1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
TRỊNH THỊ MINH
TRỊNH THỊ MINH HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH XÃ
HỘI HOÁ
GIÁO DỤC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TẠI
CÁC
TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số : 60 14 05
HÀ NỘI - 2008
1
MC LC
Trang
M U
1. Lý do chn ti
1
2. Lch s nghiờn cu
5
3. Mc tiờu v nhim v nghiờn cu ti
5
4. Phm vi nghiờn cu
6
5. Mu kho sỏt
6
6. Vn nghiờn cu
6
7. Gi thuyt nghiờn cu
6
1.7. Cỏc nguyờn tc chung khi tham gia huy ng cng ng
23
1.8. Phõn bit c ý ngha ca xó hi hoỏ giỏo dc v huy ng cỏc
ngun lc xó hi
26
1.9. ng lc ca xó hi hoỏ giỏo
27
2 Kt lun chng 1
28
Chng 2: Thực trạng xã hội hoá giáo dục và huy
động nguồn lực xã hội ở quận Ngô Quyền
29
2.1. c im tỡnh hỡnh qun Ngụ Quyn
29
2.2. c im tỡnh hỡnh giỏo dc qun Ngụ Quyn
30
2.2.1. V c cu v cht lng i ng
30
2.2.2. V cht lng giỏo dc
30
2.2.3. V ph cp giỏo dc
31
2.2.4. Xõy dng trng chun quc gia
31
2.2.5. y mnh ng dng cụng ngh thụng tin
31
53
3.1.3. Nhúm bin phỏp 3
53
3.2. Kho nghim tớnh kh thi v tớnh bc thit ca cỏc gii phỏp
54
3.2.1. Tớnh cp thit ca bin phỏp
55
3 3.2.2. Tính khả thi của biện pháp
55
3.3. Tiến hành các giải pháp
56
3.3.1. Nhóm biện pháp 1: Khai thác tối đa nguồn nội lực của nhà trưường.
56
3.3.2. Nhóm biện pháp 2
65
3.3.3. Nhóm biện pháp 3: Các thiết chế hỗ trợ cho cả 2 nhóm nguồn lực
74
Kết luận chương 3
87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
88
1. KÕt luËn
88
2. KhuyÕn nghÞ
90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
TT HTCĐ
Trung tâm học tập cộng đồng
ATGT
An toàn giao thông
BVCSTE
Bảo và chăm sóc trẻ em
PCGD
Phổ cập giáo dục
CBQL
Cán bộ quản lý
CBGV
Cán bộ giáo viên
GVCN
Giáo viên chủ nhiệm
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
TDTT
Thể dục thể thao
HĐCĐ
Huy động cộng đồng
CSVC
Cơ sở vật chất
SGK
Sách giáo khoa
NXB
Nhà xuất bản
SXKD
Sản xuất kinh doanh
CNTT
Công nghệ thông tin
đó, giáo dục phải là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Chỉ có sự tham gia
của toàn xã hội làm công tác giáo dục thì mới đảm bảo cho giáo dục phát triển
có chất lƣợng và hiệu quả cao. Hay nói một cách khác ta cần làm tốt công tác
XHHGD thì mới huy động đƣợc sức mạnh tổng hợp của toàn dân cùng tham
gia làm giáo dục.
Nhà nƣớc đã phối kết hợp với các tổ chức, các cá nhân, các nhà tài
trợ trong và ngoài nƣớc đã đề ra những chủ trƣơng, chính sách, nhiều cơ
chế để huy động các nguồn lực cho giáo dục nhƣ: huy đông tài chính, đất
đai, cơ sở vật chất, huy động mọi lực lƣợng tham gia làm giáo dục nhằm
đạt đƣợc các mục tiêu giáo dục đã đề ra, góp phần nâng cao chất lƣợng
giáo dục. Giai đoạn 2002-2006 ngân sách Nhà nƣớc chi cho giáo dục và
đào tạo tăng gấp 2,4 lần, từ hơn 22600 tỷ đồng năm 2002 lên đến 55000 tỷ
đồng năm 2006. Tỉ trọng ngân sách Nhà nƣớc chi cho giáo dục và đào tạo
trong GDP tăng từ 4,2% (năm 2002) lên 5,6% (năm 2006) [29].
Trong những năm qua, dục giáo và đào tạo đã đạt đƣợc nhiều thành
tựu, tuy nhiên, trong thực tế giáo dục và đào tạo nƣớc ta còn nhiều yếu kém
bất cập cả về quy mô, cơ cấu, cả về chất lƣợng và hiệu quả, chƣa đáp ứng
đƣợc yêu cầu đổi mới đất nƣớc, do đó ta phải đổi mới sự nghiệp giáo dục và
đào tạo [39]. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt 2 Nam chỉ rõ "Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức,
cơ chế quản lý, nội dung phương pháp dạy và học; thực hiện "Chuẩn hoá,
hiện đại hoá, xã hội hoá" chấn hưng nền giáo dục Việt Nam" [4]. Muốn đổi
mới đƣợc giáo dục làm cho giáo dục đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngƣời học,
đáp ứng đƣợc nhu cầu của xã hội ta cần huy động sức mạnh tổng hợp của Nhà
nƣớc, của nhân dân trên mọi lĩnh vực [47]. Phải làm sao cho giáo dục trở
nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục. XHHGD không những huy động
đƣợc nhiều nguồn đầu tƣ khác từ các lực lƣợng xã hội, các cá nhân cho giáo
dục mà còn "mở cửa" nhà trƣờng với xã hội bên ngoài tạo mối quan hệ gắn bó
giữa nhà trƣờng với nhân dân, cho nhân dân thực hiện đƣợc quyền làm chủ
của mình với giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục, làm cho giáo dục
phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế xã hội.
XHHGD là con đƣờng để thực hiện dân chủ hóa giáo dục nhằm biến hệ
thống giáo dục từ một thể chế hành chính cô lập thành một thể chế giáo dục
của dân, do dân, vì dân. Thực tế hiện nay, nhiều ngƣời nhận thức chƣa đúng,
thậm chí còn hiểu sai về khái niệm và bản chất của XHHGD, họ cho rằng
XHHGD chỉ là đóng góp các loại tiền cho giáo dục, chỉ là sự huy động vật lực
mà thôi. Ở một số địa phƣơng, cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn
thể chƣa hiểu đƣợc ý nghĩa to lớn và vai trò vô cùng quan trọng của công tác
XHHGD, còn coi đó là trách nhiệm của nhà trƣờng. Do đó giáo dục gặp rất
nhiều khó khăn và rơi vào thế đơn độc.
Trong nhiều năm qua, chúng ta chƣa thu hút đƣợc sự đầu tƣ của các
nguồn lực xã hội cho giáo dục mà chỉ trông chờ vào ngân sách, sự chỉ đạo của
Nhà nƣớc. Với cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp đã làm cho ngành giáo dục
rơi vào thế đơn độc. Đây là một trong những lí do cơ bản làm cho cơ sở vật
chất của giáo dục xuống cấp và lạc hậu, động lực của ngƣời dạy và ngƣời học
giảm sút, sự phát triển giáo dục không đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển kinh
tế xã hội của đất nƣớc.
Ngân sách đầu tƣ cho giáo dục còn hạn chế, mà trong mỗi nhà trƣờng
còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, trƣờng lớp, phƣơng tiện học
tập song chúng ta không thể ngồi chờ đến khi có đầy đủ các điều kiện cần 4 Phải khẳng định, huy động nguồn lực xã hội trong quá trình XHHGD là
tinh thần, là nội dung quan trọng nhất của cải cách giáo dục. Nhiều ngƣời có tâm
huyết, đã dày công nghiên cứu và đƣa ra những giải pháp cho chƣơng trình
XHHGD nhƣng thực tế chƣa đƣợc thành công.
Trong các văn kiện và công luận, XHHGD là chủ đề đƣợc bàn thƣờng
xuyên, tuy nhiên trong khi bàn về XHHGD ngƣời ta có xu hƣớng thiên lệch,
chƣa toàn diện về XHHGD.
Đề tài này mong muốn làm rõ XHHGD cả về lý luận và thực tiễn, đặc
biệt tập trung vào nội dung: Huy động các nguồn lực xã hội trong quá trình xã
hội hoá giáo dục nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục tại các trƣờng tiểu học
quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng.
2. Lịch sử nghiên cứu
Về vấn đề XHHGD đã đƣợc đề cập đến từ lâu và có nhiều tác giả
nghiên cứu ở mức độ chung cũng nhƣ ở từng khía cạnh của vấn đề XHHGD
và các khái niệm có liên quan nhƣ: bàn về khái niệm XHH, nguồn lực xã hội,
nội dung, mục tiêu, bản chất XHHGD, vai trò của cộng đồng xã hội với giáo
dục và quản lý giáo dục, cơ sở của XHHGD, mức độ XHHGD cho từng cấp
học. Trong đó, phải kể đến một số tác giả tiêu biểu nhƣ: Bùi Gia Thịnh - Võ
Tấn Quang - Nguyễn Thanh Bình. Phạm Minh Hạc, Đặng Xuân Hải, Trần
Kiểm, Hồng Lê Thọ, Trần Kiều và nhiều tác giả khác.
Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng và Nhà nƣớc đã có
nhiều chỉ thị, nghị quyết về XHHGD và đã đƣa vấn đề này vào Luật giáo dục
năm 2005. Trên địa bàn quận Ngô Quyền có rất nhiều tiềm năng và thế mạnh
nhƣng chƣa có ai nghiên cứu về việc huy động các nguồn lực, nghiên cứu về
XHHGD. Việc hiểu và tiến hành XHHGD chƣa đầy đủ, còn thiên lệch, mang
tính tự phát, thiếu căn cứ và kém hiệu quả. Chính vì vậy tôi chọn đề tài nghiên
cứu: “Huy động các nguồn lực xã hội trong quá trình xã hội hoá giáo dục
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tại các trường tiểu học quận Ngô
6. Vấn đề nghiên cứu
- Các nguồn lực xã hội cho giáo dục bao gồm những nguồn lực nào? 7 - Bằng cách nào để huy động các nguồn lực xã hội trong quá trình
XHHGD ở các trƣờng tiểu học quận Ngô Quyền phù hợp với điều kiện của
Hải Phòng?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Trong xã hội nói chung và quận Ngô Quyền nói riêng luôn tiềm ẩn và
tồn tại các nguồn lực đa dạng nhƣ: đất, nƣớc, không khí, tài nguyên thiên
nhiên, nguồn lực lao động, trí tuệ con ngƣời, khoa học, công nghệ, cơ sở vật
chất và các tiềm năng kinh tế khác, bao gồm nguồn lực tinh thần và vật chất.
Những nguồn lực này có cả ở trong và ngoài nhà trƣờng, nó rất quan trọng và
cần huy động trƣớc hết bằng chính khả năng của nhà trƣờng, trên cơ sở đó để
huy động các nguồn lực xã hội nhằm thúc đẩy quá trình XHHGD ở các
trƣờng tiểu học quận Ngô Quyền đạt kết quả tốt nhất.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
1. Phƣơng pháp quan sát.
2. Phƣơng pháp phỏng vấn.
3. Phƣơng pháp khảo sát.
4. Phƣơng pháp triển khai thí điểm và nhân rộng điển hình.
9. Các luận cứ dự kiến (Nội dung của đề tài)
Nội dung nghiên cứu đề tài chủ yếu tập trung ở 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận: Làm rõ các khái niệm XHHGD và các khái
niệm có liên quan đến XHHGD, bản chất của XHHGD; khái niệm về nguồn
lực xã hội trong quá trình XHHGD nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục.
Chƣơng 2: Thực trạng huy động các nguồn lực xã hội trong quá trình
khái niệm “giáo dục” đƣợc hiểu là "truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm
đã đƣợc tích luỹ trong quá trình lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời: đó là
nét đặc trƣng của xã hội loài ngƣời. [25, tr. 4].
1.2. Khái niệm xã hội
Xã hội là một khái niệm đa nghĩa, phân tán theo bề rộng lẫn bề sâu.
*Theo từ điển xã hội học thì: 9 Xã hội (hiểu theo nghĩa tổng quát): Là sự gắn bó (theo nghĩa chung cả
về không gian và thời gian) của một tập hợp các thực thể sống cùng loại và
chia sẻ cùng một quan hệ sống (thực vật, động vật, con ngƣời).
Xã hội (hiểu theo nghĩa hẹp hơn và chỉ nói tới con ngƣời): Một tập hợp
đƣợc giới hạn và không gian, thời gian hoặc xã hội và đồng thời có sắp xếp
của cá nhân hoặc nhóm cá nhân, những ngƣời gắn bó với nhau trong các quan
hệ tƣơng tác trực tiếp và gián tiếp.
[26,tr.562].
* Theo xã hội học thì:
Xã hội (hiểu theo cách đơn giản) là cộng đồng những ngƣời cùng
chung sống trên một lãnh thổ nhất định. Cộng đồng xã hội là tập hợp những
ngƣời có chung một nền văn hóa, một phƣơng thức sản xuất và sinh hoạt với
những dấu hiệu nhận biết là ngôn ngữ (gồm tiếng nói và chữ viết), cách ăn
mặc, cách ứng xử giao tiếp và các phƣơng tiện sản xuất.
Giữa giáo dục và xã hội có quan hệ mật thiết với nhau. Giáo dục bắt
nguồn từ đời sống xã hội, có bản chất xã hội. Xuất phát từ cuộc sống lao động
sản xuất, con ngƣời có nhu cầu truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm đã
đƣợc tích luỹ trong quá trình lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời. Giáo dục
phục vụ cho xã hội. Mỗi triều đại có một nền giáo dục đặc thù, phản ánh thực
nhóm xã hội” [ 26,571]. Nhƣ vậy, ta có thể hiểu XHH một lĩnh vực nào đó, là
quá trình tƣơng tác, lan tỏa các chuẩn mực, các giá trị, các khung mẫu, hành vi
xã hội giữa các cá thể và các nhóm xã hội trên lĩnh vực đó. Làm sao cho nội
dung, thành quả của lĩnh vực đó phải lan tỏa và thấm sâu đến từng ngƣời dân
và toàn xã hội, làm cho mọi ngƣời, mọi nhà hiểu và tích cực tham gia đóng góp
xây dựng cho lĩnh vực đó ngày càng phát triển, kể cả vật chất và tinh thần,
đồng thời họ cũng đƣợc thụ hƣởng thành quả từ lĩnh vực đó mang lại. Một khi
họ đã hiểu, đã đƣợc hƣởng quyền lợi ở một lĩnh vực nào đó, thì họ sẽ có trách
nhiệm tham gia đóng góp sức lực trí tuệ làm cho lĩnh vực đó ngày một tốt hơn
lên.
1.4. Khái niệm xã hội hoá giáo dục 11 Và từ nhiều năm nay cụm từ "Xã hội hoá giáo dục" trở nên quen thuộc
với mọi ngƣời, ngƣời ta có rất nhiều quan điểm khác nhau về XHHGD.
Theo từ điển giáo dục học (Bùi Hiền) Nxb từ điển bách khoa Hà Nội
2001 định nghĩa "Xã hội hoá giáo dục, chủ trƣơng, biện pháp biến sự nghiệp
giáo dục trong nhà trƣờng thành công việc chung của toàn xã hội để thu hút
mọi thành phần, thành viên trong xã hội tích cực tham gia vào hoạt động giáo
dục thế hệ trẻ tuỳ theo chức năng, điều kiện của mình. Tƣ tƣởng XHHGD
không phải xuất phát từ những khó khăn trƣớc mắt của ngành giáo dục, mà là
từ bản chất của giáo dục. Bởi vậy XHHGD bao gồm những hoạt động hết sức
đa dạng của các lực lƣợng xã hội hỗ trợ cho công tác giáo dục của nhà trƣờng:
đó là việc tuyên truyền vận động, huy động nhân lực, tài lực của xã hội cùng
tham gia sự nghiệp giáo dục thông qua việc hình thành hội bảo trợ, hội
khuyến học, quỹ học bổng, quỹ sáng tạo, câu lạc bộ tài năng trẻ, cơ sở đỡ đầu,
nhà tài trợ, ngƣời cố vấn."
phong trào, một xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, của đất
nƣớc, đồng thời mọi ngƣời có trách nhiệm tham gia giáo dục và làm cho giáo
dục phát triển.
XHHGD không phải là giải pháp tình thế mà là tƣ tƣởng chiến lƣợc lâu
dài. Nó huy động sức mạnh của toàn xã hội nhƣng đòi hỏi giáo dục phát triển
có chất lƣợng và hiệu quả.
Nhƣ vậy, chúng ta xác định XHHGD một mặt là để huy động nhân lực,
tài lực, vật lực của toàn xã hội để giải quyết mọi vấn đề, mọi tồn tại của giáo
dục, không phó mặc cho ngành giáo dục, đồng thời cũng làm cho ngƣời dân
thấy đƣợc những lợi ích từ giáo dục mang lại cho ngƣời dân và cho xã hội để
họ tự nguyện đến với giáo dục. Đây thực sự là cuộc vận động lớn trong xã hội
dƣới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nƣớc và ngành giáo dục .
Nhƣ vậy XHHGD là quá trình tƣơng tác hòa nhập giữa giáo dục và xã hội.
Giáo dục hoà nhập vào xã hội, vào cộng đồng. Xã hội tiếp nhận giáo dục nhƣ
công việc của mình, vì mình, do mình đồng thời xã hội tác động trở lại giáo
dục, thúc đẩy giáo dục phát triển . Đây là mối quan hệ biện chứng. Ta có thể
mô tả quan hệ giữa giáo dục và xã hội qua sơ đồ sau: 13 Mô hình 1.1: Mô tả khái niệm và bản chất XHHGD
14 XHHGD có tác dụng tích cực đến quá trình xã hội hoá con ngƣời, xã
hội hoá cá nhân. Trong những năm gần đây, chúng ta nghe nói đến XHHGD.
Cụm từ “XHHGD” đang đƣợc hiểu theo nghĩa nhân dân tham gia đóng góp
xây dựng sự nghiệp giáo dục về mọi mặt nhƣng chủ yếu đƣợc hiểu theo nghĩa
đời sống xã hội có sử dụng XHH để huy động tiền của, công sức của nhân
dân. “Khoan sức dân” là điều ngày càng ít ngƣời nghĩ tới. Một số ngƣời
thƣờng nghĩ XHH dịch vụ giáo dục là sự “đóng góp” của ngƣời dân với tƣ
cách là ngƣời hƣởng dịch vụ mà chƣa thấy đƣợc đó thực sự là một cơ chế
điều phối nguồn lực của xã hội [39].
Để hiểu toàn diện về XHHGD ta tìm hiểu thêm về nội dung cơ bản và
mục tiêu của XHHGD.
1.4.1. Nội dung cơ bản của xã hội hoá giáo dục
Xây dựng xã hội học tập, xây dựng môi trƣờng giáo dục lành mạnh, đa
dạng hoá các loại hình truờng lớp, các hình thức học tập, làm cho nền giáo
dục của chúng ta trở thành một nền giáo dục dành cho mọi ngƣời, tạo cơ hội
cho mọi ngƣời ở mọi lứa tuổi đều có điều kiện học tập thƣờng xuyên, học tập
suốt đời. Nội dung đƣợc thể hiện ở hai mặt quyền và nghĩa vụ của mọi ngƣời
với giáo dục.
1.4.2. Mục tiêu của xã hội hoá giáo dục
XHHGD dục sẽ “mở cửa” nhà trƣờng với xã hội bên ngoài, tạo điều kiện
xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa nhà trƣờng và nhân dân, làm cho nhân dân
có thể thực hiện tốt quyền làm chủ của mình đối với giáo dục, không những
đóng góp xây dựng nhà trƣờng mà còn giám sát, kiểm tra nhà trƣờng trong
việc thực hiện các mục tiêu giáo dục [22].
XHHGD góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục là đào tạo con ngƣời phát
triển toàn diện. Muốn vậy cần có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của gia
đình và các lực lƣợng xã hội vào việc tạo ra môi trƣờng thuận lợi cho giáo
dục, hoàn thiện nội dung và phƣơng pháp giáo dục, cải tiến công tác quản lý
giáo dục. Đồng thời làm cho mọi ngƣời dân trong cộng đồng nắm đƣợc những
thông tin về giáo dục để họ có thể đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình và 16
17 Nguồn lực trong nƣớc: đóng vai trò quan trọng, có tính chất quyết định
trong việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Nguồn lực nƣớc ngoài: Nguồn lực nƣớc ngoài bao gồm: khoa học kỹ
thuật và công nghệ, nguồn vốn, kinh nghiệm về tổ chức và quản lý sản xuất.
Nguồn lực nƣớc ngoài có vai trò quan trọng, thậm chí đặc biệt quan trọng đối
với nhiều quốc gia đang phát triển ở những giai đoạn lịch sử cụ thể. Mặc dù
có vai trò khác nhau, nhƣng giữa nguồn lực trong nƣớc và nguồn lực nƣớc
ngoài có mối liên hệ mật thiết với nhau. Đây là mối quan hệ hỗ trợ, hợp tác,
bổ sung cho nhau trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi và tôn trọng độc lập
chủ quyền của nhau. Xu thế chung là các quốc gia cố gắng kết hợp nguồn lực
trong nƣớc với nguồn lực nƣớc ngoài thành sức mạnh tổng hợp để phát triển
kinh tế văn hóa, giáo dục
Dựa vào khái niệm trên, đối với phạm vi nhà trƣờng ta thấy nguồn lực
xã hội nằm ngay trong nhà trƣờng và cả bên ngoài nhà trƣờng.
Nguồn lực trong nhà trƣờng (gọi là nội lực): tiềm tàng ẩn chứa ngay
trong nhà trƣờng. Bao gồm: con ngƣời, CSVC, trang thiết bị, cảnh quan, vị
thế nhà trƣờng, thƣơng hiệu, uy tín và chất lƣợng của trƣờng
Nguồn lực ngoài nhà trƣờng (gọi là ngoại lực) bao gồm: nguồn lực có
ở trong và ngoài quận và cũng có ở trong và ngoài nƣớc.
Nguồn nội lực đƣợc khai thác, phát huy sẽ có tác động mạnh mẽ để thu
hút nguồn ngoại lực, làm cho nguồn nội lực mạnh thêm lên. Nguồn nội lực
càng mạnh thì càng thu hút đƣợc nhiều hơn nguồn ngoại lực và ngƣợc lại
nguồn ngoại lực càng dồi dào là cơ sở thuận lợi cho sự tăng trƣởng của nguồn
nội lực. Nguồn nội lực là cơ sở cho sự khai thác và huy động các nguồn lực
xã hội. Hai nguồn lực này đều là động lực cho sự phát triển giáo dục, phát
trển nhà trƣờng. Cả hai nguồn lực trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo điều
nội dung: nguồn lực vật chất và phi vật chất. Nội dung đó đƣợc biểu hiện cụ
thể sau đây:
Huy động xã hội tham gia xây dựng môi trƣờng thuận lợi cho giáo dục:
Môi trƣờng ta cần quan tâm ở đây là môi trƣờng “nhà trƣờng - gia đình - xã hội”.