LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thế giới trong hơn thập kỷ qua đang bước vào giai đoạn toàn cầu hóa
mạnh mẽ, mỗi quốc gia muốn củng cố và khẳng định vị thế của mình trên trường quốc
tế không thể tách rời hệ thống kinh tế toàn cầu. Nhận thức được tầm quan trọng đó,
trong thời gian qua, Việt Nam đã không ngừng mở rộng quan hệ về kinh tế với các quốc
gia, các khu vực kinh tế trên thế giới. Trong số những thị trường có tầm ảnh hưởng ngày
càng mạnh mẽ tới nền kinh tế Việt Nam, thị trường Bắc Mỹ nổi lên là một thị trường
đầy hấp dẫn nhưng cũng chứa đựng không ít thách thức.
Thị trường Bắc Mỹ là một điểm đến đầy lôi cuốn của tất cả các quốc gia, các
vùng lãnh thổ, bởi trong thị trường ấy đã có hai nền kinh tế lớn của thế giới là Hoa Kỳ
và Canada bên cạnh Mê-hi-cô- quốc gia nằm giữa eo biển Trung Mỹ và Caribe với
những triển vọng kinh tế đầy hứa hẹn. Thị trường Bắc Mỹ là một thị trường đặc biệt với
Việt Nam, trước tiên bởi mối quan hệ với Hoa Kỳ- đối tác chiến lược và cũng đã có
những liên hệ đặc biệt với Việt Nam trong quá khứ. Tuy vây, mối quan hệ về thương
mại và đầu tư của Việt Nam với thị trường này mới chỉ khởi sắc trong thời gian gần đây.
Đây cũng là điều dễ hiểu một phần do những trở ngại về vị trí địa lý, một phần do nền
kinh tế của chúng ta mới thực sự phát triển mạnh và tạo được dấu ấn trên trường quốc tế
trong giai đoạn gần đây, đặc biệt sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viền của
tổ chức thương mại thế giới WTO. Có được thành công rực rỡ đó, chúng ta không thể
không ghi nhận những ủng hộ từ phía các quốc gia Bắc Mỹ, nhất là Hoa Kỳ và Canada –
những quốc gia với sự ảnh hưởng lớn với nền kinh tế toàn cầu.
Quan hệ của Việt Nam và các quốc gia Bắc Mỹ xét trên khía cạnh kinh tế vẫn còn
chưa cân đối. Có thể ví quan hệ kinh tế của Việt Nam với ba quốc gia này là một đồ thị
đi lên, trong đó Hoa Kỳ ở vị trí đỉnh cao, Canada là điểm ở giữa và Mê-hi-cô mới chỉ là
điểm khởi đầu của đồ thị ấy. Và mặc dù bức tranh về quan hệ kinh tế với từng quốc gia
Bắc Mỹ còn chưa cân đối với nhau, song, có thể thấy tương lai và triển vọng của một
bức tranh chung toàn cảnh vô cùng sáng lạn và đầy hứa hẹn.
Chính những lí do đặc biệt trên đã khiến em lựa chọn đề tài “Quan hệ thương
mại và đầu tư của Việt Nam với các quốc gia thuộc thị trường Bắc Mỹ” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp của mình. Trong phạm vi bài luận văn của mình, em xin được đề cập
đến hai lĩnh vực chính: đó là lĩnh vực quan hệ kinh tế về thương mại và quan hệ kinh tế
Bắc Cực, phía Đông giáp Đại tây Dương, phía Tây giáp Thái Bình Dương. Thủ đô
Canada là trung tâm thương mại Ottawa.
Do diện tích lãnh thổ rộng lớn và trải dài nên ở Canada có các yếu tố địa lý rất
khác biệt như có nhiều vùng núi đá cao hiểm trở và các vùng thảo nguyên rộng lớn. Địa
hình Canada tương đối phẳng, có núi ở phía Tây và các vùng đất thấp ở phía Đông Nam.
Canada được đặc trưng bởi bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Nhiệt độ thay đổi theo mùa,
có lúc lên tới 30
o
C vào mùa hè hoặc xuống tới -33
o
C vào mùa đông. Nhiệt độ giữa các
vùng trên toàn lãnh thổ cũng có sự khác biệt lớn: khu vực bờ biển phía Tây có khí hậu
ôn đới, phía Bắc Atlantic lạnh hơn và thường có bão lớn vào mùa đông, vùng núi phía
Tây, miền Trung và Praises lạnh hơn nhiều so với các vùng khác.
Canada là một quốc gia rất giàu tài nguyên, khoáng sản, ví dụ như: quặng sắt,
niken, kẽm, đồng, vàng, chì, potat, bạc, dầu mỏ, than, thuỷ lực, động vật hoang dã, thuỷ
sản...Yếu tố tự nhiên thuận lợi là một trong những động lực biến Canada thành một
trong những nền kinh tế lớn trên thế giới. Các ngành công nghiệp chính của quốc gia
này bao gồm: khai mỏ, chế biến gỗ, giấy, thực phẩm, thiết bị vận tải, hoá chất, dầu khí,
điện năng, công nghệ viễn thông, sinh học và dược phẩm... Trong khi đó, sản phẩm
nông nghiệp gồm: lúa mỳ, hạt có dầu, hoa quả, thịt gia súc, đồ uống và chế biến rượu.
1.2. Đặc điểm xã hội
Theo ước tính vào năm 2005, dân số Canada vào khoảng 32.805.000 người,
và con số này đã tăng lên gần 33 triệu vào tháng 7 năm 2006. Mật độ dân số bình quân
3,6 người/km
2
( đứng thứ 179 trên thế giới và được xếp vào loại thấp nhất trong số các
nước công nghiệp phát triển). Mật độ dân số của 3 khu vực lãnh thổ là Yukon,
Northwest Territories và Nuvavut chưa đến 1 người/km2, 90% dân số Canada sống dọc
theo 160 km biên giới với Hoa Kỳ. Dân số tại 25 thành phố lớn của Canada chiếm gần
nhiệm vụ kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật, điều tra các vấn đề thuộc quốc gia,
đại diện quyền lợi cho các bang và các khu vực lãnh thổ. Hạ viện là cơ quan lập pháp
chính trong quốc hội chịu trách nhiệm ban hành giám sát thực thi các đạo luật, trong đó
có luật thương mại và đầu tư. Thượng nghị sĩ do Toàn quyền cử theo khuyến nghị của
Thủ tướng, làm việc đến 75 tuổi. Hạ nghị sĩ được dân bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 5 năm.
Cuối cùng là cơ quan Tư pháp đứng đầu là Tòa án tối cao, các thẩm phán được
Thủ tướng bổ nhiệm và được Toàn quyền thông qua.
Về cơ cấu hành chính, hiện nay thủ đô của Canada là Ottawa, thuộc địa phận
bang Ontario. Lãnh thổ Canada gồm 10 bang và 3 khu vực lãnh thổ. Ở cấp liên bang có
các bộ, ngành chịu trách nhiệm đưa ra các chính sách ngoại thương ở phạm vi quốc gia.
Ở cấp bang nói chung tồn tại một cơ cấu chính quyền tương tự như cấp liên bang, tức là
cũng có người đứng đầu cơ quan hành pháp bang thường là đại diện của đảng phái
chính trị nào chiếm đa số trong cuộc bầu cử chính quyền địa phương, theo nhiệm kỳ 4
hoặc 5 năm.
Về hệ thống pháp luật, Canada dựa theo hệ thống luật Anh (English Common
Law), trừ bang Quebec theo hệ thống luật Pháp (French law prevails). Hệ thống luật của
Canada khá đồ sộ, chi tiết và chặt chẽ. Vì vậy, ngoài hệ thống pháp luật ở cấp liên bang,
mỗi bang hoặc khu vực lãnh thổ đều có hệ thống pháp luật riêng. Thông thường luật liên
bang chỉ đề cập đến những vấn đề liên quan đến nhiều bang, nếu có xung đột giữa liên
bang và bang thì luật liên bang sẽ được áp dụng. Bên cạnh đó, Canada còn có rất nhiều
bộ luật cấp liên bang và bang về những khía cạnh khác nhau và lĩnh vực ngành nghề
khác nhau; do vậy, bất kỳ nhà đầu tư hay kinh doanh nước ngoài nào muốn đầu tư hay
kinh doanh xuất nhập khẩu tại thì trường Canada cần tham khảo cả hệ thống pháp luật
liên bang và nội bang.
Về tiền tệ, hiện nay đơn vị tiền tệ của Canada là đô la Canada (CAD) với các
mệnh giá 5 $, 10$, 20$, 50$, 100$, 500$ và 1000$.
Hiện nay, Canada là thành viên của rất nhiều các tổ chức quốc tế và khu vực,
trong đó có Liên Hợp quốc, Khối Liên hiệp Anh, Francophonie, WTO, IMF, WB,
OECD, NATO, NAFTA, APEC, …
2. Đôi nét về đất nước Hoa Kỳ
công nhận và lưu hành rộng rãi nhất hiện nay.
Ngôn ngữ phổ biến tại Hoa Kỳ là tiếng Anh. Ngoài ra tại Hoa Kỳ còn có các
cộng đồng lớn nói tiếng Tây Ban Nha, Pháp và nhiều ngôn ngữ khác tùy theo xuất xứ
nhập cư.
Về chính trị, Hoa Kỳ là một nước Cộng hoà Liên bang, theo chế độ tam quyền
phân lập (ngày quốc khánh 4/7). Theo Hiếp pháp Hoa Kỳ, quyền lập pháp thuộc về
Quốc hội, quyền hành pháp thuộc về Tổng thống và quyền tư pháp thuộc về Toà án tối
cao. Các cơ quan nhà nước liên bang Mỹ hoạt động trên nguyên tắc ‘kiểm soát và cân
bằng’, trong đó hiến pháp Hoa Kỳ quy định quyền cụ thể của một cơ quan để kiểm soát
chéo hai cơ quan còn lại. Hiến pháp Hoa Kỳ quy định rõ các quyền thuộc về nhà nước
liên bang và các chính quyền tiểu bang, trong đó các chính quyền tiểu bang có nhiều
quyền hạn lớn.
Hoa Kỳ theo chế độ đa đảng. Đảng Dân chủ (thành lập năm 1828) và Cộng hòa
(thành lập năm 1854) thay nhau nắm chính quyền. Từ sau chiến tranh thế giới II, đã có 7
nhiệm kỳ tổng thống Hoa Kỳ thuộc đảng Dân chủ và 7 nhiệm kỳ tổng thống Hoa Kỳ
thuộc đảng Cộng hòa.
Chính phủ Liên bang mà đứng đầu là Tổng thống nắm quyền hành pháp, có
quyền hạn của nguyên thủ quốc gia, tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. Tổng thống có
quyền phủ quyết các điều luật do quốc hội thông qua và để đảo ngược quyền phủ quyết
của tổng thống cần 2/3 số phiếu của cả 2 viện của quốc hội. Nhiệm kỳ tổng thống dài 4
năm. Kể từ 1951, mỗi tổng thống chỉ được cầm quyền tối đa 2 nhiệm kỳ. Chính phủ liên
bang nắm quyền điều hành toàn bộ đất nước, quy định các chính sách thuế chung, chính
sách đối ngoại, thương mại quốc tế và giữa các bang, chịu trách nhiệm về quốc phòng,
an ninh, phát hành tiền, hệ thống đo lường, bản quyền...Các bang của Hoa Kỳ có hiến
2
Nguồn: dữ liệu điện tử trực tuyến, website: a,gov.vn.
pháp và pháp luật riêng, nhưng không trái với Hiến pháp Liên bang. Quốc hội Hoa Kỳ
gồm hai viện, cụ thể là:
Thượng viện gồm 100 thượng nghị sĩ và 24 Uỷ Ban, trong đó có 4 Uỷ Ban hỗn
hợp lưỡng viện. Mỗi bang có 2 thượng nghị sĩ với nhiệm kỳ 6 năm. Phó Tổng thống giữ
tấn ximăng; 13,5 triệu tấn ngô (lương thực chính); 4,3 triệu tấn lúa mì; 306.000 tấn cà
phê; 298.000 tấn bông; 79 tỉ kw/giờ điện; 1,5 triệu tấn chuối; có 36 triệu con bò; 13 triệu
con lợn...
3.2. Đặc điểm xã hội
Dân số: Dân số Mê-hi-cô tính tại thời điểm 7/2006 là 107.449.525 người với
tốc độ tăng dân số hàng năm khoảng 1,16%. Mê-hi-cô được đánh giá là quốc gia có dân
số trẻ với cơ cấu dân số theo độ tuổi như sau: Từ 0-14 tuổi: 30,6%; Từ 15-64 tuổi:
63,6%; Trên 65 tuổi: 5,8%.
3
Ngôn ngữ chính thức tại Mê-hi-cô là tiếng Tây Ban Nha, ngoài ra còn có ngôn
ngữ của người Maya và một số thổ ngữ khác.
Về tôn giáo, 86% dân số Mê-hi-cô theo đạo Thiên chúa - đây là con số khá lớn
khi so sánh với tỷ lệ dân cư theo tôn giáo này với hai quốc gia thuộc thị trường Bắc Mỹ
khác là Hoa Kỳ và Canada; 6% dân số Mê-hi-cô theo đạo Tin lành, còn lại 5% theo các
tôn giáo khác.
Về lịch sử, Mê-hi-cô có lịch sử và nền văn minh lâu đời, chủ yếu thuộc hai
nền văn minh chính là Azteca và Maya từ hơn 3.000 năm trước công nguyên. Lịch sử
Mê-hi-cô chia thành 4 giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên là thời kỳ tiền thuộc Tây Ba Nha bắt
đầu từ 7000 năm trước công nguyên với sự phôi thai, phát triển, hưng thịnh và suy tàn
của vùng đo thị thời trung cổ Teotihuacan. Giai đoạn thứ hai bắt đầu từ thế kỷ 16 khi
Mê-hi-cô bị thực dân Tây Ban Nha đô hộ và kết thúc vào năm 1819 khi Mê-hi-cô giành
lại độc lập. Tiếp đó là cách mạng Mê-hi-cô, giai đoạn Mê-hi-cô vượt qua những khó
khăn do bị cô lập với thế giới và kết thúc bằng cuộc cánh mạng dân chủ tư sản đầu tiên
ở Mỹ Latinh từ năm 1910 đến 1970. Ngày nay, lịch sử Mê-hi-cô cũng đã trải qua rất
nhiều thăng trầm. Tuy nhiên với việc áp dụng các biện pháp điều chỉnh hiệu quả, Mê-hi-
cô đã từng bước phục hồi và vươn lên trở thành một trong mười quốc gia xuất khẩu lớn
nhất thế giới hiện nay.
Về Chính trị, theo Hiến pháp năm 1917 (hiện hành cho tới nay tuy có một số
điều khoản đã được sửa đổi), Mê-hi-cô là một nhà nước liên bang theo thể chế Cộng
3
khứ và đã đấu tranh giành độc lập), đều được thiên nhiên ưu ái cho những nguồn tài
nguyên phong phú…Tuy nhiên, mỗi quốc gia khi đặt trong một bức tranh toàn cảnh về
kinh tế lại có những trạng thái khác nhau. Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA)
nói riêng và rất nhiều các cam kết quốc tế khác nói chung đã gắn kết nền kinh tế của
Canada, Hoa Kỳ và Mê-hi-cô lại với nhau, đưa khu vực thị trường này thành một đối tác
chiến lược của rất nhiều quốc gia cũng như vùng lãnh thổ trên thế giới. Thời gian qua đã
chứng kiến rất nhiều biến động đối với ba nước thuộc thị trường này. Nếu như Canada
là quốc gia có nền kinh tế tương đối ổn định hơn cả trong hơn thập kỷ qua, thì tại Hoa
Kỳ, những biến động từ vụ khủng bố 11/9 đã gây nên một cú sốc không chỉ về chính trị
mà còn về kinh tế; và Mê-hi-cô- quốc gia với vị thế khiêm tốn hơn hai anh cả Bắc Mỹ
rất nhiều cũng đã có sự thay đổi cần thiết để vươn lên trên trường quốc tế hiện nay.
Trong nội dung của phần II này, những nét chính, những điểm nhấn khác nhau về
tình hình kinh tế của mỗi quốc gia được đề cập tới sẽ giúp đưa ra cái nhìn cụ thể hơn về
bức tranh kinh tế của toàn khu vực này.
1. Tình hình kinh tế và thị trường Canada
1.1. Tình hình kinh tế Canada
Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản
Bảng 1: Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản của Canada (%)
Năm
Chỉ tiêu
2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tốc độ tăng GDP 2,4 3,4 1,7 2,4 2,9 3,1
Lạm phát 3,0 2,2 2,8 1,9 2,2 2,8
Tỉ lệ thất nghiệp 7,9 7,7 7,6 7,0 6,8 6,5
Nguồn: Trade Data Online, web:
Trong những năm qua, tăng trưởng GDP của Canada ở mức khả quan, riêng năm
2003 con số này chỉ đạt 1,7% do ảnh hưởng của dịch Hội chứng viêm đường hô hấp cấp
và bệnh bò điên tại tỉnh Alberta tháng 5/2003. Đồng thời với việc duy trì mức tăng
trưởng GDP, lạm phát cũng được kiểm soát thành công và tỷ lệ thất nghiệp cũng không
quá cao đã trở thành một trong số những thành tựu lớn của Canada. Với GDP là 1.216,2
Khai khoáng, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản 6,0 5,8 5,5 5,9 3,2
Chế tạo 19,0 18 17,9 17,5 14,4
Thương mại 11,0 11,2 11,6 11,8 15,7
Xây dựng 5,1 5,4 5,3 5,5 6,0
Tài chính, bảo hiểm và động sản 18,6 19,1 19,3 19,1 19,2
Giáo dục, sức khỏe 16,1 16,2 16,1 16,1 17,4
Văn hóa và thông tin 3,8 4,1 4,2 4,0 4,6
Dịch vụ khoa học và kĩ thuật 4,3 4,4 4,4 4,4 6,3
Nguồn: Trade Data Online, web:
Dựa vào bảng số liệu trên và biểu đồ 1, có thể nhận thấy Canada có cơ cấu kinh
tế của các nước công nghiệp. Cuối thập niên 80 của thế kỉ trước, Canada áp dụng quy
tắc phân ngành giống Hoa Kỳ. Theo số liệu thống kê trong “Exporting Guide” của cục
xúc tiến thương mại Canada năm 2005, ngành dịch vụ Canada đã tạo nên 69.3% GDP,
thu hút được 74,4% lao động, trong đó nhóm dịch vụ tài chính, bảo hiểm dẫn đầu nhóm
dịch vụ với con số đóng góp lên tới 19,2 %.
Lĩnh vực sản xuất vật chất làm ra 30,7% GDP, thu hút được 25,5% lao động,
trong đó công nghiệp chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với con số 14,4%, tiếp theo đó là
lĩnh vực xây dựng 6%, điện tử và viễn thông 2,8%, và nông lâm ngư nghiệp với con số
khá khiêm tốn là 2,3%. [3]
Canada giàu tài nguyên thiên nhiên, do vậy đất nước này trở thành nước sản xuất
nguyên liệu khoáng sản hàng đầu thế giới với khoảng 80% bán thành phẩm và nguyên
liệu khoáng sản làm ra ở Canada được xuất khẩu. Canada đứng thứ 3 thế giới về khai
thác hơi đốt tự nhiên. Công nghệ khai thác, chế biến gỗ của Canada thuộc loại tiên tiến
trên thế giới. Hiện nay, các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và khai thác mỏ làm ra gần 4%
GDP (không kể sơ chế), thu hút 1,8% lực lượng lao động.
Nông nghiệp Canada cũng mang lại hiệu quả kinh tế- xã hội cao, đạt 27% GDP
năm 2004. Tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu nông sản của Canada vẫn đứng thứ ba thế
giới sau Hoa Kỳ và Pháp. Nông sản xuất khẩu chủ lực của Canada là lúa mỳ, dầu thảo
mộc, thịt và sản phẩm sữa.
Bên cạnh các thế mạnh trên, Canada còn nổi tiếng về công nghệ xây dựng nhà
Trung Quốc (6,8%), Mê-hi-cô (3,8%).
Trong những năm gần đây, cán cân thương mại của Canada có sự biến động khá
đồng đều. Cán cân thương mại luôn đạt trạng thái thặng dư do Canada liên tục xuất siêu
trong giai đoạn qua. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của cán cân thương mại có phần
chững lại đôi chút trong hai năm qua (-1,9% và -21,4% trong hai năm 2005 và 2006).
Điều này cũng có thể lí giải bằng một số nguyên nhân khách quan mà chủ yếu là do nền
kinh tế thế giới giai đoạn này tăng trưởng không ổn định, với sự suy giảm của Hoa Kỳ-
đối tác chiến lược lớn nhất của Canada. Hơn nữa, giai đoạn này nền kinh tế thế giới còn
phải đối mặt với những cuộc khủng hoảng, đặc biệt là cuộc khủng hoảng do bệnh dịch
cúm gia cầm tạo nên.
Đầu tư kinh doanh
Về tình hình đầu tư, Canada vừa đóng vai trò là nước tiến hành đầu tư vừa là
nước nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài là một
trong những nội dung chủ yếu trong chính sách kinh tế của Canada. Năm 2002, lượng
vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Canada đạt tới 248.13 tỷ USD, tăng 78% so với
năm 1997. Vốn đầu tư vào trong nước đạt 204,48 tỷ, tăng 65% so với năm 1997. Năm
2004, đầu tư kinh doanh của Canada ra nước ngoài là 438,4 tỷ CAD trong đó 191 tỷ
CAD tập trung vào thị trường chủ lực Hoa Kỳ. Ngược lại, Canada cũng thu hút 368 tỷ
CAD đầu tư từ nước ngoài trong đó Hoa Kỳ đầu tư vào Canada khoảng 238,4 tỷ CAD.
Đặc biệt, năm 2005, nguồn vốn FDI của Hoa Kỳ vào Canada đã lên tới 64,1% (bảng
1.4), gần bằng mức đầu tư FDI kỷ lục của Hoa Kỳ vào Canada năm 1990 là 64,2%.
Ngoài Hoa Kỳ ra, các quốc gia như Anh, Pháp, Hà Lan…cũng là những nhà đầu tư quan
trọng vào thị trường Canada. Hiện tại, nợ nước ngoài của Canada lên tới 170,4 tỷ CAD
(9/ 2005). [1]
Bảng 4: Tỷ trọng FDI vào Canada theo thị trường năm 2005
STT Nước Tỷ trọng (%)
1 Hoa Kỳ 64,1
2 Anh 7,2
3 Pháp 6,8
4 Hà Lan 5,2
hàng hóa và dịch vụ của mình. Canada cũng là quốc gia ủng hộ rất mạnh mẽ cho tổ chức
thương mại thế giới WTO và các khu vực thương mại tự do mở rộng. Một phần trong
chính sách đối ngoại của Canada là xúc tiến hòa bình và an ninh quốc tế thông qua các
cơ quan hợp tác đa biên và tôn trọng nhân quyền, an ninh nhân loại. Hiện tại, chính phủ
Canada cũng đang tiếp tục bận rộn với các mặt chính sách thương mại khác để hướng
tới việc tiếp cận các thị trường mới nổi đầy tiềm năng. Các hỗ trợ kĩ thuật liên quan đến
thương mại và đầu tư, tăng cường năng lực, hợp tác về chính sách giữa các tổ chức quốc
tế sẽ giúp Canada tham gia đầy đủ hơn vào thị trường các nước đang phát triển. Ngoài
ra, trong chính sách ngoại thương của mình, Canada cũng chủ trương xem xét nhu cầu
của các nước đang phát triển thông qua việc hỗ trợ các quốc gia đó hội nhập vào nền
kinh tế toàn cầu.
2. Tình hình kinh tế và thị trường Hoa Kỳ
2.1. Khái quát về nền kinh tế Hoa Kỳ
Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản
Hoa Kỳ là nước công nghiệp phát triển hàng đầu trên thế giới. Hoa Kỳ có nền
kinh tế hỗn hợp, các tập đoàn và công ty tư nhân có vai trò quan trọng trong khi chính
phủ có xu hướng hạn chế tác động vào nền kinh tế. Sau một thời gian rơi vào suy thoái
(3/2001-1/2002), kinh tế Hoa Kỳ nhanh chóng tăng trưởng trở lại. Chính quyền Bush đã
sử dụng các biện pháp chính để đối phó kinh tế suy thoái như: tăng chi chính phủ, cắt
giảm lãi suất cho vay và giảm thuế. Ngoài ra, do kinh tế Hoa Kỳ đang ở trong giai đoạn
chuyển đổi, năng suất lao động tăng mạnh do ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất
là công nghệ thông tin, chu kỳ khủng hoảng kinh tế rút ngắn lại, giúp kinh tế Hoa Kỳ
sớm thoát ra khỏi khủng hoảng so với các chu kỳ kinh tế trước đây. Năm 2001, GDP
Hoa Kỳ tăng 0,8%, năm 2002 tăng 1,9%, năm 2003 tăng 3%, năm 2004 là 4,4%, năm
2005 là 3,5% và năm 2006 là 3,4% .Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2006 của Hoa
Kỳ là 13,24 nghìn tỷ đô la, chiếm hơn 30% GDP toàn thế giới. GDP theo đầu người là
44.153 đô la.
4
Bảng 5: Các chỉ tiêu cơ bản của Hoa Kỳ giai đoạn 2005-2008
Năm
lực lượng lao động trong cả nước, còn lại 17% lao động tập trung vào lĩnh vực sản xuất
vật chất. Trong lĩnh vực dịch vụ, dịch vụ được sản xuất bởi khu vực tư nhân chiếm
67,8% GDP của Hoa Kỳ trong năm 2006, trong đó đứng đầu là bất động sản, dịch vụ tài
chính như ngân hàng, bảo hiểm và đầu tư. Một số loại dịch vụ khác bao gồm bán buôn
và bán lẻ, giao thông vận tải, chăm sóc y tế, pháp luật, khoa học, dịch vụ quản lý, giáo
dục, nghệ thuật, giải trí, tiêu khiển, khách sạn và dịch vụ chỗ ở, nhà hàng, quầy rượu …
Trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa, các ngành chiếm ưu thế gồm có: ngành chế tạo
(máy tính, ôtô, máy bay, máy thiết bị) - chiếm 12%; xây dựng - chiếm 4,6%; khai thác
dầu mỏ, khí đốt và các hoạt động khai mỏ khác - chiếm 1,4%. Hoa Kỳ là quốc gia hàng
đầu thế giới trong công nghiệp chế tạo, các nhà máy của Hoa Kỳ sản xuất ra lượng hàng
hóa có giá trị tương đương với 1,49 nghìn tỷ đô-la trong năm 2005, nhiều gấp 1,5 lần so
với nước đứng thứ hai thế giới là Nhật Bản.
Mặc dù hiện nay, nông nghiệp chỉ chiếm một phần nhỏ trong GDP nhưng các
trang trại vẫn duy trì được sức mạnh kinh tế và chính trị của mình. Giá trị sản lượng
nông nghiệp của Hoa Kỳ cũng chỉ đứng sau Trung Quốc và Ấn Độ. Mặc dù Hoa Kỳ
luôn trong tình trạng thâm hụt thương mại nhưng lại thặng dư trong thương mại nông
sản. Dự báo vào năm 2007, các trang trại Hoa Kỳ xuất khẩu 78 tỷ đô-la, trong đó, phần
lớn nhất được xuất sang các nước Châu Á.
5
Tuy nhiên, một thực trạng đáng lo ngại hiện nay chính là việc Hoa Kỳ đang là
con nợ của cả thế giới. Hoa Kỳ là nước nợ nhiều nhất thế giới với tổng số nợ gần 9
nghìn tỷ đô la năm 2006, chiếm 64% GDP. Bài toán nan giải mà chính quyền Bush hiện
nay đang phải đau đầu chính là tìm ra lối thoát cho những khó khăn chồng chất mà Hoa
Kỳ đang phải đương đầu, bao gồm: thâm hụt ngân sách, thâm hụt thương mại và nạn
thất nghiệp. Năm 2004, thâm hụt ngân sách của Hoa Kỳ lên tới gần 500 tỷ USD. Tiết
kiệm ở Hoa Kỳ rất thấp, người dân chỉ tiết kiệm 1,3% thu nhập hàng năm. Hoa Kỳ là
nước vay nợ nhiều nhất thế giới với nợ quốc gia chiếm trên 5% GNP.
Cán cân xuất nhập khẩu
Hoa Kỳ được coi là nước cung cấp vốn, kỹ thuật, công nghệ và là thị trường quan
trọng nhất để phát triển kinh tế của cả thế giới. Hoa Kỳ rất mạnh và đóng vai trò chi
2006. Hiện nay, Hoa Kỳ thâm hụt mậu dịch nhiều nhất là với Trung Quốc. Kể từ khi gia
nhập WTO vào năm 2000, thương mại của Trung Quốc đã phát triển rất nhanh. Thâm
hụt mậu dịch hàng hóa với Trung Quốc vào năm 2003 đã đạt mức kỷ lục gần 125 tỷ
USD. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ còn thâm hụt thương mại với rất nhiều các đối tác quan
trọng khác, trong đó có Canada (75,2 tỷ USD), Nhật Bản (69,6 tỷ USD), Mê-hi-cô (54 tỷ
USD) và Đức (39,7 tỷ USD). Hơn nữa, tỷ lệ thất nghiệp tại Hoa Kỳ và lạm phát tại Hoa
Kỳ vẫn ở mức cao. Điều này đang gióng lên những hồi chuông cảnh báo đòi hỏi chính
6
Nguồn: dữ liệu điện tử trực tuyến, thông tin thị trường Hoa Kỳ, website: .
phủ Hoa Kỳ cần có những biện pháp cấp bách và thiết thực hơn nữa để đưa đất nước
thoát khỏi tình trạng đáng lo ngại này.
Có thể thấy rõ, trong những năm gần đây, mặc dù kim ngạch xuất khẩu của Hoa
Kỳ liên tục tăng với chiều hướng hết sức khả quan, liên tục trên 10% trong ba năm
2004, 2005, 2006; tuy nhiên song song với tỉ lệ tăng xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu
của Hoa Kỳ cũng tăng với tốc độ đáng kể, cụ thể là kim ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ đã
tăng gần 200 tỷ USD từ năm 2005 đến 2006. Kim ngạch xuất nhập khẩu của Hoa Kỳ
chiếm khoảng 25% GDP. Hoa Kỳ là nước xuất, nhập khẩu lớn nhất thế giới. Chính kim
ngạch nhập khẩu khổng lồ như vậy đã khiến Hoa Kỳ, mặc dù là cường quốc về cả xuất
và nhập khẩu, song luôn ở tình trạng nhập siêu, dẫn đến cán cân thương mại luôn luôn
thâm hụt với tốc độ ngày càng nghiêm trọng. Hoa Kỳ bị thâm hụt thương mại ở mức cao
liên tiếp trong gần 2 thập kỷ, đặc biệt tăng liên tục ở mức kỷ lục xấp xỉ 818 tỷ đô la năm
2006, vượt mức báo động (5,5% GDP). Có rất nhiều nguyên nhân lí giải cho tình trạng
thâm hụt triền miên này của Hoa Kỳ. Nguyên do đầu tiên chính là việc nền kinh tế Hoa
Kỳ trong mấy năm gần đây liên tục gặp phải các cuộc khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng
đầu tiên khởi nguồn từ vụ khủng bố 11/9/2001, kéo theo đó là một loạt các hậu quả kinh
tế và xã hội nghiêm trọng. Việc chính phủ Bush ngày càng tăng cường các hoạt động vũ
trang, can thiệp quân sự vào các khu vực trên thế giới đã tiêu tốn một lượng tiền không
nhỏ cho các kế hoạch an ninh quốc phòng, dẫn tới ngân sách giành cho phát triển và
nâng cao đời sống kinh tế ngày càng thắt chặt. Ngoài ra, các cuộc khủng hoảng kinh tế
thế giới, bắt nguồn từ nạn dịch viêm đường hô hấp cấp SARS, hay dịch cúm gia cầm
Chính sách của Hoa Kỳ với Châu Á- Thái Bình Dương được thể hiện rõ trong
báo cáo của Ủy ban chính sách đầu tư và thương mại Thái Bình Dương - Hoa Kỳ
(Report of Commission on US- Pacific trade and Investment policy) với mục đích tư vấn
cho chính phủ Hoa Kỳ về việc hoạch định các chính sách thích hợp đối với khu vực
chiến lược này: “ Sự phát triển của một nền kinh tế Hoa Kỳ với phần lớn sẽ phụ thuộc
vào sự phát triển ở các thị trường nước ngoài. Không có nơi nào trên thế giới lợi ích của
Hoa Kỳ lại lớn hơn ở các nền kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương với tốc độ phát triển
hết sức mạnh mẽ. Trong những năm gần đây, Châu Á- Thái Bình Dương đã trở thành thị
trường nước ngoài phát triển nhanh nhất đối với hàng hóa và dịch vụ của Hoa Kỳ, là nhà
xuất khẩu lớn nhất của Hoa Kỳ và là địa chỉ mới quen thuộc nhất đối với các dòng vốn
7
Nguồn: dữ liệu trực tuyến, thông tin về thị trường Hoa Kỳ, website: .
đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Hoa Kỳ…Phần lớn thành công trong tương lai của nền
kinh tế Hoa Kỳ sẽ phụ thuộc vào việc Hoa Kỳ tận dụng sự tăng trưởng của khu vực
Châu Á- Thái Bình Dương như thế nào, mặc dù cơ hội là rất lớn nhưng cũng có không ít
khó khăn”.
8
Với Hoa Kỳ, Châu Á- Thái Bình Dương có tiềm năng rất lớn và đóng vai trò
quan trọng trong phát triển kinh tế tương lai, là đối trọng của Hoa Kỳ trong sự ganh đua
với Nhật Bản trong việc gây ảnh hưởng ở khu vực này, đặc biệt là ở Đông Nam Á- một
khu vực kinh tế năng động và hứa hẹn triển vọng đầy tươi sáng trong tương lai không
xa. Một nguyên do nữa khiến Hoa Kỳ đưa ra và kiên trì với quan điểm “tự do hóa
thương mại quốc tế” chính là ở chỗ các hiệp định thương mại và đầu tư sẽ giúp Hoa Kỳ
tăng thêm các nguồn lời từ các hoạt động thương mại hàng tỷ USD mỗi năm.
9
Do đó,
chính sách về kinh tế, chính trị, đầu tư với Châu Á- Thái Bình Dương với phương châm
thúc đẩy tự do hóa thương mại, hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng hơn được Hoa Kỳ
chú trọng. Thực tế đã chứng minh cho phương châm ấy của Hoa Kỳ thông qua việc Hoa
Kỳ đẩy mạnh kí kết các hiệp định trong các khối NAFTA, EU, APEC cũng như trong
tệ, tín dụng, kiềm chế được lạm phát, quản lý nợ nhà nước và giữ lãi suất ổn định ở mức
thấp, đồng thời với việc biết khai thác thế mạnh của mình là dầu mỏ, mía đường và du
lịch, nền kinh tế Mê-hi-cô đã dần hồi sinh. Mê-hi-cô không những huy động được
những nguồn tiết kiệm nội bộ nền kinh tế để đầu tư vào sản xuất mà còn thu hút được
nguồn FDI khả quan. Mức tăng trưởng cao nhất mà nền kinh tế Mê-hi-cô đạt được sau
khủng hoảng là 6,6% (năm 2000) và có giảm dần vào các năm sau đó. Tính đến
4/2/1995, để giúp Mê-hi-cô vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính, Hoa Kỳ và cộng đồng
tài chính quốc tế đã cấp một khoản tín dụng tổng cộng là 51,759 tỷ USD.[15]
3.2. Những thành tựu kinh tế của Mê-hi-cô trong thời gian qua
Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản
Bảng 7: Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản của Mê-hi-cô giai đoạn 2001-2006
Năm
Chỉ tiêu
200
1
2002 2003 2004 2005
GDP (% tăng so với năm trước) 0,2 0,8 1,6 4,4 2,9
GDP/người (nghìn USD) 6,2 6,4 9,1 6,4 10,0
Tỷ lệ thất nghiệp (%) 2,5 2,7 3,3 3,9 3,6
Tỷ lệ lạm phát (%) 6,4 5,0 4,6 4,7 4,0
Nguồn: Economic Indicator/Review of the economic situation of Mexico,
Juanuary 2006.
Giai đoạn 2001 đến nay, GDP của Mê-hi-cô tăng trưởng chậm do nền kinh tế
Mê-hi-cô phụ thuộc nhiều vào nền kinh tế Hoa Kỳ cả về FDI lẫn kim ngạch thương mại
hai chiều. Giai đoạn này, Hoa Kỳ gặp phải rất nhiều khó khăn do các biến động gây nên,
dẫn tới nền kinh tế tăng trưởng hết sức chậm chạp. Mặc dù vậy, nhờ kiềm chế được lạm
phát và ổn định giá thả nổi giữa đồng Peso và đồng đô la Mỹ nên GDP trên đầu người
của Mê-hi-cô vẫn tăng khá ổn định và bền vững, từ 5.900 USD/người (2000) lên 9.136
USD (2003) và 10.000 USD (2005). Mê-hi-cô đã gia nhập hàng ngũ các quốc gia có thu
nhập tính bằng USD/người vượt mức bình quân 8.238 USD/người của thế giới, trở