Đ Ề TÀI: “CHỈ ĐẠO, QUẢN LÝ DẠY HỌC TĂNG BUỔI THEO HÌNH THỨC
PHÂN HOÁ ĐỐI TƯỢNG NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TOÀN DIỆN CHO
HỌC SINH TIỂU HỌC”
I . ĐẶT VẤN ĐỀ.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X đã
xác định nhiệm vụ của Giáo dục& Đào tạo trong thời gian tới là : “Nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện, đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lí, nội dung,
phương pháp dạy và học; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá chấn
hưng nền giáo dục Việt Nam .”
… “Giáo dục tiểu học giúp học sinh hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát
triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ
bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN…” (Luật giáo dục
2005). Đổi mới chương trình, đổi mới phương pháp dạy học là con đường ngắn
nhất để đạt chất lượng và hiệu quả dạy theo mục tiêu trên. Điều này phụ thuộc chất
lượng đội ngũ, khả năng và tinh thần thái độ người học, cơ sở vật chất và các điều
kiện khác.
Có thể nói, đối với giáo dục Tiểu học, chủ trương học tăng buổi và học 2
buổi/ngày là giải pháp đúng nhằm nâng cao chất lượng toàn diện, tuy nhiên đối
tượng học sinh không ngang nhau về điều kiện và khả năng tiếp thu kiến thức.
Được học và quan điểm “Học thầy không tầy học bạn” là hoàn toàn đúng đắn,
nhưng với một số học sinh có năng khiếu thì việc phát hiện và bồi dưỡng theo năng
khiếu nên triển khai thế nào? Gắn việc bồi dưỡng vào chương trình tăng buổi và
học 2buổi /ngày cần chỉ đạo thế nào cho hiệu quả? Đây là bài toán không dễ đối
với các nhà trường, nhất là các trường chuẩn Quốc gia mức độ I, mức độ II. Vấn đề
đặt ra là cán bộ quản lý các trường Tiểu học cần tập trung chỉ đạo việc nâng cao
chất lượng dạy và học tăng buổi như thế nào?
Qua trăn trở, tìm giải pháp để tổ chức thực hiện, chúng tôi mạnh dạn triển
khai hướng dạy theo phân hoá đối tượng học sinh để đạt hiệu quả cao hơn trong
giảng dạy.
II. NHẬN THỨC CŨ – TÌNH TRẠNG CŨ.
vật chất, học sinh phải chịu thiệt thòi.
III. NHẬN THỨC MỚI - GIẢI PHÁP MỚI.
Trường tiểu học Cầu Giát được công nhận chuẩn Quốc gia mức I năm học
2004 – 2005. Năm học 2007 – 2008, trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ II. Cơ sở
vật chất trường được đánh giá là một trong những trường đẹp, hiện đại vào bậc
nhất trong huyện với: 16 phòng/16 lớp, có phòng Âm nhạc có 15 đàn Oocgan và
đầy đủ các nhạc cụ: phách, mõ, trống, đàn thập lục, đàn ghita, kèn…; phòng Mỹ
thuật có 30 giá vẽ; Phòng tin học với 15 máy vi tính; Phòng hoạt động động ngoại
khoá 110 m
2
với hệ thống tivi, video hệ thống đèn chiếu hiện đại và đầy đủ các
phòng chức năng khác. Trường có 23 giáo viên trực tiếp đứng lớp (ĐH: 14, CĐ:7),
trong đó có 03 giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi Quốc gia, 4 giáo viên giỏi Tỉnh, 8
giáo viên giỏi huyện và 7 giáo viên giỏi trường. Các giáo viên đều hăng say với
nghề nghiệp, luôn có ý thức phấn đấu vươn lên trong chuyên môn, có trách nhiệm
với học sinh và phụ huynh.
Từ các ưu thế trên, chúng tôi thấy rằng cần phải tận dụng khai thác hết tiềm
năng cơ sở vật chất; cần phải biết phát huy hết năng lực đội ngũ, sử dụng trí tuệ tập
thể không những chỉ trong chương trình chính khoá mà còn trong tổ chức dạy học
tăng buổi, trong các hoạt động khác để nâng cao chất lượng toàn diện.
Mặt khác, chúng tôi nhận thức sâu sắc rằng ở lứa tuổi tiểu học khả năng tự
học của học sinh còn hạn chế, do đó sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên là rất cần
thiết, chủ trương học 2buổi/ ngày đối với học sinh tiểu học là thiết thực. Học tăng
buổi để các em củng cố kiến thức cơ bản đã học ở chương trình buổi 1, nâng cao
các mảng, dạng trong chương trình, phát huy hết sở trường năng khiếu và được học
các môn học các em yêu thích, được tiếp cận với công nghệ thông tin, tiếng nước
ngoài…
Vì lẽ đó, tổ chức học 2 buổi/ngày như thế nào để có hiệu quả cao nhất luôn
là nỗi băn khoăn trăn trở của ban giám hiệu nhà trường, là vấn đề được bàn luận
- Hàng năm, tổ chức khảo sát chất lượng học sinh xếp học lực giỏi (Dù
huyện, tỉnh không tổ chức thi) để giáo viên có thêm căn cứ phân loại học sinh và
ghi điểm vào cột năng lực đặc biệt ở học bạ vào cuối năm học làm cơ sở cho lần
phân loại ở năm học sau.
b. Phân loại đúng đối tượng học sinh
- Đầu năm học mới, giáo viên nhận lớp và nhận danh sách phân loại của cuối
năm học trước. Dựa vào bảng tổng hợp của giáo viên cũ bàn giao, dựa vào kết quả
năng lực đặc biệt ghi ở học bạ, giáo viên chủ nhiệm tiếp tục theo dõi, kiểm tra
trong 3 tuần đầu để kiểm định kết quả.
- Sau khi theo dõi, kết hợp với các thông số của năm học trước, giáo viên
chủ nhiệm tiến hành phân loại học sinh , các khối tổng hợp học sinh theo diện khá,
giỏi hoặc yếu, kém của các bộ môn.
- Trường tổ chức khảo sát năng lực và nguyện vọng của học sinh qua một số
bài kiểm tra dưới hình thức Test (Đề bài gồm: giải một bài toán, 1 bài Tiếng Việt
liên quan đến kiến thức cơ bản, 1 bài Toán, 1 bài Tiếng Việt cần có sự sáng tạo và
trí tuệ, 1 câu hỏi về TNXH, 1 câu hỏi về hiểu biết cuộc sống, 1- 2 câu hỏi về khả
năng, năng khiếu, 1 câu nguyện vọng của học sinh).
Dựa vào các kết quả khảo sát phân loại đối tượng học sinh như sau:
+ Học sinh có năng khiếu nổi trội (Tiếng Việt, Toán, Âm nhạc, Mĩ thuật…)
+ Học sinh trung bình, khá.
+ Học sinh yếu (Cụ thể từng phần, từng môn hoặc do khiếm khuyết về trí tuệ
và các nguyên nhân khác).
- Giáo viên chủ nhiệm thông báo cho phụ huynh biết được kết quả phân loại
và năng lực của con em họ, đồng thời yêu cầu phụ huynh và học sinh đề đạt
nguyện vọng và đăng ký học các môn năng khiếu.
c. Bố trí học sinh theo các nhóm đối tượng đã được khảo sát
- Các giáo viên trong khối sau khi nắm rõ đối tượng học sinh và nguyện
vọng từng em, phân các em theo từng nhóm đối tượng. Cụ thể:
+ Nhóm lớp học sinh giỏi và cận giỏi (Học sinh có năng khiếu).
năng lực, điều kiện và đảm bảo về mặt bằng lao động.
- Dựa vào thế mạnh của từng giáo viên (năng lực, trình độ, năng khiếu…)
phân công giáo viên thành các nhóm cơ bản như sau:
+ Nhóm giáo viên dạy cho học sinh khá, giỏi.
+ Nhóm giáo viên phụ đạo học sinh yếu.
+ Nhóm giáo viên dạy các môn năng khiếu, tự chọn
+ Nhóm giáo viên tổ chức các hoạt động ngoại khoá.
- Số giáo viên không nằm trong các nhóm trên, dựa vào mặt bằng lao động
chung, nhà trường phân công theo thời khoá biểu tăng buổi nhưng vẫn đảm bảo
chuyên môn sâu.
- Lập kế hoạch dạy tăng buổi chi tiết, cụ thể theo năm, tháng, tuần. Xây
dựng thời khoá biểu phù hợp với mỗi giáo viên, mỗi khối lớp, mỗi môn học.
(Thời khoá biểu có phần cứng và phần mềm. Phần cứng là chương trình dạy
phân mảng kiến thức cho các đối tượng học sinh ở các môn Toán, Tiếng Việt và
Luyện chữ. Phần mềm có thể điều chỉnh theo tháng, học kỳ cho các môn còn lại).
- Xây dựng kế hoạch chi trả tăng buổi hợp lý, công bằng, dân chủ nhưng
không cào bằng. Có cơ chế động viên, khích lệ với những giáo viên đạt hiệu quả
cao trong giảng dạy.
GIẢI PHÁP 3: Trách nhiệm của ban giám hiệu, tổ chuyên môn, hội đồng
chuyên môn.
a) Định hướng cách chỉ đạo dạy học tăng buổi của ban lãnh đạo nhà trường
- Lãnh đạo nhà trường nghiên cứu kỹ và nắm vững các công văn hướng dẫn
về dạy học 2 buổi/ngày của Bộ, Sở, Phòng, thống nhất cách chỉ đạo dạy học 2
buổi/ngày.
- Đánh giá một cách nghiêm túc việc thực hiện dạy học tăng buổi của trường
trong những năm trước. Rút kinh nghiệm về cách chỉ đạo, cách thực hiện, cách
kiểm tra đánh giá và kết quả đạt được.
- Nhận định đúng tình hình thực tế của nhà trường trong năm học mới,
nghiên cứu kỹ nhiệm vụ năm học và định hướng chỉ đạo của Phòng, Sở trong việc
buổi cần điều chỉnh tăng thêm 1 đến 2 tiết/ tuần. Tiếp tục rèn phương pháp tự học.
+ Đối với lớp 5: Một mặt yêu cầu giáo viên ôn tập, củng cố các mảng, dạng
đã học trong toàn cấp, mặt khác bổ sung, phất triển một số dạng mới, đặc biệt chú
trọng hướng dẫn và rèn cách tự học, tự nghiên cứu tài liệu.
- Mỗi dạng, mảng tổ xây dựng một chuyên đề về cách dạy. Hội đồng chuyên
môn nhà trường nghiên cứu, định hướng cho giáo viên thấy được sự liên kết kiến
thức trong toàn cấp, mỗi đơn vị bài học phải được kế thừa tính tương tự từ kiến
thức cơ bản đã học và có thể phát triển kiến thức ở bài tiếp theo.
- Bố trí dạy các dạng, mảng phù hợp với chương trình chính khoá.
- Bàn bạc để đi đến thống nhất dạy cách dạy phù hợp với từng đối tượng:
* Với học sinh khá, giỏi: kiến thức cần chốt là cách phát triển nâng cao từ
bài cơ bản; cách tự mở rộng, tự tìm tòi các bài tập cùng dạng, cùng mảng đã học,
tự sáng tác đề bài theo yêu cầu. Đối với học sinh có năng khiếu nổi trội về các môn
khác chúng tôi bố trí các em học theo lớp riêng để các em có điều kịên phát triển
theo năng khiếu sở trường cá nhân.
* Với học sinh trung bình và yếu: các dạng mảng là phần kiến thức cơ bản
được rèn luyện để học sinh nắm vững, nhớ kỹ bài học, vận dụng được công thức,
chuyển hóa công thức, bài học dưới hình thức sân chơi… và bố trí giáo viên kèm
cặp thêm (Đối với học sinh yếu ).
* Trong qua trình dạy tăng buổi cũng như dạy chính khoá trường giao cho
từng thành viên của hội đồng chuyên môn phụ trách theo mỗi khối. Ban giám hiệu
nhà trường phân công từng người chi đạo theo tính chất đặc thù chuyên sâu. Yêu
cầu mỗi giáo viên phải có nhật ký lên lớp. Trong các giờ dạy, nếu phát sinh những
tình huống lý thú hoặc phát hiện ra những lỗi kiến thức học sinh dễ mắc mà chưa
giải quyết ngay được thì ghi vào nhật ký để tiếp tục giải quyết trong các buổi học
sau.
- Cuối mỗi phần, mỗi dạng yêu cầu giáo viên ra đề cho học sinh tự kiểm tra
ở nhà dưới sự giám sát của phụ huynh (Khi thấy cần thiết – vì cơ bản kiến thức đã
được giải quyết ở lớp đối với học sinh đã được học 2buổi/ngày) .
b) Đánh giá:
- Các căn cứ để đánh giá giáo viên (Quy về đểm số):
+Kết quả chất lượng học sinh (Hệ số 4)
+ Giờ dạy ( Hệ số 2)
+ Giáo án, Tích luỹ chuyên môn và các hồ sơ khác có liên quan (Hệ số 1)
Một số đề kiểm tra tăng buổi Lớp 3 ( Phần phụ lục )
IV. KẾT QUẢ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
1. Kết quả đạt được :
Vận dụng các biện pháp trên trong quá trình chỉ đạo dạy học tăng buổi kết
hợp với sự điều chỉnh, bổ sung, chỉ đạo kịp thời của phòng GD&ĐT Quỳnh Lưu
cùng với việc định hướng đúng và quản lí có hiệu quả các hoạt động dạy học khác,
từ năm học 2004 - 2005 đến nay trường tiểu học Cầu Giát đã đạt được những kết
quả sau :
a, Về chất lượng :
* Kết quả phân loạ i theo nhóm đ ố i tư ợng
Khối T.số
Tiếng Việt Toán
Khoa-Sử-
Địa
TN&XH Âm nhạc Mĩ Thuật
NK
khác
G
K,TB
Y G
K.
TB
Y G
K,
TB
Xuân Hương cao nhất.
* Chấ t lư ợ ng đ ại trà.
NĂM HỌC
XẾP LOẠI HỌC LỰC
XẾP LOẠI HẠNH
KIỂM
TỈ LỆ
TNTH
HỌC SINH GIỎI
GIỎI KHÁ T.B YẾU THĐĐ CĐ TỈNH HUYỆNTRƯỜNG
2004 - 2005
40,8 34,2 24,1 0,9 100 0 100 41 Không thi 227
2005 - 2006
40,8 37,1 21,4 0,9 100 0 100 Không thi 5 (TDTT) 242
2006 - 2007
41,5 34,5 23,2 0,8 100 0 100 Không thi Không thi 190
2007 - 2008
45,0 34,8 19,4 0,8 100 0 100 1 (TDTT) 6 (TDTT) 238
c, Chất lượng các hoạt động khác :
Song song với kết quả dạy và học, các hoạt động khác của nhà trường được
phát triển đồng bộ. Từ những năm 2004 - 2005 đến nay phong trào văn hoá văn
nghệ - thể dục thể thao cũng như các phong trào khác của nhà trường ngày càng
phát triển mạnh mẽ. Kết quả từ các cuộc thi HKPĐ; Hội diễn văn nghệ; các cuộc
thi vẽ tranh, các cuộc thi do Hội đồng đội huyện tổ chức cho thấy phong trào
trường tiểu học Cầu Giát đang không ngừng phát triển. Chúng tôi có thể điểm qua
một số giải thưởng mà các em học sinh đã đạt được như sau:
- Giải nhì tỉnh về vẽ tranh “Bảo vệ nguồn nước” năm học 2004 – 2005.
- Giải nhì huyện về cuộc thi “Tiếng hát chim Sơn Ca” năm học 2004 – 2005.
- Giải nhất huyện, giải ba tỉnh về thi Phụ trách sao giỏi năm học 2006 – 2007.
- Giải nhất huyện bóng bàn (đơn nam, đôi nam, đơn nữ), bật xa nam nữ ; giải
Chỉ đạo dạy học 2 buổi/ngày đạt hiệu quả là mong muốn của các ngành, các cấp
đối với giáo dục Tiểu học hiện nay. Những giải pháp chúng tôi đã chỉ đạo và thực
hiện trong việc giảng dạy buổi thứ 2 tại Trường Tiểu học Cầu Giát những năm qua
đã đạt được những kết quả nhất định. Chúng tôi hy vọng rằng với đề tài này, chúng
tôi sẽ được nhận sự góp ý, giúp đỡ từ các nhà quản lý trường học, từ các ngành các
cấp liên quan để các giải pháp của chúng tôi hoàn thiện hơn và chất lượng của
Trường Tiểu học Cầu Giát không ngừng phát triển.
Xin chân thành cảm ơn!
Cầu Giát ngày 20 tháng 5 năm 2008
Nhóm tác giả
Hoàng Thị Thư
Nguyễn Thị Hoài Anh
Nguyễn Thị ThuPHỤ LỤC
MỘT SỐ ĐỀ KIỂM TRA TĂNG BUỔI LỚP 3:
ĐỀ KIỂM TRA TĂNG BUỔI HỌC KỲ I - 2007 – 2008
Môn: Toán Lớp: 3 (khá-giỏi)
Bài 1 (2đ) Đặt tính rồi tính:
122
4×
247
4×
261 : 3 845 : 7
Bài 2: ( 2.0 đ) Tính giá trị biểu thức:
157
×
mượn
tàn
đình
tối
Câu 2 a(1,5 điểm): Gạch chân dưới các từ chỉ hoạt động trong đoạn văn sau:
Mùa xuân, cây gạo gọi đến bao nhiêu là chim. Chúng nó gọi nhau, trêu
ghẹo nhau, trò chuyện ríu rít.
… Hết mùa hoa, chim chóc cũng vãn. Cây đứng im lìm cao lớn như người
cha che chở cho những đứa con.
b) Ghi lại câu văn trong đoạn văn trên có chứa phép so sánh.
Câu 3 (2,0 điểm) Gạch 1 gạch dưới bộ phận trả lời cho câu hỏi “Ai, con gì, cấi
gì?”. Gạch 2 gạch dưới bộ phận trả lời cho câu hỏi “Thế nào?” trong mỗi câu sau:
a) Thân cá thu tròn lẳn, bóng loáng.
b) Trời mỗi lúc một tối sầm lại.
Câu 4 (1,0 điểm) Cho khổ thơ:
Em yêu nhà em
Hàng xoan trước ngõ
Hoa xao xuyến nở
Như mây từng chùm
Em cảm nhận được điều gì qua khổ thơ trên?
Câu 5 (4,0 điểm) Hãy viết một đoạn văn ngằn ( 8-10 câu )kể về một cảnh đẹp quê
hương mà em yêu thích nhất
TRƯỜNG TIỂU HỌC CẦU GIÁT
ĐỀ KIỂM TRA TĂNG BUỔI CUỐI NĂM HỌC 2007 – 2008
Môn: Tiếng Việt Lớp: 3 (khá-giỏi)
Thời gian làm bài: 60 phút
********************
Bài 2: ( 2.0 đ)
125 x 4 + 6 … 4 + 6 x 125 1724 : 4 … 1724 : 2 x2
8m 3dm …… 6m 9dm 1dam 4m … 15 m
Bài 3: ( 2.0 đ) Tìm tổng tất cả các số có 3 chữ số khác nhau lập từ các chữ số 1, 2,
3.
Bài 4: ( 2.0 đ) Dũng hỏi: “ Năm nay mẹ bao nhiêu tuổi ạ? ”. Mẹ trả lời: “Mẹ sinh
con năm mẹ 32 tuổi. Năm nay tuổi con bằng
6
1
tổng số tuổi hai mẹ con mình”. Hãy
tính hộ Dũng xem năm nay mẹ bao nhiêu tuổi ?
Bài 5: ( 2.0 đ) Chu vi một khu vườn hình chữ nhật gấp 6 lần chiều rộng khu vườn
đó. Hãy tính chu vi và diện tích khu vườn biết chiều dài khu vườn hình chữ nhật là
36 m.
TRƯỜNG TIỂU HỌC CẦU GIÁTHọ và tên: ………………….
………
ĐỀ KIỂM TRA TĂNG BUỔI CUỐI KỲ
1
MÔN: TIẾNG ANH LỚP 3 (40
>
<
=
Lớp: …………
phút)