và ngược lại nếu lãi suất của ngoại tệ giảm sẽ dẫn đến tỷ giá giảm.
b) Lãi suất của đồng nội tệ
Tại một mức tỷ giá nhất định, khi lãi suất của nội tệ tăng, làm tăng lợi tức kỳ
vọng của tài sản nội tệ so với ngoại tệ, làm tăng cầu nắm giữ tài sản nội tệ, làm tỷ giá
giảm.Và ngược lại nếu lãi suất của nội tệ tăng sẽ dẫn đến tỷ giá tăng .
2.1.2 Thay đổi trong tỷ giá kỳ vọng
Sự kỳ vọng có ảnh hưởng đến biến động tỷ giá được đã được đề cập đến trong
nhiều nghiên cứu. Bắt đầu, từ học thuyết ngang giá sức mua (PPP) ta đã biết được
rằng: những kỳ vọng về tương quan lạm phát dựa 2 đồng tiền đã trở thành nhân tổ tác
động thay đổi tỷ giá kỳ vọng. Và đến 2 nghiên cứu của Rosenberg vào năm 2003 và
Murphy năm 2006, cho thấy ngưỡng chịu đựng rủi ro và kỳ vọng của nhà đầu tư đã ảnh
Trang 13
hưởng đến tỷ giá. Thật vậy, khi tỷ giá kỳ vọng tăng, làm mức thay đổi tỷ giá kỳ vọng
tăng, nghĩa là kỳ vọng đồng ngoại tệ lên giá, còn nội tệ giảm giá kỳ vọng, làm cho
luồng vốn đầu cơ chạy từ trong nước ra nước ngoài để đầu tư, dẫn đến cầu ngoại tệ trên
thị trường giao ngay tăng, làm tỷ giá giao ngay tăng. Như vậy, kỳ vọng về tỷ giá đã
- Khi tỷ lệ lạm phát trong nước tăng tương đối so với tỷ lệ lạm phát ở nước ngoài
làm cho giá hàng hóa trong nước đắt hơn tương đối so với giá cả hàng hóa nước ngoài.
Dẫn đến:
+ Cầu nhập khẩu hàng hóa đối với trong nước tăng, làm cầu ngoại tệ tăng; còn cầu
xuất khẩu hàng hóa đối với trong nước giảm, cung ngoại tệ giảm => nội tệ giảm giá, tỷ
giá tăng.
- Ngược lại, khi tỷ lệ lạm phát nước ngoài tăng tương đối so với tỷ lệ lạm phát trong
nước, làm cho giá hàng hóa trong nước rẻ hơn tương đối so với giá hàng hóa nước
ngoài.
+ Cầu nhập khẩu hàng hóa đối với trong nước giảm, cầu ngoại tệ giảm; cầu nhập
khẩu hàng hóa đối với trong nước tăng, cầu ngoại tệ tăng => nội tệ tăng giá, tỷ giá
giảm.
2.2.2 Độ mở của nền kinh tế
Ðộ mở nền kinh tế thể hiện cho chính sách ngoại thương của một nước. Khi chính
sách ngoại thương càng theo hướng tự do hóa, thì độ mở của nền kinh tế càng lớn. Độ
mở nền kinh tế có ảnh hưởng đến tỷ giá thực. Tuy nhiên vẫn còn nhiều ý kiến trái
chiều khi nói đến sự ảnh hưởng của nhân tố này.
- Theo Edwards (1994) và Elbadawi (1994), khi tự do hóa thương mại, thông qua
việc giảm các hạn ngạch và thuế quan trong nước thì tiêu dùng hàng nhập khẩu sẽ trở
nên rẻ hơn, làm người tiêu dùng trong nước có xu hướng thay thế hàng trong nước
sang hàng nước ngoài, làm xuất khẩu giảm và nhập khẩu tăng. Kết quả là tự do hóa
ngoại thương tăng sẽ làm tỷ giá tăng.
Trang 15
- Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại thấy mối quan hệ ngược chiều giữa độ mở
nền kinh tế với tỷ giá. Cụ thể:
+ Theo Connolly và Devereux (1995) đưa ra trường hợp độ mở nền kinh tế tăng do
giảm thuế xuất khẩu thì sẽ làm cho xuất khẩu ra nước ngoài tăng, cung ngoại tệ=> tỷ
giá sẽ giảm.
+Theo Fernandez (2006) và Miyajima (2007): nếu độ mở nền kinh tế tăng lên do
tăng trưởng kinh tế từ việc tăng hoạt động ngoại thương và cơ chế bảo hộ giảm thì tỷ
Tỷ giá hối đoái thực đa phương thực tế (REER) là một biến số quan trọng, nó
phản ứng tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả đồng tiền còn lại. REER cũng
chính là thước đo tổng hợp vị thế cạnh tranh thương mại của một nước so với tát cả các
nước bạn hàng còn lại. Vì vậy, nhóm nghiên cứu lựa chọn Biến nghiên cứu là REER,
thông qua việc:
- Xác định các nhân tố tác động đến tỷ giá thực đa phương của Việt Nam trong ngắn và
dài hạn.
- Dự báo sự thay đổi của tỷ giá hối đoái thực đa phương so với mức cân bằng dài
hạn
3.2 Lựa chọn mô hình nghiên cứu
3.2.1 Cơ sở của mô hình
Nhà nghiên cứu Edward (1988) đã đưa ra một mô hình điển hình được sử dụng
rộng rãi để ước lượng tỷ giá thực của các nền kinh tế đang phát triển:
REER= f (TOT, OPEN, GOVEX, PROD, CAPINF)
Trong đó:
+ TOT (terms of trade): những điều kiện thương mại
+ OPEN (the openness of the economy): độ mở của nền kinh tế
+GOVEX(public expenditure): chi tiêu công
+PROD (technical progress ): phát triển công nghệ
+ CAPINF(capital flows).: dòng lưu chuyển vốn.
Từ mô hình trên, những nghiên cứu của Elbadawi (1998) đã đưa ra những mô
hình mở rộng với những nhân tố thuộc chính sách thương mại như cán cân vãng lai,
Trang 18
cán cân vốn. Hay Montiel (1999) đã phân chia thành 4 nhóm có ảnh hưởng đến REER.
Là các nhân tố trong chính sách tài khóa, chính sách thương mại, điều kiện kinh tế
quốc tế và những yếu tố cung trong nước. Theo đó, tùy thuộc vào tình hình cụ thể của
mỗi nền kinh tế mà biến đại diện của mỗi nhóm có thể được lựa chọn. Như vậy, mô
hình mở rộng cho phép thấy được cụ thể những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái
thực cân bằng của một nền kinh tế đang phát triển (Noor và Mohammed, 2009).
Có thế thấy, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá thực đa phương của một
của Việt
% Chỉ số lạm
phát có điều
chỉnh GDP
2000-2012 +/- Ngân
hàng
Phát triển
Trang 19
Nam qua
các năm
(GDP
Deflator –
D)
Châu Á
(ADB)
netTB
Giá trị
xuất siêu
của Việt
Nam
Triệu
USD
Xuất khẩu-
Nhập khẩu
2000-2012 -
Ngân
hàng
Phát triển
Châu Á
(ADB)
năm
2000-2012 +
World
Bank
FDI
Đầu tư
trực tiếp
của nước
ngoài vào
Việt Nam
Triệu
USD
Chỉ số đầu
tư trực tiếp
trên BOP
2000-2012 -
World
Bank
Nguồn: Nhóm tự tổng hợp.
Với biến REER được tính toán theo công thức:, với:
+ là tỷ giá danh nghĩa giữa đồng tiền quốc gia thứ i với VND (VND luôn là
đồng định giá)
Trang 20
+ là chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam qua các năm (Từ năm 2000-2012, năm
2005= 100%)
+ : là chỉ số giá tiêu dùng trung bình của tất cả đồng tiền trong rỗ, được thu thập
số liệu của các quốc gia có giá trị thương mại lớn đối với Việt Nam bao gồm Trung
Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore, Thái Lan, Mỹ, Úc, Indonesia. Tỷ
trọng của các nước này chiếm hơn 65% giá trị thương mại hằng năm của Việt Nam
trong giai đoạn 2000 – 2012.
Obs*R-squared 12.94799 Probability 0.226594
Bây giờ ta tiếp tục xem xét các biến không có ý nghĩa thống kê là GDP và
INFLATION bằng kiểm định Wald, ta có kết quả như sau:
Wald Test:
Equation: Untitled
Test Statistic Value df Probability
F-statistic 1.692648 (2, 7) 0.2514
Chi-square 3.385295 2 0.1840
Kết quả kiểm định cho thấy prob(F-statistic)=0.2514>0.05 nên cả biến
INFLATION và GDP đều không cần thiết trong mô hình. Như vậy loại bỏ các biến
không có ý nghĩa thống kê, ta có kết quả hồi quy như sau:
Variable Coefficient Std. Error t-Statistic Prob.
C 4720.089 183.9436 25.66052 0.0000
NETTB -0.077491 0.022370 -3.464049 0.0071
RESERVE 0.079082 0.023866 3.313557 0.0090
FDI -0.371281 0.061791 -6.008681 0.0002
R-squared 0.820036 Mean dependent var 4552.302
Adjusted R-squared 0.760048 S.D. dependent var 679.1834
S.E. of regression 332.6973 Akaike info criterion 14.70000
Sum squared resid 996187.7 Schwarz criterion 14.87383
Log likelihood -91.55002 F-statistic 13.67000
Durbin-Watson stat 0.902658 Prob(F-statistic) 0.001063
Trang 23
Như vậy từ mô hình cho thấy, mô hình có độ phù hợp cao, giải thích được 76%
sự biến động của REER. Cụ thể FDI có sự tác động mạnh nhất đến sự thay đổi của
REER, 1% thay đổi của RESERVE làm REER biến đổi ngược chiều và thay đổi
0.37%. Trong khi đó NETTB và FDI biến động lần lượt ngược và cùng chiều đến sự
thay đổi của REER.
Tiếp theo chúng ta sẽ xem xét cụ thể tác động của các yếu tố:
- Thứ nhât, là về nhân tố NETTB - giá trị xuất siêu của Việt Nam: theo mô hình
- - Một nguyên nhân khác xuất phát từ nhóm là do quá trình xử lý số liệu của
nhóm. Việc không thu thập được các số liệu lạm phát và GDP theo tháng nên
nhóm lấy trung bình của lạm phát và GDP thực theo năm có thể làm cho sai số
hệ thống trong các nhiễu, gây nên hiện tượng tự tương quan và phương sai thay
đổi.
Trong quá trình tính toán nhóm cũng tính được tỷ giá thực đa phương qua các năm
như sau:
Bảng 4.1: Tỷ giá thực đa phương của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2012 với
rổ tiền tệ 10 quốc gia được chọn
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
REER 4003 4281 4914 5520 5365 5149 5296 5051 4316 3889 3979 3819 3597
Bảng trên cho thấy sự xuống giá của VND trong giai đoạn năm 2000-2012. Giá
trị của VND so với năm 2000 bắt đầu lên giá cho đến thời điểm cuối năm 2005.
Biến động này cũng tương tự với sự biến động của tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ
lệ lạm phát trong khoảng thời gian này (số liệu trong file đính kèm: số kiệu mô
hình). Tiếp đến, từ năm 2006 đến 2012, mức thay đổi trong REER chuyển từ
dương sang âm thể hiện VND trong tương quan so sánh với các đối tác ngoại
thương chính đã bị đánh giá cao so với giai đoạn trước, trong khi tỷ giá danh nghĩa
lại ngày càng tăng. Điều này càng nói lên một thực tế, tỷ giá REER Việt Nam đang
định giá quá cao, rất đễ dẫn đến hiện tượng tấn công tiền tệ vào đồng Việt Nam.
Trang 25