1
MỤC LỤC
2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tiếng anh Tiếng việt
ASEAN Association of Southeast
Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
FDI Foreign Direct Investment Vốn đầu tư trực tiếp từ nước
ngoài.
WTO World Trade Organization Tổ chứ Thương mại thế giới
3
DANH MỤC BẢNG, BIỂUVÀ HÌNH VẼ
1. Biều đồ 2.1: Tình hình FDI của Nhật Bản vào Việt Nam theo vốn đăng ký và
số dự án (lũy kế 31/12/2013). (Trang 10)
2. Biểu đồ 2.2: Tình hình vốn FDI đăng ký của Nhật Bản vào Việt Nam theo
ngành tính đến hết ngày 31/12/2013. (Trang 11)
3. Bảng 2.3: Hình thức đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam năm 2013. (Trang 13)
4. Bảng 2.4: Danh sách 10 tỉnh, thành phố đứng đầu về thu hút FDI
của Nhật Bản (31/12/2013). (Trang 14,15).
4
MỞ ĐẦU
Nằm trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Nhật Bản và Việt Nam là
hai quốc gia tuy có nhiều điểm khác nhau về lịch sử phát triển, quy mô kinh tế,
nguồn tài nguyên thiên nhiên… nhưng sự hợp tác của hai nước lại vô cùng chặt
chẽ và bền vững. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa và
hội nhập kinh tế thế giới đang có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hầu hết các quốc gia
trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Trong xu hướng đó, Việt Nam đã và
đang nhận được rất nhiều sự hợp tác, giúp đỡ từ phía Nhật Bản đặc biệt trong
lĩnh vực vốn đầu tư trực tiếp (FDI). Để thấy rõ được tình hình đầu tư đó của
4. Phương pháp nghiên cứu.
Trong bài viết có sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu khoa
học như quy nạp, diễn dịch và định tính có kết hợp với nghiên cứu một số trường
hợp điển hình.
Nguồn thông tin và số liệu trong bài viết được thu thập các công trình
nghiên cứu các báo cáo, thống kê từ Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Công Thương,
Tổng cục Thống kê, UNCTAD
5. Cấu trúc bài luận.
Bài luận gồm có 4 chương:
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về FDI.
Chương II: Tình hình đầu tư FDI của Nhật Bản vào Việt Nam giai đoạn 2008 -
2013.
Chương III: Tác động của vốn đầu tư FDI của Nhật Bản vào Việt Nam.
Chương IV: Định hướng thu hút FDI của Nhật Bản trong giai đoạn tới.
6
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ FDI
1.1. Các khái niệm về FDI.
Trên thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI), tuy nhiên có thể xem xét một số khái niệm về FDI đó là:
- Theo quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra khái niệm về FDI vào năm 1997,
được chấp nhận khá rộng rãi: “FDI là nguồn vốn được thực hiện nhằm thu về
những lợi ích lâu dài cho DN hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế
thuộc đất nước của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là giành được quyền
quản lý doanh nghiệp đó”.
- Một khái niệm khác: “FDI là hình thức đầu tư trong đó người chủ đầu tư
có quyền kiểm soát đối với hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như lợi ích của
mình ở một hãng nước ngoài. FDI do vậy bao gồm quyền sở hữu và kiểm soát
hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ngoài”
1
1.2. Đặc điểm của FDI.
cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo điều tiết của thị trường, giúp nền
kinh tế hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, nâng cao vị thế cho nước tiếp nhận
đầu tư.
- Bổ sung vào nguồn vốn cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
- Cùng với FDI là quá trình chuyển giao khoa học, công nghệ. Do vậy,
FDI tạo cơ hội cho nước tiếp nhận đầu tư tiếp thu khoa học kỹ thuật và công
nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý kinh doanh tiên tiến của bên đối tác nước
ngoài.
8
- Góp phần tăng năng suất và thu nhập của người lao động, nâng cao chất
lượng cuộc sống đồng thời cũng cải tạo môi trường cảnh quan xã hội cho nền
kinh tế nước tiếp nhận đầu tư. Khuyến khích năng lực kinh doanh trong nước,
tiếp cận với thị trường nước ngoài.
b. Tác động tiêu cực.
- Việc chủ động trong bố trí cơ cấu đầu tư bị hạn chế do lĩnh vực và địa
bàn đầu tư phụ thuộc vào sự lựa chọn của nhà đầu tư nước ngoài.
- FDI thường kéo theo các vấn đề về văn hóa, phong tục tập quán trong đó
nước tiếp nhận đầu tư dễ bị ảnh hưởng.
- Nếu không có quy hoạch đầu tư cụ thể và khoa học, có thể dẫn đến đầu
tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên bị khai thác bừa bãi và ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng.
- Nếu không kiểm soát chặt chẽ, nghiêm túc thì nước nhận đầu tư có thể
trở thành “bãi rác công nghiệp” do tiếp nhận công nghệ lạc hậu, kém hiệu quả.
- Nếu không tiến hành thẩm định được trình đọ của đối tác nước ngoài sẽ
dẫn không hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn FDI.
- Số lượng các doanh nghiệp trong nước có thể bị giảm sút do không đủ
sức cạnh tranh với các doanh nghiệp FDI làm ảnh hưởng đến cán cân thanh toán
của nước tiếp nhận FDI.
- Dễ chịu rủi ro, thua thiệt do vấn đề chuyển giá, ảnh hưởng lớn đến uy tín
và vị thế của quốc gia.
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài. Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Xét về phân ngành, công nghiệp chế biến chế tạo là ngành có vốn đăng ký
lớn nhất. Ngành công nghiệp nặng thực sự là nơi tập trung chủ yếu FDI của Nhật
Bản vào Việt Nam với rất nhiều doanh nghiệp sản xuất máy móc, thiết bị công
nghiệp, lắp ráp ô tô, xe máy, hoá chất, điện, điện tử… thuộc các tập đoàn kinh tế
lớn, nổi tiếng của Nhật Bản và trên thế giới.
2.3. Về hình thức đầu tư.
Hiện nay, các dự án đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam vẫn chủ yếu theo
hình thức 100% vốn nước ngoài với 1774 dự án. Tổng số vốn đầu tư là 18.813.8
triệu USD (chiếm 82% tổng số dự án và 54.1% tổng số vốn đầu tư đăng ký). Đầu
tư theo hình thức liên doanh cũng chiếm lượng vốn tương đối lớn với 355 dự án
và 14.755.5 triệu USD (16% tổng số dự án và 42.5% tổng số vốn đăng ký).
Điển hình vào ngày 20/3/2013, công ty Panasonic Appliances Việt Nam khai
trương nhà máy sản xuất máy giặt mới tại khu công nghiệp Thăng Long II, tỉnh Hưng
Yên với vốn đầu tư là 32 triệu USD. Trong đó 100% vốn đầu tư từ tập đoàn
Panasonic Nhật Bản.
Bảng 2.3: Hình thức đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam năm 2013
ST
T
Hình thức đầu tư
Số dự
án
Tổng vốn Đầu tư đăng ký
(USD)
Vốn điều lệ
(USD)
11
1
100% vốn nước
ngoài
(USD)
Vốn điều lệ
(USD)
Ngành
12
1
Thanh
Hóa
8 9664347000 2600694300 CN nhẹ, dầu khí
2
Bình
Dương
207 3903710946 1279154421
CN nặng, CN nhẹ, Nông -
lâm nghiệp
3 Hà Nội 530 3855818574 1272859126
CN nặng, Dịch vụ, XD VP
– CH,
GTVT - Bưu điện
4
TP. Hồ
Chí Minh
645 3378340438 1274027195
Dịch vụ, KS – DL, XD VP
– CH, VH – GD - YT
5 Hải Phòng 104 3168240785 1365556518 CN nặng, VH – GD - YT
6 Đồng Nai 155 2538210131 1008860107 CN nặng, CN nhẹ
7 Nghệ An 5 1318511626 13627.737 CN nặng, Dịch vụ
8 Hưng Yên 71 1237455408 445460650 CN nặng
9
Thứ nhất, sự mất cân đối đầu tư vào các tỉnh tại Việt Nam. Tại miền Bắc
các dự án chỉ tập chung chủ yếu vào Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc,
14
Hải Dương, các tỉnh này chiếm hơn 96,52% tổng số vốn đầu tư và dự án vào
miền Bắc. Hiện nay vốn FDI Nhật Bản đang đổ dồn về ĐBSCL với nhiều dự án
xây dựng rất lớn. Trong khi một số tỉnh có điều kiện rất thuận lợi về cơ sở hạ
tầng, chính sách đầu tư nhưng lại không nằm trong sự lựa chọn hàng đầu của các
nhà đầu tư Nhật Bản.
Thứ hai, xét về lĩnh vực đầu tư, dòng vốn FDI Nhật Bản phân phối không
đồng đều, chỉ tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo. Trong khi
một số lĩnh vực mà Nhật Bản có thế mạnh thì Nhật Bản chưa đầu tư nhiều vào
Việt Nam như lĩnh vực tài chính, bảo hiểm; lĩnh vực kinh doanh bất động sản;
lĩnh vực phân phối bán lẻ. Lượng vốn đầu tư của Nhật Bản vào nhiều lĩnh vực
còn chưa tương xứng với tiềm lực của Nhật Bản.
Thứ ba, bên cạnh nhiều kết quả tích cực, nhiều nhà đầu tư Nhật Bản làm
ăn kém hiệu quả, dẫn tới bị giải thể, thu hồi giấy phép đầu tư trước thời hạn,
nhiều doanh nghiệp “hớt váng” rồi bỏ trốn khỏi Việt Nam. Theo kết quả điều tra
của JETRO năm 2010 có tới 20,8% doanh nghiệp FDI Nhật Bản thua lỗ. Thực
trạng này ít nhiều làm ảnh hưởng tới tâm lý các nhà đầu tư khác, đòi hỏi Việt
Nam phải xây dựng và hoàn thiện luật đầu tư cho phù hợp hơn nữa.
15
CHƯƠNG IV: ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT FDI CỦA NHẬT BẢN VÀO
VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI.
Từ những phân tích trên, có thể thấy Nhật Bản là quốc gia có vốn FDI
thực hiện và cung cấp nguồn ODA lớn nhất đầu tư vào nước ta trong suốt thời
gian qua. Bên cạnh những tác động tích cực mà FDI của Nhật Bản mang lại cho
nước ta trong thời gian qua cũng còn không ít tác động tiêu cực ảnh hưởng tới
việc thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI từ Nhật Bản một cách hiệu quả và phù
hợp với nền kinh tế Việt Nam. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang
bắt đầu quá trình chuyển hướng chính sách để thu hút FDI vào đúng lĩnh vực
nghề của người lao động cũng như trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của lao động
Việt Nam nhằm tạo điều kiện thuận lợi và hấp dẫn cho FDI của Nhật Bản vào
Việt Nam - với lực lượng lao động dồi dào, chi phí lao động thấp và chất lượng
cao.
17
KẾT LUẬN
Thực tế cho thấy, thời gian qua FDI của Nhật Bản vào Việt Nam đã góp
phần đáng kể trong công việc cải tạo cơ cấu hạ tầng, tạo công ăn việc làm cho
người lao động Việt Nam và thúc đẩy phát triển kinh tế.
Là một nước thành viên của ASEAN, Việt Nam cần tranh thủ những chính
sách tăng cường quan hệ với các nước ASEAN và Nhật Bản để thu hút vốn từ
các cường quốc kinh tế này, phục vụ yêu cầu phát triển nền kinh tế trong thời kì
đổi mới và nhanh chóng rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực, đồng
thời học tập và rút ra các bài học kinh nghiệm của các nước láng giềng trong quá
trình phát triển kinh tế thị trường và quá trình thu hút và sử dụng vốn đầu tư.
Có thể nói quan hệ với Nhật Bản là cần thiết cho sự nghiệp phát triển kinh
tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Do đó, có thể thu hút nhiều
hơn nữa vốn đầu tư trực tiếp, Việt Nam cần phát huy tối đa chính sách kết hợp
sản xuất thay thế hàng nhập khẩu và sản xuất hướng vào hàng xuất khẩu hiện
nay góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và mở rộng quan hệ KTQT của Việt
Nam.
18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Anh Đức (2014), “FDI Nhật Bản vào Việt Nam còn dưới tiềm năng”, Tạp chí
Kinh tế và dự báo, http://kinhtevadubao.com.vn/xuc-tien-dau-tu/fdi-nhat-
ban-vao-viet-nam-con-duoi-tiem-nang-2807.html
2. Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư (2013), “Kỷ yếu 25 năm đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại Việt Nam”.
3. Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng (2008), Giáo trình Kinh tế quốc tế,
Nxb Đại học kinh tế quốc dân, HN