1 Huy động các nguồn lực xã hội trong quá trình xã
hội hóa giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục tại các trường tiểu học quận Ngô Quyền
thành phố Hải Phòng
Trịnh Thị Minh
Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Quản lý giáo dục; Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn: PGS. TS: Vũ Cao Đàm
Năm bảo vệ: 2008 Abstract: Tổng quan cơ sở lý luận về việc huy động nguồn lực xã hội (NLXH) trong quá
trình thực hiện xã hội hóa giáo dục (XHHGD): đưa ra một số khái niệm cơ bản, giới thiệu
mục tiêu, nội dung, đối tượng, các nguyên tắc chung khi tham gia huy động cộng đồng, so
sánh ý nghĩa của XHHGD và huy động các NLXH. Khái quát đặc điểm tình hình kinh tế, xã
hội tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nói chung và đặc điểm tình hình giáo dục tại
quận này nói riêng. Khảo sát, nghiên cứu thực trạng việc huy động các NLXH trong quá
trình XHHGD ở các trường Tiểu học quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Đề xuất một
số nhóm biện pháp nhằm huy động các NLXH để thực hiện XHHGD ở các trường Tiểu học
quận Ngô Quyền, Hải Phòng.
Keywords: Giáo dục tiểu học; Quản lý giáo dục; Xã hội hóa giáo dục; Hải Phòng
Content
Thực tế hiện nay, nhiều người nhận thức chưa đúng, thậm chí còn hiểu sai về khái niệm và
bản chất của XHHGD, họ cho rằng XHHGD chỉ là đóng góp các loại tiền cho giáo dục, chỉ là sự
huy động vật lực mà thôi. ở một số địa phương, cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể
chưa hiểu được ý nghĩa to lớn và vai trò vô cùng quan trọng của công tác XHHGD, còn coi đó là
trách nhiệm của nhà trường. Do đó giáo dục gặp rất nhiều khó khăn và rơi vào thế đơn độc.
Trong nhiều năm qua, chúng ta chưa thu hút được sự đầu tư của các nguồn lực xã hội cho giáo
dục mà chỉ trông chờ vào ngân sách, sự chỉ đạo của Nhà nước.
Ngân sách đầu tư cho giáo dục còn hạn chế, mà trong mỗi nhà trường còn gặp nhiều khó khăn
về cơ sở vật chất, trường lớp, phương tiện học tập và trình độ dân trí còn thấp song chúng ta
không thể ngồi chờ đến khi có đầy đủ các điều kiện cần thiết để phát triển mà ta phải tìm ra con đư-
ờng ngắn nhất, có hiệu quả cao nhất đó là phải huy động các nguồn lực trong quá trình XHHGD, từ
đó góp phần tích cực để giải quyết những khó khăn trước mắt của địa phương, của từng ngành học.
Làm cho giáo dục phát triển mạnh mẽ, đáp ứng được yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Thực trạng của giáo dục Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng được sự phát triển của đất nước.
Vấn đề đặt ra là phải đổi mới giáo dục. Muốn làm cho giáo dục trở lại với bản chất xã hội đích thực
của nó và phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước ta phải làm tốt công tác XHHGD, cần huy
động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, của nhân dân vì giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn
dân, của mọi nhà, mọi người. Làm sao cho mỗi con người đều được thụ hưởng thành quả từ giáo
dục và ngược lại mọi người cũng phải có trách nhiệm chăm lo cho giáo duc, đóng góp sức lực, trí
tuệ, tiền của cho giáo dục. Đây là giải pháp được nhiều người đề cập tới.
Trong các văn kiện và công luận, XHHGD là chủ đề được bàn thường xuyên, tuy nhiên trong
khi bàn về XHHGD người ta có xu hướng thiên lệch, chưa toàn diện về XHHGD. 3 Đề tài này mong muốn làm rõ XHHGD cả về lý luận và thực tiễn; đặc biệt tập trung vào nội dung:
Huy động các nguồn lực xã hội trong quá trình XHHGD nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tại các trư-
Tập trung khảo sát điều tra về các nguồn lực xã hội tham gia XHHGD thuộc địa bàn quận
Ngô Quyền thành phố Hải Phòng, thu thập số liệu, phát hiện vấn đề mới. Cụ thể như sau:
- Các trường tiểu học quận Ngô Quyền, thành phố Hải phòng. 4 - Đối tượng khảo sát: Cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học sinh và một số tổ chức của phường,
cán bộ lãnh đạo chủ chốt của, của trường, của quận.
6. Vấn đề nghiên cứu
- Các nguồn lực xã hội cho giáo dục bao gồm những nguồn lực nào?
- Bằng cách nào để huy động các nguồn lực xã hội trong quá trình XHHGD ở các trường tiểu học
quận Ngô Quyền phù hợp với điều kiện của Hải Phòng?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Trong xã hội nói chung và quận Ngô Quyền nói riêng luôn tiềm ẩn và tồn tại các nguồn lực đa
dạng như: đất, nước, không khí, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực lao động, trí tuệ con người, khoa
học, công nghệ, cơ sở vật chất và các tiềm năng kinh tế khác, bao gồm nguồn lực tinh thần và vật
chất. Những nguồn lực này có cả ở trong và ngoài nhà trường, nó rất quan trọng, và cần huy động
bằng chính khả năng của nhà trường, trên cơ sở đó để huy động các nguồn lực xã hội nhằm thúc đẩy
quá trình XHHGD ở các trường tiểu học quận Ngô Quyền đạt kết quả tốt nhất.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
1. Phương pháp quan sát.
2. Phương pháp phỏng vấn.
3. Phương pháp khảo sát.
4. Phương pháp triển khai thí điểm và nhân rộng điển hình.
9. Các luận cứ dự kiến (Nội dung của đề tài)
Nội dung nghiên cứu đề tài chủ yếu tập trung ở 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận: Làm rõ các khái niệm XHHGD và các khái niệm có liên quan đến
XHHGD, bản chất của XHHGD; khái niệm về nguồn lực xã hội trong quá trình XHHGD nhằm
giá trị, các khung mẫu, hành vi xã hội giữa các cá thể và các nhóm xã hội. Như vậy, ta có thể
hiểu XHH một lĩnh vực nào đó, là quá trình tương tác, chà xát, lan tỏa các chuẩn mực, các giá
trị, các khung mẫu, hành vi xã hội giữa các cá thể và các nhóm xã hội trên lĩnh vực đó.
1.4. Khái niệm xã hội hoá giáo dục
Từ hai khái niệm XHH (theo quan điểm xã hội học), khái niệm giáo dục (theo quan điểm
giáo dục học) nêu ở trên ta có thể hiểu xã hội hóa trên lĩnh vực giáo dục (XHHGD) là quá trình
tương tác, lan tỏa các chuẩn mực, các giá trị, các khung hình mẫu, các hành vi xã hội giữa các cá
thể và các nhóm cá thể trên lĩnh vực giáo dục. Làm cho mọi người hiểu về giáo dục, giáo dục đến
với mọi nhà, mọi người, làm cho mọi người được thụ hưởng thành quả của giáo dục, góp phần
nâng cao dân trí, tạo ra một phong trào, một xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội,
của đất nước, đồng thời mọi người có trách nhiệm tham gia giáo dục và làm cho giáo dục phát
triển. 6 Bản chất của XHHGD là sự tham gia trực tiếp của xã hội vào giáo dục trên cả hai mặt tiếp
nhận giáo dục và đóng góp vào sự phát triển của giáo dục. Hai mặt của XHHGD thể hiện mọi
người có nghĩa vụ chăm lo cho giáo dục để giáo dục phục vụ mọi người; mọi người được quyền
đi học, học thường xuyên, học suốt đời
Hiện nay xã hội hoá (trong đó XHHGD) do bị hiểu sai hay cố ý làm không đúng nên đang
bị lạm dụng kinh khủng. Cứ huy động sức dân thật nhiều, rồi núp dưới chiêu bài “XHH” là xong.
Hầu hết các ngành, các lĩnh vực đời sống xã hội có sử dụng XHH để huy động tiền của, công sức
của nhân dân.“Khoan sức dân” là điều ngày càng ít người nghĩ tới. Một số người thường nghĩ
XHH dịch vụ giáo dục là sự “đóng góp” của người dân với tư cách là người hưởng dịch vụ mà
chưa thấy được đó thực sự là một cơ chế điều phối nguồn lực của xã hội.
Để hiểu toàn diện về XHHGD ta tìm hiểu thêm về nội dung cơ bản và mục tiêu của
XHHGD.
1.4.1. Nội dung cơ bản của xã hội hoá giáo dục
ngoài nhà trường.
1.6. Huy động các nguồn lực xã hội
Huy động các nguồn lực xã hội: là ta tác động đến các nguồn lực của xã hội bằng nhiều
giải pháp và cách thức khác nhau, để thu hút và kéo các nguồn lực xã hội ấy về với giáo dục,
đồng thời thúc đẩy giáo dục phát triển.
1.6.1. Mục đích huy động các nguồn lực xã hội
Để thu hút các nguồn lực vật chất, phi vật chất, để thúc đẩy quá trình giáo dục nhằm xây
dựng các điều kiện thiết yếu phục vụ giáo dục ở nhà trường như: CSVC, trường lớp, đội ngũ, cán
bộ giáo việc; tạo môi trường giáo dục trong sạch, lành mạnh thống nhất giữa nhà trường - gia
đình - xã hội góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện mục tiêu đào tạo con
người Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới của đất nước.
Thực hiện đổi mới chương trình SGK, đổi mới mục tiêu giáo dục.
1.6.2. Nội dung huy động nguồn lực xã hội
Để tạo ra các nguồn lực phục vụ việc xây dựng một môi trường giáo dục tốt nhất, chăm lo
sự nghiệp giáo dục là phải huy động cộng đồng trên cả hai nội dung: nguồn lực vật chất và phi
vật chất.
1.6.3. Đối tượng huy động bao gồm các nguồn lực trong và ngoài nhà trường
Về nguồn lực xã hội trong nhà trường (Nguồn nội lực):
Nguồn nội lực này ẩn chứa ngay trong nhà trường. đó là con người, là CSVC, các tiềm
năng thế mạnh khác
Nguồn lực xã hội ngoài nhà trường (Nguồn ngoại lực):
Đây là nguồn lực mạnh mẽ to lớn đầy tiềm năng mà ta cần tận dụng và khai thác để thu
hút các nguồn lực xã hội cho giáo dục nhằm thúc đẩy giáo dục phát triển, đáp ứng nhu cầu học 8 tập của nhân dân và sự phát triển của đất nước đây cũng là nguồn lực, mang tính quyết định sự
thành bại của quá trình XHHGD. Trong các nguồn lực xã hội thì mỗi nguồn lực có một vị trí tầm
9 1.9. Động lực của xã hội hoá giáo dục
XHHGD với mục tiêu thúc đẩy sự phát triển giáo dục, phát triển đất nước đáp ứng nhu
cầu học tập của nhân dân. Muốn thúc đẩy nhanh quá trình XHHGD thì ta phải tăng cường huy
động các nguồn lực xã hội, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tham gia làm giáo dục,
đồng thời mang lại những lợi ích từ giáo dục đến với mọi người dân. Xây dựng xã hội học tập,
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng sự phát triển của xã hội và nhu
cầu của nhân dân.
Kết luận chƣơng 1
Ở chương này tác giả đã tập trung nghiên cứu xử lý về mặt lý thuyết các khái niệm và
quan hệ có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu của luận văn.
Về XHHGD luận văn đã sử dụng các khái niệm của XHH và XHHGD vận dụng trong quản lý
giáo dục. Bản chất XHHGD được hiểu trên mọi bình diện khái quát, không chỉ giới hạn ở việc
huy động đóng góp chia sẻ các trách nhiệm vật chất với nhà trường và giáo dục mà ở trên các
lĩnh vực khác nhau.
Trong XHHGD chúng tôi đã nhấn mạnh việc XHH các nguồn lực xã hội bao gồm nguồn
lực nội sinh (nội lực) và nguồn lực ngoại sinh (ngoại lực). Thành phần cơ cấu, nội dung và mối
quan hệ tương tác giữa hai nguồn lực này. Qua đây đã làm rõ hơn về nguồn lực xã hội để từ đó ta
tận dụng khai thác được nhiều nhất nguồn lực này cho nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân. Đồng thời nó trang bị cho mình vốn kiến
thức khoa học để triển khai việc huy động các nguồn lực xã hội trong quá trình XHHGD có cơ sở
và đạt hiệu quả. CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC VÀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC XÃ HỘI Ở
QUẬN NGÔ QUYỀN
vượt chuẩn %
GVGCSTĐ
( Từ cấp quận
trở lên) %
Tỉ lệ
Đảng viên
%
Mầm non : 289
97,9%
39,9
24.6
42,5
Tiểu học: 396
99,0
71,0
38,8
49,0
THCS : 446
99,0
62,1
32,6
32,5
2.2.2. Về chất lượng giáo dục
Chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực. Số học sinh đạt giải trong các kỳ thi
HSG cấp quận, cấp thành phố và cấp quốc gia được giữ vững và mỗi năm số lượng cũng như
chất lượng được nâng cao. Quận Ngô Quyền luôn ở vị trí tốp đầu thành phố.
Về mầm non: Tỷ lệ trong độ tuổi mầm non đạt kênh A hàng năm là 97%; Kênh B hàng
năm 3%; Không có trẻ kênh C về sức khoẻ.
Tiểu học: Tỷ lệ học sinh tiểu học được học 2 buổi/ ngày là 71,2% và được chăm nuôi bán
trú là 51,5%. Số học sinh được xếp loại văn hoá giỏi hàng năm ở cấp tiểu học từ 36% đến 41%;
Anh, Châu Á-Thái Bình Dương. Các nước Châu Mĩ la tinh như Brazil, Colombia Tại In-đô-nê-
xi-a. Một số quốc gia Chân Âu, Qua tìm hiểu sơ bộ kinh nghiệm XHHGD của một số quốc gia
nêu trên, chúng tôi nhận thấy các quốc gia đó vận dụng sáng tạo XHHGD vào tình hình cụ thể
của mình. Cách khai thác nguồn lực rất phong phú, rất linh hoạt tạo ra những bước tiến nhảy vọt
trong giáo dục. Từ kinh nghiệm, cách làm của các quốc gia trên, Việt Nam có thể vận dụng vào
tình hình cụ thể của mình để từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo 12 2.3.2. Việc thực hiện xã hội hoá giáo dục ở Việt Nam
Bước vào thời kì đổi mới (từ năm 1986) Việt Nam có chiến lược đầu tư phát triển giáo dục.
Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Trong thời
kì đổi mới, Đảng và Nhà nước nhấn mạnh tầm quan trọng của XHHGD, điều này thể hiện rõ
trong Luật giáo dục năm 1998 và Luật giáo dục sửa đổi bổ sung năm 2005. Điều 12 Luật giáo
dục 2005 về xã hội hoá giáo dục khẳng định: “Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự
nghiệp của của Nhà nước và của toàn dân”.
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các
loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích huy động và tạo điều kiện để tổ chức,
cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục.
Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với
nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn’’
[15].
Việc thực hiện XHHGD ở Việt Nam chính thức được đưa vào luật. Bộ GD&ĐT có đề án
XHHGD trên phạm vi toàn lãnh thổ với tất cả các cấp học, bậc học [4].
Cơ chế vận hành chưa được thực hiện rõ ràng. Vai trò của Nhà nước trong quá trình thực hiện
XHHGD, trách nhiệm của các ban ngành đoàn thể xã hội chưa được cụ thể hoá, chưa rõ ràng và
chưa đồng bộ trong các văn bản qui định của Nhà nước. Chế độ chính sách cho giáo dục còn bất
hợp lí. Việc huy động đóng góp cho giáo dục, sự điều tiết của Nhà nước còn chậm.
huy động nguồn XHHGD. Tập trung cho đề án đưa tin học vào nhà trường.
Nghị quyết 14/NQ/TƯ và Nghị quyết 57/HĐND thành phố.
Trong 5 năm qua các trường trong quận đã huy động được hàng chục tỉ đồng cho xây dựng và
phát triển các trường học, 100% các trường học của quận đều được kiên cố hóa, toàn quận đã
xây dựng được 7 trường chuẩn quốc gia, 100% các trường đã có phòng máy vi tính được nối
mạng. Các trường tiểu học, đã tổ chức huy động bằng nhiều hình thức và thu hút được đông đảo
lực lượng tham gia. Có nhiều điển hình về kết quả XHHGD.
2.4.2. Kết quả huy động nguồn lực xã hội hoá giáo dục từ năm 2004 đến năm 2008
30 trường trên địa bàn quận với cả 3 bậc học qua bảng tổng hợp sau:
Bảng tổng hợp kết quả huy động XHHGD ở 30 trường.
Qua khảo sát cho thấy trong những năm qua, các bậc học đã tập trung huy động các cơ sở
vật chất thiết yếu phục vụ việc học tập của các em học sinh, huy động được sự đầu tư các trang
thiết bị hiện đại để thực hiện đổi mới giảng dạy .
Nhiều năm qua, nhờ có công tác XHHGD mà điều kiện dạy và học của nhiều trường trong quận
không ngừng thay đổi. Chất lượng giáo dục toàn diện ngày càng được nâng cao
* Khó khăn trong công tác XHHGD của giáo dục hiện nay là người chuyên làm công tác
XHHGD không có; hầu hết cha mẹ học sinh làm tự nguyện, không được trang bị kiến thức nhất
định về công tác XHHG để giới thiệu tuyên truyền. 14 Nhiều người hiểu về XHHGD còn rất mơ hồ, chưa có cơ chế và chưa có sự phối hợp đồng bộ
giữa các ban ngành đoàn thể, còn đùn đẩy, né tránh.
“Báo cáo XHHGD quận Ngô Quyền tháng 8/2008”
Trong những năm qua các trường học quận Ngô Quyền đã tích cực tham gia công tác XHHGD.
Các trường đã vào cuộc và phát huy tốt khả năng nội lực của nhà trường. các đồng chí CBQL và
giáo viên đều nhập cuộc. Các trường có nhiều biện pháp tổ chức và triển khai khá bài bản và
theo quy trình chặt chẽ. 100% các trường đã huy động được PHHS tham gia. Tuy nhiên việc huy
nhiều, có tới 72% cho XHHGD là huy động đóng góp. Đây là điều không thể tránh khỏi và đặt ra
vấn đề cần phải tăng cường tuyên truyền nhiều hơn nữa để mọi người hiểu rõ, hiểu đúng về
XHHGD. Số người hiểu một cách tương đối đầy đủ về bản chất XHHGD còn ít (23,33%) ngay
cả các lãnh đạo và CBQL mới có 50% là hiểu đúng, còn lại hiểu chưa đầy đủ. Số PHHS hiểu
đúng còn quá ít. Do đó cần tăng cường nhận thức cho mọi người về XHHGD.
2.4.3.2. Nhận định về nôi dung, mức độ quan trọng của việc huy động cộng đồng ở các nội dung
thông qua bảng sau
Bảng 2.2: Tầm quan trọng của nội dung huy động các nguồn lực
Qua kết quả trên cho thấy: Các nội dung huy động đều rát cần thiết, về công tác PCGD
chưa được quan tâm đúng mức( 65%) cho rằng ít quan trọng và không quan trọng, chất lượng
giáo dục còn coi là việc của nhà trường (63,7%) cho rằng ít quan trọng và không quan trọng.
Qua mẫu khảo sát thì ở các mức độ khác nhau của tầm quan trọng ta thấy:
Đóng góp kinh phí là 100%. Xây dựng cảnh quan môi trường là 61,5 %.
PCGD là 35,% : Xây dựng chương trình giáo dục: 41,6%.
Nâng cao chất lượng giáo dục (chỉ có 36,4 %).
Kết quả này cho ta thấy có thể họ cho rẵng trách nhiêm của mọi người là chỉ biết đóng
góp, còn chất lượng giáo dục là do nhà trường, điều đáng nói ở đây là ngay đôi ngũ giáo viên
cũng có tới 64% cho rằng huy động XHHGD ít ảnh hưởng hoặc không ảnh hưởng tới chất lương
giáo dục của nhà trường. Đặc biệt PCGD mọi người đều không thấy quan trọng và trong thực tế
họ đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Qua đó cần tăng cường khâu nhận thức.
2.4.3.3. Khảo sát việc nhận thức về nhiệm vụ của quá trình XHHGD
CBQL: 5; GV: 16; CMHS: 25; Các tổ cức đoàn thể: 4
Bảng 2.3 : Nhận thức về nhiệm vụ của quá trình XHHGD
Kết quả thống kê trên cho thấy nhận thức của các đối tượng được điều tra về lực
lượng tham gia thực hiện XHHGD rất rõ ràng. Đã xác định thực hiện XHHGD là nhiệm vụ của
mọi tổ chức, gia đình và cá nhân chứ không chỉ riêng của ngành giáo dục (Quản lý: 100%; giáo
viên: 75%; CMHS: 40% ; các đoàn thể : 50%). Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận giáo viên và
CMHS quan niệm XHHGD chỉ là nhiệm vụ của ngành giáo dục, như vậy chưa nhận thức đầy đủ
về lực lượng tham gia XHHGD, chưa hiểu rõ khái niệm XHHGD, từ nhận thức này dẫn tới tình
trạng nhiều người chưa thấy hêt được trách nhiệm của mình với giáo dục, do đó chưa nỗ lực
Qua thống kê cho thấy:
Kết quả huy động và chất lượng giáo dục giáo dục có quan hệ chặt chẽ với nhau.
So với năm 2004 thì kết quả năm 2008 việc huy đông XHHGD tăng vượt bậc và kết quả
giáo dục cũng được nâng lên rõ rệt.
Tuy nhiên, việc huy động ở các trưòng diễn ra chưa đồng đều, còn chênh nhau rất nhiều, do
đó cần quan tâm chỉ đạo toàn diện, nhân rộng các điển hình. 17 Qua thực tế đã chứng minh, muốn nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện phải làm tốt việc
huy động các nguồn lực trong quá trình XHHGD. điều này hoàn toàn
Mục tiêu của XHHGD là thúc đẩy giáo dục phát triển. nên những điều kiện vật chất để nâng
cao chất luợng giáo dục” [27, tr. 29].
Những đơn vị làm tốt việc huy động các nguồn lực và phát huy tốt nguồn nội lực nhà
trường nên đã trở thành những điển hình về công tác XHHGD và trở thành điểm sáng của giáo
dục thành thố Hải Phòng. Qua đây ta thấy cần triển khai thí điểm nhân rộng điển hình, phát huy
tích cực các nguồn nội và ngoại lực để thúc đẩy sự phát triển của giáo dục, của nhà trường.
Kết luận chƣơng 2
Qua khảo sát và tìm hiểu thực tế ta thấy quận Ngô Quyền có rất nhiều tiềm năng và thế
mạnh cần được huy động cho giáo dục, cho các nhà trường. Các nguồn lực này có cả trong và
ngoài nhà trường.
Ta cần khai thác, sử dụng các nguồn lực này cho phù hợp và có hiệu quả để tạo nên sức
mạnh tổng hợp, thúc đẩy sự phát triển giáo dục quận nhà, đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội.
Qua nghiên cứu lý luận, nghiên cứu nguồn lực xã hội và ngoài quận, và việc triển khai huy
động nguồn lực của các trường tiểu học quận Ngô Quyền, qua tìm hiểu và học hỏi về cách làm
XHHGD của một số gương mặt quản lý làm tốt công tác XHHGD của thành phố và của quận Ngô
Quyền, tôi đề xuất một số biện pháp huy động nguồn lực xã hội trong quá trình XHHGD ở quận Ngô
Quyền thành phố Hải Phòng.
3.1.2.3. Đảng uỷ và chính quyền địa phương nơi trường đóng
3.1.2.4. Đến các tổ chức đoàn thể
3.1.2.5. Đến các tổ chức, các doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước
3.1.3. Nhóm biện pháp 3: Các thiết chế hỗ trợ cho cả hai nhóm nguồn lực
3.1.3.1. Xây dựng kế hoạch cho việc huy động
3.1.3.2. Tuyên truyền vận động cho cộng đồng
3.1.3.3. Triển khai thí điểm, nhân rộng các điển hình
3.2. Khảo nghiệm tính khả thi và tính bức thiết của các giải pháp
3.2.1. Tính cấp thiết của biện pháp
Đánh giá tính cấp thiết của các biện pháp tổ chức thực hiện công tác XHHGD trên địa bàn
quận Ngô Quyền theo thang điểm từ 1 đến 5 theo mức độ rất cấp thiết 5 điểm, cấp thiết 4 điểm,
trung bình 3 điểm, ít cấp thiết 2 điểm, không cấp thiết 1 điểm (Xếp theo mức độ giảm dần tính
cấp thiết của các biện pháp).
Bảng số 3.1.Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết của các biện pháp.
(Theo thang điểm 5 bậc ). 19 Như vậy biện pháp đạt điểm cao nhất " Khai thác tối đa nguồn nội lực của nhà trường.
Nhóm các thiết chế hỗ trợ cho 2 nhóm nguồn lực, tuyên truyền vận động”(4,8 điểm) và đạt điểm
thấp nhất là " Xây dựng kế hoạch cho việc huy động "(4,4 điểm). Như vậy ta thấy các giải pháp
trên đều quan trọng và cần thiết để tiến hành.
3.2.2. Tính khả thi của biện pháp
Đánh giá tính khả thi của các biện pháp tổ chức thực hiện công tác XHHGD ở bậc tiểu
học quận Ngô Quyền theo thang điểm từ 1 đến 5 theo mức độ rất khả thi 5 điểm, khả thi 4 điểm,
trung bình 3 điểm, ít khả thi 2 điểm, không khả thi 1 điểm (xếp theo thứ tự giảm dần tính khả thi
của các biện pháp).
Bảng số 3.2. Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp.
. Thương hiệu uy tín, chất lượng đội ngũ, chất lượng giáo dục
3.3.1.2. Khai thác nguồn lực vật chất:
3.3.2. Nhóm biện pháp 2
Các nhân tố nội lực của nhà trường tác động đến các đối tượng huy động để thu hút các
nguồn ngoại lực xã hội.
3.3.2.1.Các cấp lãnh đạo
3.3.2.2. Phát huy vai trò của ban đại diện CMHS
3.3.2.3. Đảng uỷ và chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể nơi trường đóng. 3.3.2.4.
Tác động các ban ngành đoàn thể, các tổ chức xã hội.
3.3.2.5. Huy động các tổ chức, các doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước
3.3.3. Nhóm biện pháp 3: Các thiết chế hỗ trợ cho cả 2 nhóm nguồn lực.
Khi triển khai các nhóm biện pháp(1) và (2) để đạt hiệu quả tất yếu phải sử dụng nhóm giải
pháp tất yếu. Đây là những giải pháp không thể thiếu được trong quá trình huy động nguồn lực
trong và ngoài nhà trường. Nhà trường muốn huy động nguồn nội lực như thế nào, ngoại lực ra
sao ta phải có kế hoạch. [7, tr. 55-68]
3.33.1. Xây dựng kế hoạch cho việc huy động
3.3.3.2. Tuyên truyền vận động cho cộng đồng
3.3.3.3. Triển khai thí điểm, nhân rộng các điển hình
Các biện pháp trên ngoài quan hệ mật thiết với nhau khi thực hiện tiến hành đồng bộ. Không
quá chú trọng hoặc coi nhẹ biện pháp nào vì chúng quan hệ móc xích chặt chẽ. Mối quan hệ giữa
các biện pháp huy động và kết quả huy động trong quá trình XHHGD.
Kết luận chƣơng 3
Kết luận chƣơng 3
Qua thực tiễn, qua khảo sát diều tra ta thấy nguồn lực thật dồi dào, vai trò thật to lớn, Ba
nhóm giải pháp để huy động các nguồn nội lực, nguồn ngoại lực được sự nhất trí cao về tính khả 21
Thứ năm, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với công tác
XHHGD. 22 2. Một số khuyến nghị
2.1. Với thành phố
Do đó thành phố cần quan tâm đúng mức và tạo cơ chế cho việc triển khai XHHGD có
hiệu quả. Các tỉnh thành, ngành giáo dục và đào tao cần có đề án triển khai XHHGD.
Các cấp các ngành cần quan tâm phối hợp với ngành giáo dục và đào tạo để tăng cường
các nguồn lực cho giáo dục thúc đẩy quá trình XHHGD, trong đó ngành giáo dục và đào tạo cần
chủ động.
Tăng cường sự nhận thức về vai trò và trách nhiệm của mình với giáo dục, thông qua việc
hiểu và nắm được luật giáo dục và điều lệ trường học
2.2. Đối với Sở giáo dục và đào tạo
Chỉ đạo các trường học tiếp tục phát huy vai trò trong công tác XHHGD. Hướng dẫn các nhà
trường xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở.
Định hướng xây dựng các trường tiểu học ngoài công lập đáp ứng nhu cầu học tập của con
em nhân dân. Thực hiện đa dạng hoá loại hình trường lớp trên cơ sở phát huy các nguồn lực xã
hội để thúc đẩy tiến trình.
2.3. Đối với quận uỷ, UBND quận Ngô quyền
Căn cứ tình hình cụ thể, quận có nghị quyết chuyên đề về XHHGD với tất cả các bậc học,
cấp học; tận dụng thời cơ, phát huy nội lực; huy động nhiều nguồn thúc đẩy giáo dục phát triển.
Xây dựng được kế hoạch phát triển giáo dục từ nay đến năm 2015 và 2020. Khảo nghiệm các
nguồn lực xã hội trong và ngoài quận để có phương án huy động cho hợp lý và vừa sức.
Cụ thể hoá chỉ thị, nghị quyết của cấp trên thành chương trình hành động có tính khả thi. Đẩy mạnh
hơn nữa công tác tuyên truyền để nhân dân hiểu và tham gia XHHGD.
Thành phố, SGD&ĐT, cần làm tốt công tác sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, biểu dương khen
2005 và đến năm 2010.
5.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Tài liệu học tập Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ X và Nghị quyết Trung ương 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
7.
Chỉ thị số 29/1999/CT TTg của Thủ tƣớng Chính phủ về việc phát huy vai trò
của hội khuyến học Việt Nam trong phát triển sự nghiệp giáo dục.
8.
Chính phủ nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Đổi mới
chương trình giáo dục phổ thông thực hiện nghị quyết số 40/2000/QH 10. Chỉ thị
số 14/2000/CT-TTg ngày 11/6/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc đổi mới
giáo dục.
9.
Chính phủ nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999), Quyết định số
183/1999/QĐ - TTg ngày 9/9/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc cho phép
thành lập quỹ khuyến học Việt Nam.
10.
Chính phủ (1997), Nghị quyết số 90/NQ-CP về phương hướng và chủ trương xã
hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa.
11.
Chính phủ (2005), Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hóa lĩnh
vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao.
12.
Hồ Chí Minh (1990), bàn về công tác giáo dục, Nxb Giáo dục
B. Các tài liệu, sách báo
13.
Luật giáo dục Việt Nam (2006), Nxb chính trị Quốc gia Hà Nội.
23.
Nghị quyết 21/NQ của Ban thƣờng vụ quận ủy ngày 30/3/2004 - Đề án xây dựng
trường chuẩn quốc gia, thực hiện công tác phổ cập bậc tiểu học và quy hoạch tổng thể
các trường học quận Ngô Quyền đến năm 2020.
24.
Nghị quyết số 17/NQ-HĐND tháng 6 năm 2004 của HĐND quận Ngô Quyền
về việc huy động nguồn XHHGD. Tập trung cho đề án đưa tin học vào nhà
trường.
25.
Bùi Hiền (2001), Từ điển giáo dục học, Nxb bách khoa Hà Nội
26.
Từ điển xã hội học (2002). GEndruweit và Trommsdorff, Nxb thế giới năm
27.
Xã hội hóa giáo dục (2001 ), Nxb- ĐH QG Hà Nội.
C. Các tác giả
28.
Đặng Quốc Bảo (2006), Phát triển giáo dục và Quản lí nhà trường: Một số góc
nhìn, Đại học quốc gia Hà nội – khoa Sư phạm.
29.
Đặng Quốc Bảo (2006), Giáo dục Việt Nam đầu tƣ và cơ cấu tài chính, Đại học
quốc gia Hà Nội – khoa Sư phạm.
30.
Đặng Quốc Bảo (2006), Hội nhập quốc tế và những vấn đề đặt ra cho giáo dục
phổ thông ở Việt Nam, Đại học quốc gia Hà Nội – khoa Sư phạm.
31
Nguyễn Phú Bình (2006), “Huy động nguồn lực của kiều bào cho sự phát triển
đất nước”, Chủ nhiệm ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài nhân dịp Hội nghị
42.
Trần Kiểm (2006), Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục, Nxb ĐHSP HN.
43.
Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2004), Đại cương lí luận quản lí, giáo trình dành cho các lớp
cao học Quản lí giáo duc, Đại học quốc gia Hà Nội - khoa Sư phạm.
44.
Nông Đức Mạnh (2006): XHHGD Không phải là Nhà nước phó mặc Bài phát biểu
nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày học sinh miền Nam trên đất Bắc tại Hà Nội.
“VietnamNet”.
45.
Nguyễn Thiện Nhân và Phạm Vũ Luận (19/12/2007), Sơ kết 2 năm thực hiện chủ
trương xã hội hóa GD-ĐT “VietnamNet”.
46.
Vũ Văn Tảo, Vài nét về khái niệm “Xã hội học tập”. Tạp chí thông tin KHGD số
85, viện KHGD.
47
Bùi Gia Thịnh - Võ Tấn Quang - Nguyễn Thanh Bình (2007), Xã hội học tập yêu
cầu đổi mới quản lý giáo dục, Nxb viện khoa học và giáo dục.
48.
Nguyễn Hòa Thịnh, Chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa giáo dục, cải cách hành
chính cơ chế một cửa.