Đề tài: Công tác tuyên truyền quảng bá du lịch cho thị trường khách du
lịch quốc tế trọng điểm tại khu du lịch sinh thái Tràng An (Ninh Bình).
MỤC LỤC
1
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Du lịch hiện nay đã được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn trong quá
trình phát triển của Việt Nam. Hoạt động du lịch có mức tăng trưởng khá cao và
ngày một đóng góp nhiều hơn trong nền kinh tế quốc dân với số lượng khách du
lịch quốc tế, thu nhập du lịch không ngừng gia tăng. Tràng An là một khu du
lịch sinh thái nằm trong Quần thể di sản thế giới Tràng An thuộc tỉnh Ninh Bình.
Nơi đây đã được Chính phủ Việt Nam xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt quan
trọng và UNESCO công nhận là di sản thế giới kép từ năm 2014. Tràng An được
tôn vinh tại UNESCO đã giúp cho du lịch Tràng An được quảng bá nhiều hơn
trên thế giới thông qua nhiều kênh khác nhau,điều này mang lại hiệu ứng rất tốt
cho việc tuyên truyền quảng bá du lịch và sẽ thu hút thêm một lượng lớn khách
du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế đến với Tràng An nói riêng và Ninh
Bình nói chung.
Tuy nhiên bên cạnh đó cũng tồn tại nhiều thách thức lớn cần được giải
quyết. Hiện nay, Tràng An đã trở thành điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách,
đặc biệt là du khách nước ngoài, nhưng so với nhiều điểm du lịch nổi tiếng trên
thế giới thì vẫn thua kém về mọi phương diện. Cơ sở vật chất kĩ thuật còn hạn
chế và quá ít, không đủ đáp ứng nhu cầu của du khách. Sản phẩm du lịch chưa
đa dạng, các loại hình dịch vụ bổ sung còn ít. Về cơ chế, chính sách phát triển
du lịch vẫn chưa đạt được hiệu quả thực sự, môi trường du lịch còn chưa đảm
bảo an ninh an toàn, văn minh, tệ nạn cướp giật, chèo kéo, lừa đảo du khách vẫn
là điểm nóng chưa dễ triệt tiêu, tình trạng giao thông vẫn là nỗi lo sợ của du
khách quốc tế. Bên cạnh đó, những trở ngại về kinh tế, chính trị cũng như biến
đổi thời tiết khí hậu trên toàn thế giới đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát
triển du lịch cho các nước, cho quyết định đi du lịch, các xu hướng của các thị
trường khách khác nhau tạo ra những biến đổi và khó khăn trong quá trình khai
3
Thị trường là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặc tiền
tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩm nhất
định theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả cần thiết
của sản phẩm, dịch vụ. Thực chất, thị trường là tổng thể các khách hàng tiềm
năng cùng có một yêu cầu cụ thể nhưng chưa được đáp ứng và có khả năng tham
gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu đó.
Thị trường là một tập hợp những người mua và người bán tác động qua lại
lẫn nhau, dẫn đến khả năng trao đổi.
Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán một thứ hàng hóa nhất
định nào đó. Với nghĩa này, có thị trường gạo, thị trường cà phê, thị
trường chứng khoán, thị trường vốn, v.v Cũng có một nghĩa hẹp khác của thị
trường là một nơi nhất định nào đó, tại đó diễn ra các hoạt động mua bán hàng
hóa và dịch vụ. Với nghĩa này, có thị trường Hà Nội, thị trường miền Trung.
1.1.1.2. Khái niệm thị trường du lịch
Thị trường du lịch là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa
người với người trong quá trình trao đổi, mua bán hàng hoá dịch vụ du lịch dưới
tác động của các quy luật thị trường.
1.1.2. Thị trường du lịch trọng điểm
Thị trường du lịch trọng điểm là thị trường du lịch có ý nghĩa và vai trò
vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của du lịch. Thị trường du lịch trọng
điểm là thị trường khách du lịch phát triển cả về số lượng và chất lượng, với sức
tiêu thụ lớn, đẩy mạnh sự phát triển của du lịch.
1.2. Một số vấn đề lý luận công tác tuyên truyền quảng bá du lịch
1.2.1. Một số khái niệm
Tuyên truyền là hành động truyền bá thông tin với mục đích đưa đẩy thái
độ, suy nghĩ, tâm lý và ý kiến của quần chúng theo chiều hướng có lợi cho một
phong trào hay tập đoàn, thường lồng sau mục tiêu chính trị. Như vậy, tuyên
truyền là giải thích rộng rãi để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ và làm
theo.
Công tác tuyên truyền quảng bá du lịch đóng vai trò vô cùng quan trọng
trong việc nâng cao nhận thức của họ về du lịch, thấy được tầm quan trọng của
du lịch, hơn nữa còn nâng cao lòng mến khách, bảo vệ môi trường và cảnh quan
thiên nhiên.
Đối với doanh nghiệp:
Lợi nhuận chính là một trong những mục tiêu hàng đầu, và việc thu hút
một số lượng khách lớn sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp trong điều kiện
cạnh tranh gay gắt hiện nay là điều vô cùng khó khăn. Cùng với đó, việc xây
dựng thương hiệu cho các sản phẩm cũng luôn là điều đáng được quan tâm,
nhằm tạo sự tin tưởng vào việc sử dụng những sản phẩm do doanh nghiệp tạo ra
cho khách du lịch. Tuyên truyền quảng bá du lịch cũng là cách để các doanh
nghiệp thu hút vốn đầu tư từ những cơ quan, tổ chức trong nước và nước ngoài,
để mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động của doanh nghiệp. Cũng như vậy, các
nhà đầu tư sẽ có thể nhận thấy được nhiều tiềm năng, hay cơ hội kinh doanh du
lịch mang lại lợi nhuận cho họ. Do đó, công tác tuyên truyền quảng bá du lịch là
thực sự cần thiết.
1.2.2.2. Ý nghĩa của công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch:
Về kinh tế:
Du lịch là một ngành kinh tế có doanh thu cao trong số ít ngành kinh tế
mũi nhọn của một quốc gia.Việt Nam là một đất nước nhỏ bé,tuy có nhiều tiềm
năng hấp dẫn khách du lịch cũng như có tiềm lực tổ chức du lịch đáng tin
cậy,nhưng đất nước này lại vừa thoát qua cuộc chiến tranh khốc liệt, cho nên ít
người biết đến những tiềm năng, tiềm lực này.Do vậy, việc tuyên truyền quảng
bá du lịch Việt Nam có tầm quan trọng khá to lớn đối với du lịch nói riêng và
nền kinh tế Việt Nam nói chung: vừa giúp cho mọi người ở trong và ngoài nước
biết đến tiềm năng của du lịch Việt Nam mà quyết định thực hiện chuyến du
lịch, vừa góp phần đưa kinh tế Việt Nam từng bước phát triển. Các lợi ích kinh
tế mang lại từ du lịch là điều không thể phủ nhận, thông qua việc tiêu dùng của
du khách đối với các sản phẩm của du lịch. Nhu cầu của du khách bên cạnh việc
6
người tăng lên đáng kể cả về giáo dục, y tế Các vấn nạn xã hội ít nhiều đã
được bài trừ, an ninh an toàn được đề cao, đảm bảo cuộc sống hòa bình của con
người.
1.2.3. Các nội dung của công tác tuyên truyền quảng bá du lịch
Một là, phát triển và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch thỏa mãn
nhu cầu của khách du lịch. Đây là yếu tố quan trọng nhất trong việc đẩy mạnh
công tác tuyên truyền quảng bá du lịch, bởi sản phẩm thực sự có chất lượng thì
mới đảm bảo công tác tuyên truyền quảng bá có tính chọn lọc, tính chân thực
cao, lại độc đáo và ấn tượng, tạo những điều mới lạ, sự tin tưởng tuyệt đối cho
khách du lịch, cũng như tính liên tục và tính kinh tế.
Hai là, tập trung tuyên truyền quảng bá về giới thiệu hình ảnh, đất nước,
con người Việt Nam, giới thiệu những giá trị đặc sắc về văn hóa, danh lam thắng
cảnh của Việt Nam. Từ đó, nâng cao nhận thức của các ngành, địa phương và
toàn thể xã hội về du lịch, đưa du lịch trở thành sự nghiệp của toàn dân, nâng
cao hình ảnh của Việt Nam nói chung và du lịch nói riêng trong khu vực và thế
giới. Hơn nữa cần tuyên truyền về pháp luật và các vấn đề môi trường, phát triển
các chương trình giáo dục toàn dân về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi
trường nhằm phát triển môi trường du lịch bền vững.
Ba là, mở rộng hình thức tuyên truyền quảng bá du lịch thông qua các hội
chợ du lịch, các chiến dịch phát động thị trường, road show, các chuyến khảo
sát; các sự kiện ngày văn hóa Việt Nam tại nước ngoài, các sự kiện lễ hội trong
và ngoài nước; phát hành các ấn phẩm, tờ gấp, bản đồ du lịch, quảng cáo trên
kênh truyền hình CNN, Discovery cũng như các phương tiện truyền thông đại
chúng trong nước như Báo du lịch, Tạp chí du lịch, Trung tâm thông tin du lịch,
Truyền hình du lịch.
Bốn là, tập trung vào những chiến lược, định hướng và quy hoạch… nhằm
phát triển kinh tế du lịch các tỉnh, các địa phương; quyết tâm phát triển du lịch
của Nhà nước. Nâng cao nhận thức của các Bộ, cơ quan trung ương địa phương,
các tổ chức, doanh nghiệp và người dân trong cả nước về vai trò quan trọng của
công tác tuyên truyền quảng bá du lịch. Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các
9
lượng khách đến Việt Nam nhiều nhất trong kỳ, vẫn theo Tồng cục thống kê.
Tính chung 12 tháng năm 2013, lượng khách quốc tế ước đạt 7.572.352 lượt,
tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2012. Việt Nam đón 1,9 triệu lượt khách từ
Trung Quốc (tăng 33,5% so với 2012), 747 nghìn lượt khách từ Hàn Quốc (tăng
6,8%), 604,1 nghìn khách từ Nhật Bản (tăng 4,8%). Có sự giảm sút về lượng
khách quốc tế đến đến từ một số thị trường như Mỹ (432,2 nghìn lượt, giảm
2,6% so với 2012), Đài Loan (399 nghìn lượt, giảm 2,5%), và Pháp (209,9 nghìn
lượt, giảm 4,4%). Sau đây là số liệu cụ thể về lượng khách du lịch của một số thị
trường đến Việt Nam trong tháng 12 năm 2013 và trong cả năm 2013.
10
Bảng: Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam năm 2013
Chỉ tiêu
Ước tính
tháng
12/2013
12 tháng
năm 2013
Tháng
12/2013
so với
tháng
trước (%)
Tháng
12/2013
so với
tháng
12/2012
12 tháng
2013 so với
quốc tế đến Việt Nam do nhiều nguyên nhân.
Trước tiên đó là chính sách của Đảng và Nhà nước ta từ sau khi bình
thường hóa quan hệ với Trung Quốc đã có nhiều thay đổi. Năm 1996 ta mở thêm
một số cửa khẩu ở vùng biên giới cho khách Trung Quốc vào Việt Nam bằng
giấy thông hành, cùng với sự nối lại hoạt động của tuyến đường sắt Việt – Trung
đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc qua lại giữa hai nước. Năm 1998, Nhà nước
ta cho phép mười ba công ty lữ hành ở Hà Nội và bảy công ty ở cửa khẩu biên
giới được đón khách du lihcj Trung Quốc vào Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long
bằng thẻ du lịch.
So với các nước lân cận Trung Quốc như Thái Lan, Singapore, giá cả dịch
vụ ở Việt Nam vẫn rẻ hơn, nên giá các chương trình du lịch, cũng như các sản
phẩm du lịch rẻ hơn, phù hợp khả năng thanh toán của người Trung Quốc. Việt
Nam còn có nhiều tài nguyên du lịch độc đáo và hấp dẫn không chỉ riêng với
khách Trung Quốc mà còn với cả khách du lịch của nhiều nước trên thế giới.
Ngoài ra có thể kể đến nhiều nguyên nhân khiến người Trung Quốc sang
Việt Nam như nước ta chịu nhiều ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa từ rất
lâu đời, tình hình an ninh – chính trị của nước ta những năm gần đây khá ổn
định, người Việt Nam nhiệt tình, mến khách.
• Sở thích và thói quen tiêu dùng của khách du lịch Trung Quốc
Trung Quốc là đất nước rộng lớn, đông dân, có nhiều vùng sinh thái khác
nhau và đặc điểm dân cư khác nhau, tuy nhiên người Trung Quốc có điểm giống
với người Việt Nam là họ ưa nhẹ nhàng, tình cảm, không sòng phẳng như người
phương Tây. Họ khá thoải mái về thời gian, họ không phải luôn đúng giờ, tuy
nhiên lại rất coi trọng những người đúng giờ. Họ rất coi trọng tình bạn và có tinh
thần tập thể, tinh thần dân tộc cao. Họ thường có vẻ hay khiêm tốn, nhún
12
nhường và kín đáo, thường không đáp lại những lời tán dương, khen ngợi bằng
câu “cám ơn” hay câu tương tự mà sẽ không dám nhận hay tỏ vẻ nhún nhường.
Khi gặp nhau, người Trung Quốc thường khom mình hoặc cúi đầu để
chào hỏi hoặc có thể bắt tay nhau. Người Trung Quốc cúi mình chào mà không
mệt nhọc trên những tuyến đường xa và xóc. Du khách nước ngoài, trong đó có
khách Trung Quốc luôn phàn nàn về tình trạng đường xá ở Việt Nam, nhiều
tuyến đường xấu và nguy hiểm, ách tắc giao thông xảy ra thường xuyên làm cho
họ thấy khó chịu rất nhiều.
-Về lưu trú và ăn uống:
+ Lưu trú: Họ thường chỉ ở khách sạn 2 đến 3 sao. Trong khách sạn phải
luôn có nước nóng để tắm và phục vụ nhiều nhu cầu khác như uống trà (đây là
thói quen của người Trung Quốc)
Đa số người Trung Quốc hút thuốc vì vậy phòng của họ nên có bật lửa,
bao diêm và gạt tàn. Họ thích ở những phòng có trải thảm vì như vậy khiến họ
cảm thấy căn phòng sang trọng hơn, tuy nhiên họ cũng thường hay ném tàn
thuốc đang cháy xuống sàn nên khách sạn cần chú ý sử dụng loại thảm sao cho
hợp lý, đảm bảo an toàn và lịch sự.
Người Trung Quốc thích ngủ giường rộng, màn tròn, nơi thoáng khí.
Trong một ngày, vào buổi sáng họ thường ngủ dậy muộn, ít khi hoạt động trước
8 giờ sáng, buổi trưa có giờ nghỉ trưa, buổi tối họ thường thích gội đầu sau khi
ăn uống xong, và họ hay đi ngủ muộn.
+ Ăn: Trung Quốc là đất nước có nền văn hóa lâu đời nên ăn uống được
coi như một nghệ thuật. Có nhiều món ăn khác nhau điển hình cho các dân tộc
khác nhau. Các món ăn được nấu nướng rất cầu kỳ với đủ loại gia vị, chính điều
đó tạo nên nét hương vị rất riêng của món ăn Trung Quốc.
Họ không thích ăn sống, không ăn đồ chấm, không thích dùng nước mắm
mà dùng xì dầu với ớt và tỏi; họ thích ăn nóng, không thích đồ nguội, không
thích hoa quả ngọt hay quá chua. Bữa ăn của họ tối thiểu phải có 4 món: thịt, cá,
canh, rau Người miền Nam ăn canh trước, người miền Bắc cuối cùng mới ăn
canh. Khi ăn mỗi người cần có một bát cá nhân đựng gia vị, ớt, tỏi, xì dầu và rất
thích những bữa ăn có hạt điều.
14
Người Trung Quốc trước đây hay ăn mì chính nhưng hiện nay họ không
ăn mì chính nữa, vì vậy cần chú ý đến điều này trong những bữa ăn của họ. Họ
các danh lam thắng cảnh, di sản văn hóa
-Mua sắm
Sang Việt Nam người Trung Quốc thích mua những thứ trái cây nhiệt đới.
Phụ nữ thích mua nón lá, áo dài Việt Nam bằng lụa tơ tằm. Họ thích mua những
hàng mỹ nghệ truyền thống của làng nghề Việt Nam. Họ rất tiết kiệm trong chi
tiêu nên hay mặc cả để được mua rẻ.
Trung Quốc là một nước châu Á, chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa
phương Đông, cho nên nhìn chung họ có nhiều nét tương đồng với người Việt
Nam, rất gần gũi với người dân Việt Nam. Trong đời sống thường ngày cũng
như đi du lịch họ có những nhu cầu, cách ứng xử cũng gần như người Việt Nam.
Đây là thuận lợi lớn cho các nhà kinh doanh du lịch vì biết khách Trung Quốc
cần gì, muốn gì và dễ dàng thỏa mãn những nhu cầu của họ.
Thị trường khách du lịch Nhật Bản
• Nguyên nhân khách Nhật Bản đến Việt Nam
Nhật Bản có vị trí gần Việt Nam, vì là một quốc đảo nên không có đường
biên giới trên bộ, giao thông với bên ngoài chỉ qua đường biển và đường hàng
không. Vì vậy du khách Nhật đặc biệt coi trọng vấn đề an toàn giao thông. Hiện
nay, hàng hàng không quốc gia Việt Nam và hãng hàng không Nhật Japan
Airlines đã mở các đường bay thẳng từ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đến
các thành phố lớn của Nhật như: Tokyo, Osaka, Fukuoka, Kanagawa, Aichi,
Chiba, Saitama, Hyogo, Shizouka, Kyoto, Hokaido, Ibaraki, Hiroshima, Gifu,
Nara, Nagano Du lịch Việt Nam cần đẩy mạnh hợp tác với các hãng hàng
không này để tăng tần suất các chuyến bay và phối hợp tuyên truyền quảng bá.
Giống như nhiều thị trường khách du lịch quốc tế khác, với mong muốn
được hưởng những chuyến du lịch chất lượng tốt nhất, thỏa mãn nhất mà chi phí
du lịch, cũng như giá thành sản phẩm rẻ, đến Việt Nam là sự lựa chọn hoàn hảo
đối với du khách Nhật Bản. Họ đặc biệt ưa thích những sản phẩm thủ công mỹ
nghệ như gốm sứ, sơn mài và mây tre đan vì vừa đẹp vừa có giá cả phù hợp.
16
Phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, đa dạng và hấp dẫn. Nhiều món ăn đặc
phải có bồn tắm. Tuy nhiên họ thích ở tại các khách sạn nào có đủ dịch vụ cần
thiết hơn là tại các khách sạn trang trọng, uy tín và đắt.Tầng một và hai tầng ở
trên cùng của loại khách sạn cao tầng thường không thích hợp với người Nhật vì
lí do an toàn. Trước khi đi du lịch nước ngoài họ được đến các phòng tư vấn về
an ninh đảm bảo sự an toàn tính mạng và tài sản của họ. Trong ăn uống, người
Nhật thích các món Pháp và rượu Pháp.
Người Nhật thường chọn nơi du lịch có nắng, cảnh sắc hấp dẫn, nước biển
trong xanh, cát trắng, có thể tắm được quanh năm, quen với phương tiện sinh
hoạt hiện đại và thuận lợi. Họ thích các di tích cổ, các danh lam thắng cảnh ở
Việt Nam. Tuy khép kín nhưng họ cũng thích những lễ hội, các hoạt động tập
thể, những hoạt động trình diễn văn hóa ngoài trời sẽ tạo cho họ cảm giác thoải
mái và vui vẻ.
Khách du lịch ở độ tuổi thanh niên thích phiêu lưu mạo hiểm. Khách du
lịch là thương gia đòi hỏi tính chính xác rất cao, do đó về thời gian, địa điểm
đưa đón, chủng loại phương tiện, người điều khiển, chương trình làm việc, nội
dung và con người khi cùng làm việc với họ phải luôn chính xác và rõ ràng.
Khách nữ độc thân thích hoạt động mua sắm và ẩm thực cao nhiều hơn so
với các thị trường khác, ngoài ra còn có thích tham quan bảo tàng rất nhiều,
khác hẳn so với các thị trường khác. Hoạt động mua sắm được người Nhật
hưởng ứng đông đảo, kể cả nam và nữ, chỉ có khách đứng tuổi ít sử dụng hơn.
Khách trung niên nam nữ đứng tuổi lại có sở thích gần hơn là thích thăm thú di
tích lịch sử và nghỉ dưỡng nhiều hơn.
Họ thường sử dụng dịch vụ có thứ hạng cao, các dịch vụ thấp kém sẽ làm
hạ thấp uy tín của họ, và là sự dỉ nhục đối với công ty mà họ đại diện; khi có
thời gian rỗi họ thích đi dạo phố phường Nhìn chung người Nhật ít kêu ca,
phàn nàn, ít nổi nóng, khéo léo trong đối nhân xử thế nhưng lại có yêu cầu quá
khắt khe về chất lượng sản phẩm dịch vụ.
Khách du lịch Nhật hầu như đều bắt buộc phải mua quà lưu niệm vì
phong tục tập quán của người Nhật.
18
kết đầu tư vốn vào việc xây dựng và phát triển kinh tế ở Việt Nam trong giai
đoạn mở cửa.
Việt Nam và Hàn Quốc cũng đã và đang có nhiều hoạt động quảng bá
hình ảnh của đất nước mình. Việt Nam đang được nhiều người Hàn Quốc, trong
đó có giới trẻ rất muốn biết đến và tới thăm. Du lịch Việt Nam là một trong
những lĩnh vực được quảng bá nhiều nhất ở đất nước bạn. Cũng trong năm 2002,
trong khuôn khổ các hoạt động kỉ niệm 10 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt
Nam – Hàn Quốc, tại Seoul và Pusan, đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc, Tổng
cục Du lịch Việt Nam và tổng công ty Hàng không Việt Nam đã giới thiệu với
các nhà kinh doanh lữ hành, giới báo chí truyền thông và bạn bè Hàn Quốc tiềm
năng to lớn của ngành du lịch nước nhà; quảng bá hình ảnh văn hóa Việt Nam
mà trước hết là văn hóa ẩm thực và nghệ thuật múa rối nước
Việt Nam chính thức miễn visa cho người Hàn Quốc khi vào Việt Nam
(01/09/2004), đây là điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch Việt Nam, mở ra một
triển vọng mới đối với khách du lịch Hàn Quốc, khiến cho lượng khách Hàn
Quốc tăng lên đáng kể. Chúng ta cũng đã khai thác được nhiều đường bay thẳng
từ Hàn Quốc – Việt Nam và ngược lại. Trong đó có các đường bay thẳng quan
trọng từ Pusan và Seoul đến Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với tần suất một
ngày có ít nhất 1 – 2 chuyến (Theo báo tuổi trẻ, số ra 07/09/2004). Hiện nay có 3
hãng hàng không: Korean Air, Asiana và Vietnam Airlines. Đặc biệt hơn nữa, ở
phía Hàn Quốc các hãng hàng không thường kết hợp với ngành du lịch để quảng
bá sản phẩm, trong đó có cả du lịch Việt Nam. Đây là nguyên nhân khách quan
nhưng vô cùng quan trọng giúp hình ảnh Việt Nam được đông đảo người dân
Hàn Quốc biết đến.
• Sở thích và thói quen tiêu dùng của người Hàn Quốc
Người Hàn Quốc sống tương đối dễ gần, đặc biệt giới trẻ Hàn Quốc khá
thân thiện, ham thích đi du lịch và tiếp xúc với mọi người. Khi đi du lịch Việt
Nam họ thường tỏ ra kín đáo và lễ nghi khó tiếp xúc. Tuy nhiên càng giao tiếp
càng thấy họ tế nhị, dễ gần, lịch sự, nhất là giới trẻ khá cởi mở.
20
21
sắm. Do đó việc tìm hiểu và nắm bắt tâm lý tiêu dùng của họ sẽ giúp ngành du
lichhj khai thác có hiệu quả thị trường đầy tiềm năng này.
Thị trường khách Mỹ: Sở thích và thói quen tiêu dùng của người Mỹ
Khi đi du lịch, người Mỹ thường quan tâm nhiều đến điều kiện an ninh,
trật tự ở nơi du lịch. Kể từ sau vụ khủng bố kinh hoàng 11/9/2001, người dân
Mỹ thường có khuynh hướng tìm đến những quốc gia có nền chính trị ổn định,
mặc dù họ vốn ưa thích mạo hiểm, phiêu lưu nhưng với tình hình chính trị bất
ổn hiện nay thì họ có xu hướng chuyển dần lịch trình du lịch của mình từ các
nước châu Âu sang châu Á, Việt Nam cũng là một trong những lựa chọn lý
tưởng cho khách du lịch Mỹ.
Người Mỹ sống thoáng, không kiểu cách, không cầu kì hoa mỹ, họ thích
sống tự lập, không dựa dẫm vào bạn bè hay người thân. Ở nơi ít người cũng như
nhiều người thì cách ứng xử của họ đều rất thoải mái, thân thiện, nhiệt tình và
rất lịch sự. Khi giao tiếp, họ thường bắt tay, hoặc hôn lên má để thể hiện tình
cảm, rất ít khi giấu giếm cảm xúc, do đó họ có thể hôn nhau ở bất cứ đâu.
Người Mỹ thường đặt ra yêu cầu cao về cơ sở vật chất kĩ thuật chất lượng
phục vụ của điểm đến. Họ có thu nhập cao và khả năng chi trả rất lớn, do đó
thường đòi hỏi từ phía các công ty du lịch những dịch vụ tốt nhất. Đến Việt
Nam, họ thường yêu cầu phải được ở khách sạn 5 sao, ít cũng là 4 sao. Xuất
phát từ đặc tính là người tiết kiệm, có đầu óc thực tế nên họ luôn cho rằng số
tiền mà mình bỏ ra phải tương ứng với những gì mà họ được hưởng. Yêu cầu về
chất lượng nhân viên phục vụ cũng phải được đảm bảo. Trước khi đi du lịch họ
tìm hiểu đầy đủ thông tin về đặc điểm của nơi đến, trong lúc tham quan cũng sẽ
đặt ra nhiều câu hỏi cho hướng dẫn viên, nếu kiến thức hướng dẫn viên không
đủ rộng và sâu đủ để thỏa mãn những thắc mắc của họ hay tệ hơn là trả lời sai
những kiến thức mà họ đã biết thì họ sẵn sàng yêu cầu thay hướng dẫn viên khác
không nể nang. Đây là điều mà hướng dẫn viên Việt Nam cần đặc biệt lưu ý khi
dẫn những đoàn khách Mỹ.
Theo số liệu của trường Georgia Tech cung cấp, có 4 loại hình du lịch mà
2.1.2.Hiện trạng thị trường khách du lịch quốc tế trọng điểm đến Tràng An
2.1.2.1.Xác định các thị trường khách trọng điểm đến Tràng An
23
Theo thống kê sơ bộ của doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường (chủ thầu
chính và được tạm giao cho quản lí khu du lịch Tràng An) thì:
Tính đến hết năm 2008, lượng khách đến với Tràng An đạt: 190.588 lượt
khách. Trong khi đó, trong 4 tháng đầu năm 2009, đã có 210.300 lượt khách đến
tham quan tại hang động Tràng An và thắp hương cầu phúc, cầu may tại khu tâm
linh núi chùa Bái Đính. Trong đó có khoảng 8.400 lượt khách quốc tế (chiếm
4%).
Tại khu du lịch sinh thái Tràng An có cả khách nội địa và khách quốc tế.
song lượng khách năm 2008 khá thấp do du lịch Tràng An chưa được nhiều
người biết đến, cũng chưa có trong các Chương trình du lịch của các doanh
nghiệp lữ hành. Bắt đầu từ cuối năm 2008, đầu năm 2009, do chính sách quảng
bá, tiếp thị du lịch được đẩy mạnh, nơi đây được nhiều người biết đến và trở
thành một hấp dẫn không thể thiếu trong số tour đến Ninh Bình.Trong tổng
lượng khách du lịch đến khu du lịch sinh thái Tràng An thì khách nội địa chiếm
một lượng lớn (96%), đó là những người dân địa phương, và một lượng khách
nhỏ là người dân tại các tỉnh lân cận Ninh Bình và một lượng khách là những
nhà nghiên cứu khoa học…đến tham quan nghiên cứu.
Trong khi đó, khách quốc tế chỉ chiếm một tỉ lệ khá nhỏ (4%), chủ yếu là
Tây ba lô (thường có mức chi trả thấp và cũng không yêu cầu cao về dịch vụ,
nhưng là đối tượng khách có khả năng quảng bá du lịch tốt nhất cho các khu du
lịch, điểm du lịch). Thị trường khách quốc tế trọng điểm chủ yếu đến từ các
nước Pháp, Anh Đức (Tây Âu), châu Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,
khách thuộc các nước trong khu vực Asean… với mục đích chủ yếu là tham
quan hang động, nghiên cứu.
Theo thông tin của Tổng cục Du lịch, trong số 3,6 triệu lượt khách đến
Ninh Bình trong 6 tháng đầu năm 2013 thì có tới 2,5 triệu lượt khách đến với
Khu du lịch Tràng An. Kết quả này một lần nữa minh chứng cho sức hấp dẫn
ren… Các gian hàng tại đây không những phong phú về chủng loại, đảm bảo
chất lượng mà thái độ phục vụ khách hàng chu đáo, niềm nở của người bán cũng
để lại ấn tượng tốt đẹp đối với du khách mỗi khi đến tham quan, chiêm bái.
25