Lời mở đầu
Sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ngời luôn gắn liền với quá trình sản xuất
ra của cải vật chất. Cùng với quá trình lao động sáng tạo ra của cải vật chất phục
vụ cho đời sống hàng ngày thì nhu cầu về nghỉ ngơi giải trí cũng là một nhu cầu
không thể thiếu.
Đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con ngời ngày càng đợc nâng cao.
Lúc này nhu cầu về nghỉ ngơi giải trí của con ngời cũng đợc nâng lên ở tầm cao
hơn đó là nhu cầu du lịch. Thông qua du lịch, con ngời có thể giữ gìn, hồi phục sức
khoẻ và tăng cờng sức sống. Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế
bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con ngời. Thông qua hoạt động
du lịch, đông đảo quần chúng có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu văn hoá
phong phú và lâu đời của các dân tộc từ đó tăng thêm lòng yêu nớc, tinh thần đoàn
kết quốc tế, hình thành những phẩm chất tốt đẹp nh lòng yêu thiên nhiên, yêu lao
động, tình bạn... Hoạt động sản xuất vật chất là cơ sở tồn tại cho mọi xã hội. Việc
nghỉ ngơi du lịch một cách tích cực và đợc tổ chức hợp lý sẽ đem lại những kết quả
tốt đẹp. Một mặt, nó góp phần vào việc phục hồi sức khoẻ cũng nh khả năng lao
động, mặt khác đảm bảo tái sản xuất mở rộng lực lợng lao động với hiệu quả kinh
tế rõ rệt. Trong thời đại hiện nay, dịch vụ du lịch ảnh hởng đến cả cơ cấu ngành và
cơ cấu lao động của nhiều ngành kinh tế, là nguồn thu ngoại tệ lớn của nhiều nớc
trên thế giới trong đó có Việt Nam.
Du lịch có vị trí kinh tế,chính trị, xã hội rất to lớn trong tổng thể nền kinh tế- xã
hội của mỗi nớc, là mục tiêu phát triển của nhiều quốc gia.
Vì vậy, Đảng và Nhà nớc ta đã coi phát triển du lịch là một hớng chiến lợc quan
trọng trong đờng lối phát triển kinh tế- xã hội góp phần thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc, làm cho dân giàu ,nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Tuy nhiên, vị trí, vai trò của ngành Du lịch còn cha đợc nhận thứcđầy đủ ở nhiều
ngành, nhiều cấp, địa phơng và không ít trong d luận xã hội coi Du lịch chỉ là
ngành phục vụ phi sản xuất vật chất, cha thấy đợc du lịch là một ngành kinh tế đặc
thù có yêu cầu phát triển bền vững mang tính tổng hợp liên ngành, liên vùng và xã
hội hoá cao.
Từ đó đặt ra vấn đề nghiên cứu là cần phải làm gì để có thể phát triển du lịch sao
Sự di chuyển và lu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân
hay tập thể ngòai nơi c trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ
nhận thức về thế giới xung quanh, có hay không kèm theo sự tiêu thụ một số
giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung
ứng.
Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong
quá trình di chuyển và lu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của các
cá nhân hay tập thể ngoài nơi c trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao
nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh
Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần
thúc đẩy sự phát triển của du lịch.
2. Các loại hình du lịch:
Hoạt động du lịch có thể phân thành các nhóm tuỳ thuộc tiêu chí đa ra. Hiện nay
đa số các chuyên gia về du lịchViệt Nam phân chia các loại hình du lịch theo các
tiêu chí cơ bản dới đây.
2.1.Phân loại theo môi trờng tự nhiên:
Tuỳ vào môi trờng tài nguyên mà hoạt động du lịch đợc chia thành hai nhóm lớn
là: du lịch văn hoá và du lịch thiên nhiên.
* Du lịch văn hoá là hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trờng nhân
văn hay hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân văn. Các
đối tợng văn hoá- tài nguyên du lịch nhân văn là cơ sở để tạo nên các loại hình du
lịch văn hoá phong phú.
3
Tài nguyên nhân văn bao gồm các di tích, công trình đơng đại, lễ hội, phong
tục, tập quán...
* Du lịch thiên nhiên ( du lịch sinh thái hay du lịch xanh) là hoạt động du
lịch diễn ra nhằm thoả mãn nhu cầu về với thiên nhiên của con ngời.
Du lịch thiên nhiên bao gồm các loại hình: du lịch biển, du lịch núi, du lịch nông
thôn...
Để kinh doanh loại hình du lịch này cần có trang bị hỗ trợ cần thiết và đặc biệt
cần có chơng trình và đội ngũ ứng cứu hết sức cơ động. Nớc ta có diện tích là đồi
núi, nhiều núi cao, vực sâu lại nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa nên có nhiều điều
kiện tạo ra các vùng phù hợp cho du lịch khám phá. Tuy nhiên muốn khai thác loại
hình này cần một nguồn vốn không ít để đầu t, đào tạo nhân viên nên so với các
loại hình du lịch khác trong thời gian trớc mắt du lịch mạo hiểm có ít cơ hội thuận
lợi hơn.
e) Du lịch thể thao
Chơi thể thao nhằm mục đích nâng cao thể chất, phục hồi sức khoẻ... Đây là loại
hình xuất hiện để đáp ứng lòng ham mê thể thao của con ngời. Để đáp ứng nhu cầu
du lịch thể thao cơ quan cung ứng du lịch phải có cơ sở vật chất kĩ thuật tốt, đội
ngũ nhân viên phục vụ phải có hiểu biết về loại hình thể thao cung ứng. Điểm du
lịch phải có các điều kiện thuận lợi và phù hợp.
f) Du lịch lễ hội
Tham gia vào lễ hội du khách muốn hoà mình vào không khí tng bừng, vào các
cuộc biểu dơng lực lợng, biểu dơng tình đoàn kết của cộng đồng...
Việc khôi phục các lễ hội truyền thống, việc tổ chức các lễ hôi mới không chỉ là
mối quan tâm của các cơ quan đoàn thể, quần chúng xã hội mà còn là hớng quan
trọng của nghành du lịch.
2.3 Phân loại theo lãnh thổ hoạt động
a) Du lịch quốc tế
- Du lịch quốc tế đến là chuyến đi của ngời nớc ngoài đến tham quan du lịch.
- Du lịch ra nớc ngoài là chuyến đi của ngời trong nớc ra tham quan du lịch ở
nớc ngoài.
Du lịch quốc tế làm biến đổi cán cân thu chi của quốc gia có tham gia du lịch
quốc tế.
b)Du lịch nội địa
Du lịch nội địa là các hoạt động tổ chức phục vụ ngời trong nớc đi du lịch, nghỉ
ngơi và tham quan các đối tợng du lịch trên lãnh thổ quốc gia.
c) Du lịch quốc gia
2.5 Phân loại theo phơng tiện giao thông
Bao gồm: du lịch bằng xe đạp, du lịch bằng ô tô, du lịch bằng tàu hoả, du lịch
bằng tàu thuỷ, du lịch bằng máy bay...
2.6 Phân loại theo loại hình lu trú
Lu trú là một trong những nhu cầu chính của du khách trong chuyến đi du lịch. D-
ới góc độ kinh doanh du lịch, trong giai đoạn hiện nay, lu trú, vận chuyển và ăn
uống vẫn còn chiếm tỉ trọng khá lớn trong giá thành của các sản phẩm du lịch Việt
6
Nam. Mặt khác tuỳ theo khả năng chi trả, sở thích của du khách, hiện trạng và khả
năng cung ứng của đối tác mà trong từng chuyến đi du lịch cụ thể với họ, du khách
có thể đợc bố trí nghỉ lại cơ sở lu trú phù hợp. Có thể là ở khách sạn, motel, nhà trọ
thanh niên, camping, bungalow, làng du lịch.
2.7 Phân loại theo hình thức tổ chức
Theo tiêu chí này ngời ta phân chia thành du lịch tập thể, du lịch cá thể và du lịch
gia đình.
2.8Phân loại theo độ dài chuyến đi
Có du lich ngắn ngày và du lịch dài ngày.
2.9Phân loại theo phơng thức hợp đồng
Có du lịch trọn gói và du lịch từng phần
II sự cần thiết phải có sự quản lí của nhà nớc đối với các
Hoạt động du lịch
1. Vai trò của du lịch đối với tổng thể nền kinh tế- xã hội của quốc
gia.
Ngành du lịch có tác động tích cực đến nền kinh tế của đất nớc và của một
vùng thông qua việc tiêu dùng của khách du lịch. Do vậy, để nhận rõ vai trò
của du lịch trong quá trình tái sản xuất xã hội, cần hiểu kỹ những đặc điểm tiêu
dùng của du lịch. Những đặc điểm quan trọng nhất là :
1. Nhu cầu trong tiêu dùng du lịch là nhu cầu đặc biệt: nhu cầu hiểu biết kho
tàng văn hoá, lịch sử, nhu cầu văn cảnh thiên nhiên nh: bơi và tắm ở biển,
hồ, sông... của con ngời.
dựng, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp gỗ, công nghiệp dệt, nghành trồng trọt,
nghành chăn nuôi...). Du lịch luôn đòi hỏi hàng hoá có chất lợng cao, phong phú
về chủng loại, mỹ thuật và hình thức. Do vậy, du lịch góp phần định hớng cho sự
phát triển của các nghành ấy trên một số mặt: số lợng, chất lợng, chủng loại sản
phẩm và việc chuyên môn hoá các xí nghiệp trong sản xuất. ảnh hởng của du lịch
lên sự phát triển các ngành trong nền kinh tế quốc dân nh: thông tin, xây dựng, y
tế, thơng nghiệp, văn hoá... cũng rất lớn. Sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch cuả
một vùng không chỉ thể hiện ở chỗ những nơi đó có tài nguyên du lịch mà bên
cạnh chúng phải có cả cơ sở vật chất kĩ thuật, hệ thống đờng sá, nhà ga, sân bay, b-
u điện, ngân hành, mạnh lới thơng nghiệp... Việc tận dụng đa những nơi có tài
nguyên du lịch vào sử dụng, kinh doanh đòi hỏi phải xây dựng ở đó hệ thống đờng
sá, màng lới thơng nghiệp, bu điện... qua đó cũng kích thích sự phát triển tơng ứng
của các nghành liên quan. Ngoài ra, du lịch phát triển còn đánh thức một số ngành
thủ công cổ truyền.
Kinh tế du lịch góp phần làm tăng thu nhập quốc dân trên 2 mặt sáng tạo và sử
dụng. Hoạt động du lịch quốc tế là nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nớc. Ngoại
tệ thu đợc từ du lịch quốc tế làm sống động cán cân thanh toán của đất nớc và th-
ờng đợc sử dụng để mua sắm máy móc thiết bị cần thiết cho quá trình tái sản xuất
hội. Do vậy du lịch quốc tế góp phần xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho đất nớc.
Cũng nh ngoại thơng, du lịch quốc tế tạo điều kiện cho đất nớc tiết kiệm lao động
xã hội khi xuất khẩu một số mặt hàng. Do đó, du lịch còn là một nghành xuất khẩu
8
(xuất khẩu tại chỗ). Việc xuất khẩu tại chỗ có hiệu quả cao nhất vì nó tiết kiệm đợc
chi phí đóng gói, bảo quản, vận chuyển và tránh đợc những rủi ro mất mát khi vận
chuyển ra nớc ngoài. Đồng thời, việc phát triển du lịch cũng tạo điều kiện thuận lợi
cho việc mở rộng các quan hệ kinh tế của các thơng gia, các nhà đầu t trong nớc và
ngoài nớc thông qua việc khách du lịch đã kết hợp giữa việc tham quan du lịch với
việc tìm hiểu thị trờng, môi trờng đầu t kinh doanh. Du lịch làm thay đổi sắc thái
kinh tế của mỗi vùng, mỗi địa phơng và mỗi quốc gia. Với vị trí kinh tế đó, nhiều
nhà kinh tế đã gọi du lịch là một ngành công nghiệp không khói hoặc nghành
2. Tiềm năng du lịch nớc ta
2.1 Vùng du lịch Bắc Bộ
9
II a)Tiềm năng du lịch
Vùng du lịch Bắc Bộ có tiềm năng du lịch rất phong phú, đa dạng và có sức hấp
dẫn thật lớn chẳng những đối với khách du lịch trong nớc mà còn đối với khách du
lịch nớc ngoài và bà con Việt kiều ở xa tổ quốc, có khả năng đấp ứng yêu cầu của
nhiều loại hình du lịch với các loại đối tợng khác nhau và khả năng tiếp nhận số l-
ợng lớn khách du lịch.
Về mặt tự nhiên, trớc hết ở vùng này có rất nhiều cảnh đẹp. Cảnh thiên nhiên ở
đây có những nét hùng vĩ, thơ mộng của núi rừng nh thị trấn Sa Pa ở độ cao 1500m
trên mực nớc biển , mờ ảo trong sơng mù nh treo trên sờn của dãy Hoàng Liên Sơn
cao ngất, là một trong những nơi nghỉ mát nổi tiếng ở Việt Nam, cũng có khi ồn ào
sôi động nh ở các thác nớc Bản Giốc, Đầu Đẳng( Cao Bằng) hoặc cảnh tĩnh mịch
trong những cánh rừng già nguyên sinh nh ở các Vờn Quốc Gia Cúc Phơng ( Ninh
Bình), Ba Vì( Hà Tây), đảo Cát Bà (Hải Phòng) với hệ sinh thái rừng rậm nhiệt đới
rất điển hình, hoàn toàn làm thoả mãn trí tò mò của các du khách và lòng say mê
nghiên cứu của các nhà khoa học; có những nét bí hiểm, lạ mắt của các hang động
nh ở Hơng Sơn( Hà Tây) đợc mệnh danh là Nam thiên đệ nhất động khiến
khách du lịch ai mà chẳng muốn đến đó dù chỉ một lần; có những bãi biển cát
trắng phẳng lì, chan hoà ánh nắng và quanh năm lộng gió nh Trà Cổ( Quảng Ninh),
Đồ Sơn (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hoá), Cửa Lò (Nghệ An)... có sức thu hút
đặc biệt, mỗi năm đón hàng trăm nghìn ngời tới nghỉ mát, tắm biển. Đặc biệt cảnh
đẹp thiên nhiên vùng này tiêu biểu nhất là Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), một danh
lam nổi tiếng thế giới. Khách du lịch đến đây hẳn phải sững sờ trớc vẻ đẹp tạo hoá
sinh ra, tha hồ mà khám phá những điều kỳ thú của cả một thế giới đảo đá với
muôn hình, muôn vẻ, nửa nổi, nửa chìm trong vịnh biển.
Cùng với những cảnh đẹp, khí hậu vùng này ấm áp, trong lành rất thích hợp với
mọi hoạt động du lịch và có thể khai thác đợc quanh năm. Những tháng hè nóng
bức của vùng nhiệt đới, ở vùng này thờng từ tháng 5 đến tháng 9 lại là điều kiện
này thờng gắn liền và rất hài hoà với cảnh đẹp thiên nhiên nên càng tăng thêm giá
trị của nhiều điểm du lịch nh Hạ Long, Hơng Sơn, Hoa L, Lạng Sơn...
Về kinh tế- xã hội, đây là vùng truyền thống về sản xuất nông nghiệp hiện đang
tiếp cận với những thành tựu kinh tế, khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, từng
bớc di lên xây dựng nền kinh tế mới có cơ cấu hợp lý và nhiều thành phần nhằm
đạt đợc hiệu quả cao để không ngừng cải thiện và nâng cao mức sống của nhân
dân. Những nông sản nhiệt đới quý giá đợc dày công chế biến, đạt tiêu chuẩn chất
lợng cao rất cần thiết và giúp ích đắc lực cho hoạt động du lịch ở vùng này cũng rất
sẵn nh gạo tám thơm, nếp cái, các hoa quả thơm ngon nức tiếng gần xa: đào Sa Pa,
mận Bắc Hà, bởi Đoan Hùng, cam Bố Hạ, nhãn Hng Yên, vải Thanh Hà, chè Thái
Nguyên... cùng các loại thực phẩm tơi sống mùa nào thức ấy, vừa ngon vừa bổ, giá
cả lại rẻ. Hàng thủ công mỹ nghệ sử dụng hầu hết nguyên liệu trong nớc gồm các
mặt hành truyền thống nh: mây tre đan, sơn mài, gốm sứ, thêu đan, chạm khắc, các
sản phẩm từ cói của vùng này đạt trình độ thẩm mỹ cao, hoàn toàn có thể thoả mãn
nhu cầu của các loại khách du lịch và xuất khẩu.
Vùng này nổi tiếng bao đời là nơi đất lành chim đậu, nhân dân ham chuộng cuộc
sống thanh bình, cần cù lao động, thông minh, sáng tạo và giàu kòng mến khách,
tạo những điều kiện rất thuận lợi cho hoạt động du lịch.
b) Cơ Sở Hạ Tầng Du Lịch
So vớ các vùng khác trên đất nớc, vùng du lịch Bắc Bộ đã có cơ sở hạ tầng phục
vụ du lịch tơng đối phát triển.
Hệ thống đờng giao thông tơng đối tốt với các trục đờng chính từ thủ đô Hà Nội
toả đi khắp các nơi trong vùng. Từ Hà Nội lên các tỉnh miền núi phía Bắc có quốc
11
lộ 6; ra biển có quốc lộ 5 và tới các tỉnh phía Nam có quốc lộ 1. Các trục đờng sắt
chính cũng hầu nh chạy song song với các trục đờng bộ, bảo đảm khả năng vận
chuyển khách du lịch với số lợng lớn. Các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia và
quốc tế đều có thể đi lại bàng các phơng tiên giao thông khác nhau.Một số tuyến
du lịch có thể sử dụng các phơng tiện liên vận đờng sắt, đờng bộ, đờng thuỷ và đ-
ờng hàng không khép kín, bảo đảm cho khách du lịch có thể đi về một lối và trở về
ngày càng cao của khách du lịch. Gần đây ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và
Thanh Hoá đã nâng cấp và xây dựng mới đợc nhiều khách sạn. Cũng cần phải cân
nhắc, tính toán cụ thể để giải bài toán vừa thừa vừa thiếu chỗ ăn nghỉ cho khách
du lịch một cách hợp lý, tránh xây dựng khách sạn tràn lan, không đúng chỗ,
12
không đạt đợc hiệu quả kinh doanh vì hệ số sử dụng quá thấp, cha kể đến việc làm
ảnh hởng xấu tới cảnh quan du lịch vốn rất đẹp của vùng.
Về phục vụ ăn uống, ở đây cũng có những điều kiện rất thuạn lợi. Với nguồn l-
ơng thực, thực phẩm dồi dào và đa dạng, đội ngũ nhân viên phục vụ lành nghề, đã
sáng tạo ra nhiều món ăn, đồ uống ngon lành, đặc sắc nh cơm tấm giò cchả, phỏ
Bắc, bún ốc, bún mọc, nem chua, chả cá, rợu làng Vân, cốm Vòng, bánh đậu xanh
Hải Dơng... đợc khách du lịch rất tán thởng.
Về vui chơi giải trí, vùng này cũng có nhiều thứ, nhiều nơi mà khách du lịch
hằng thích thú. Đó là các trò thả chim, chọi gà, chọi trâu, đi chợ hoa ngày Tết hoặc
tham dự các ngày lễ hội, xem rối nớc, bơi chải, đấu vật, đánh đu, ném còn. Câu cá,
đi săn cũng là thú tiêu khiển đợc nhiều ngời u thích. ở một số điểm du lịchđã xây
dựng đợc chỗ chơi thể thao, bể bơi, tổ chức vũ hội, biểu diễn nghệ thuật, trình bày
trang phục dân tộc và mốt thời trang... th hút đợc đông đảo khách du lịch.
2.2 Vùng Du Lịch Bắc Trung Bộ.
a) Tài nguyên du lịch
Nét đặc sắc, đa dạng của các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên một
mảnh đất chịu nhiều thử thách qua các biến cố lịch sử của dân tộc, đã tạo ra cho
vùng du lịch Bắc Trung Bộ một tiềm năng du lịch phong phú, có giá trị thu hút
khách cao và điều kiện phát triển đủ các loại hình du lịch từ tham quan, nghỉ mát,
điều dỡng, tắm biển, thể thao đến nghiên cứu khoa học...Phần lớn các nguồn tài
nguyên du lịch của vùng này đều tập trung với mật độ tơng đối cao dọc theo quốc
lộ 1A và phát triển thành cụm với bán kính không đầy 100km xung quanh trung
tâm Huế, Đà Nẵng.
Vùng du lịch Bắc Trung Bộ có những đối tợng du lịch nổi tiếng không chỉ mang ý
nghĩa quốc gia mà còn là đối tợng tham quan, nghien cứu của khách du lịch quốc
cũ ở Quảng Trị, Quảng Ngãi trong một mức độ nhất định có thể hỗ trợ tích cực cho
hoạt động du lịch đi theo những đoàn nhỏ, không có thời gian để đi theo lộ trình
bằng đờng bộ.
Hệ thống giao thông đờng sắt và đờng bộ phát triển chủ yếu theo hớng song song
với đờng biển. Quốc lộ 1A với chất lợng đờng tơng đối tốt từ Huế vào đến Quảng
Ngãi. Còn đoạn từ Quảng Bình đến Huế do ảnh hởng của vùng chiến sự ác liệt
trong thời gian chiến tranh hiện xuống cấp nhiều, ngày nay đang đợc nhà nớc và
địa phơng đầu t bảo dỡng. Đờng quốc lộ số 9 dài 89km từ Quảng Trị đến cửa khẩu
Lao Bảo để thông qua Xavăn Na khet của Lào. Cửa khẩu Lao Bảo đã đợc nâng cấp
thành cửa khẩu quốc tế vào năm 1993 càng tạo thuận lợi cho việc đón du khách
theo đờng bộ từ Thái Lan sang.
Đờng giao thông đến các huyện lỵ trong vùng đang đợc chú ý nâng cấp. Đờng sắt
xuyên Việt chạy song song với quốc lộ 1A và đi qua phần lớn các điểm du lịch chủ
yếu trong vùng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch kể cả đờng sắt và
đờng ô tô.
Hệ thống cung cấp điện và nớc cho toàn vùng gặp rất nhiều khó khăn. Sản lợng
tính theo đầu ngời thấp. toàn vùng không có một nhà máy điện cỡ trung bình.
Ngay nh trung tâm công nghiệp Đà Nẵng sản lợng điện hàng năm chỉ đạt 100 triệu
kwh. Bình quân đầu ngời chỉ đạt 58 kwh thua mức bình quân cả nớc. Hiện nay,
mạng lới điện quốc gia với đờng dây 500 kv đã đến, trong tơng lai nhà máy điện
Yaly xây dựng xong, nguồn điện trong vùng này không còn là vấn đề gay gắt.
Mạng lới thông tin liên lạc điện thoại, điện báo trong tỉnh, trong nớc và liên lạc
quốc tế giao dịch đợc, nhng cha phải thuận tiện và thông suốt ở mọi nơi. So với yêu
cầu hiện nay thì còn ở mức thấp. Trong tơng lai vấn đề cấp và thoát nớc ở các đo
14
thị và các điểm du lịch quan trọng còn phải đầu t nhiều để khắc phục tình trạng
cấp và thoát nớc hiện nay, kể cả về số lợng và chất lợng.
c) Cơ sở vật chất- kỹ thuật
So với hai vùng du lịch kể trên, vùng du lịch Bắc Trung Bộ có hệ thống cơ sở vật
chất kỹ thuật thấp hơn cả. Các khách sạn đang sử dụng phần lớn đợc cải tạo lại
9'.
Trong vùng còn có vùng nớc khoáng ở Tây Nguyên và đồng bằng Nam Bộ với u
thế là các bicacbonat natri, bicacbonat natri-canxi hoặc clorua bicacbanat.
Tài nguyên thực động vật của vùng khá phong phú. ở đây có một số khu vực
mang màu sắc của hệ sinh thái nhiệt đới ẩm với sự có mặt của thảm thực vật, hệ
động vật hoặc phong phú, hoặc điển hình của tài nguyên siinh vật nhiệt đới. Đó là
15
khu dự trữ thiên nhiên suối Trai thuộc huyện Tây Sơn(tỉnh Bình Định), khu dự trữ
thiên nhiên Kon Cha Răng thuộc huyện Kbang (tỉnh Gia Lai), trạm thuần dỡng
động vật Ea Keo thuộc thị xã Buôn Ma Thuột, khu rừng cấm Nam Cát Tiên, hệ
sinh thái rừng ngập mặn đất mũi Cà Mau...
Nh một loại tài nguyên du lịch, các di tích văn hoá- lịch sử ở vùng du lịch Nam
Trung Bộ và Nam Bộ tơng đối phong phú tuy phân bố không đồng đều. Nhìn
chung, đa số các tỉnh trong vùng đều có các di tích đã đợc nhà nớc xếp hạng. Đó là
cha kể một khối lợng lớn các di tích văn hoá- lịch sử do địa phơng tự xếp hạng và
công nhận.
Trong vùng có một số cơ sở kinh tế là nơi tham quan cho khách du lịch. Cùng với
các đối tợng khác, các cơ sở này có thể đợc khai thác trong lộ trình ccủa một tuyến
du lịch. Ví dụ, theo tuyến Nha Trang- Phan Rang - Đà Lạt, du khách có thể dừng
chân tham quan cơ sở chế biến hải sản Nha Trang ( Đại Lãnh), trạm thuỷ điện
Krôngpha- Đanhim, khu vực sản xuất muối Cà Ná, thành phố cảng cá Phân Thiết.
Theo các tuyến du lịch khác, cần phải kể đến dải công nghiệp Tam Hiệp- Biên
Hoà, Xởng đóng tàu Ba Son, nhà máy dệt thành công, xí nghiệp điện tử Tp Hồ Chí
Minh, nhà máy in Trần Phú, liên doanh đầu khí, xởng sơn mài Sài Gòn, thuỷ điện
Trị An, Liên hiệp chè- cà phê Bảo Lộc...
b) Cơ sở hạ tầng du lịch
Muốn phát triển du lịch, trớc hết cần phải có mạng lới giao thông. Trong vùng du
lịch này hệ thống giao thông có sự kết hợp chặt chẽ giữa các loại đờng giao thông
với nhau.
Hệ thống đờng bộ trong vùng có tầm quan trọng hàng đầu. ở đây các tuyến đờng
Ngoài ra, hệ thống cơ sở vật chất- kỹ thuật phục vụ du lịch còn tập trung ở các
thành phố , thị xã duyên hải, tuy qui mô và chất lợng kém hơn ở tp HCM. Đó là
các thành phố Nha Trang, Quy Nhơn, các thị xã Phan Rang, Phan Thiết... ở các nơi
khác, hệ thống phục vụ này còn kém hơn, trừ một vài thành phố , thị xã lớn nh Cần
Thơ, Đà Lạt.
ở Tây Nguyên, nơi tiềm năng du lịch tơng đối phong phú nhng nói chung cơ sở
vật chất- phục vụ du lịch nghèo nàn.
Tóm lại, vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ có những sắc thái riêng khác với
vùng du lịc khác của đất nớc. Bên cạnh những thế mạnh to lớn, trong vùng cũng
bộc lộ những điểm yếu cả về phơng diện tự nhiên ( nhiều nơi thiếu nớc trong mùa
khô) lẫn cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất- kỹ thuật phục vụ du lịch ( sự phân bố
không đều về hệ thống giao thông, hệ thống khách sạn, nhà hàng). Chính điểm này
đã góp phần tạo nên sự phân hoá lãnh thổ trong hoạt động du lịch của vùng.
3. Sự cần thiết phải có sự quản lý của nhà nớc đối với hoạt động du lịch.
Với sự đóng góp to lớn của ngành du lịch cho sự phát triển kinh tế của đất nớc nh
đã nói ở phần trên cùng với tiềm năng to lớn của du lịch nớc ta, chúng ta khẳng
định rằng du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xã hội
hoá cao. Vì vậy, phát triển du lịch là nhiệm vụ và trách nhiệm của các ngành, các
cấp, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội và sự quản lý của nhà nớc mang
tính quyết định.
Cơ sở vật chất kỹ thuật .
Cơ sở vật chất kỹ thuật- du lịch đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá
trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng nh quyết định mức độ khai thác
17
các tiềm năng du lịch nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch. Chính vì
có vai trò quan trọng nh vậy nên sự phát triển của ngành du lịch bao giờ cũng
gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật.
Du lịch là ngành sản xuất nhiều và đa dạng về thể loại dịch vụ, hàng hoá nhằm
thoả mãn nhu cầu của khách du lịch. Do vậy, cơ sở vật chất kỹ thuật bao
gồm nhiều thành phần khác nhau. Việc tiêu dùng dịch vụ, hàng hoá du lịch đòi
chất kỹ thuật du lịch đợc căn cứ vào ba loại tiêu chuẩn chủ yếu:
+ Đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho nghỉ ngơi du lịch.
18
+ Đạt hiệu quả kinh tế tối u trong quá trình xây dựng và khai thác cơ sở vật
chất kỹ thuật.
+ Thuận tiện cho việc đi lại của khách từ các nơi đến.
Để đi sâu tìm hiểu nhằm sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch,
cần chú ý các thành phần chủ yếu sau:
Cơ sở phục vụ ăn uống, lu trú.
- Cơ sở phục vụ lu trú, ăn uống của ngành du lịch bao gồm các công trình đặc biệt
nhằm đảm bảo nơi ăn, ngủ và giải trí cho khách du lịch. Đây là thành phần đặc tr-
ng nhất trong toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch. Chúng đáp ứng nhu cầu căn
bản nhất của con ngời (ăn và ngủ) khi họ sống ngoài nơi thờng trú cuả họ. Các cơ
sở này có thể chịu sự quản lý của tổ chức, xí nghiệp du lịch, hoặc có thể hoạt động
độc lập. Chúng đợc phân hạng tuỳ theo tiêu chuẩn và mức độ đồng bộ của dịch vụ
trong đó.
- Các cơ sở lu trú là các cơ sở thơng mại kinh doanh buồng giờng hay các căn
hộ nhằm phục vụ khách vãng lai hay khách đến nghỉ ngơi. Họ có thể cho thuê
ngày, tuần hay tháng chứ không hẳn lâu dài nh nhà của họ. Các cơ sở lu trú
có thể bao gồm các cơ sở ăn uống, kinh doanh quanh năm hay chỉ một số
tháng trong năm. Các cơ sở lu trú đợc phân chia thành nhiếu loại.
+ Các cơ sở lu trú du lịch xã hội, chủ yếu đón nhận khchs du lịch trong nớc vì mức
độ tiện nghi và chất lợng phục vụ ở mức trung bình, không cho phép tiếp đón
khách du lịch quốc tế, nhất là từ các nớc du lịch phát triển đến. Các cơ sở này th-
ờng nằm ở các đô thị và điểm du lịch.
+ Nhà khách là các cơ sở kinh doanh nhỏ có thể phục vụ cả vấn đề ăn uống cho
khách. Có khoảng từ 1 đến 6 phòng, có kiến trúc và thiết kế nội thất theo truyền
thống địa phơng. Các nhà khách này thờng nằm ở nông thôn hoặc ngoại vi thành
phố.
+ Khách sạn trung chuyển du lịch là các cơ sở kinh doanh nhỏ, đáp ứng các tiêu
- Do khách du lịch đông, lại từ nhiều nơi đến nên nhu cầu về hàng hoá của họ
rất phong phú, đa dạng, tuỳ theo đặc điểm tiêu dùng nh tính truyền thống,
tính dân tộc ... Từ đó cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng nhu cầu trên cũng phong
phú, đa dạng, từ cửa hàng bán thực phẩm, rau quả, cửa hàng bán đồ lu niệm
đến các cửa hàng bán đồ chuyên dùng cho du lịch, bán hàng tiêu dùng (bằng
ngoại tệ hay nội tệ ...)
- Các cửa hàng có thể đợc bố trí trong khách sạn, tại khu du lịch, đầu mối giao
thông.
Cơ sở thể thao:
- Là một bộ phận của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch. Chúng có tác dụng tạo
điều kiện thuận lợi cho kỳ nghỉ của khách du lịch, làm cho nó trở nên tích cực
hơn. Các cơ sở thể thao gồm có các công trình thể thao, các phòng thể thao
hay trung tâm thể thao với nhiều loại khác nhau, các thiết bị chuyên dùng cho
mỗi loại (bể bơi, xe đạp nớc, cầu trợt nớc, cho thuê ô tô...).
- Ngày nay, công trình thể thao là một bộ phận không thể tách rời khỏi cơ cấu
vật chất kỹ thuật của các trung tâm du lịch. Chúng làm tăng hiệu quả sử dụng
của khách sạn, camping... và làm phong phú thêm các laọi hình hoạt động du
lịch.
20
Cơ sở y tế:
- Nhằm mụcđích phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp dịch vụ bổ sung tại
các điểm du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật ở đây bao gồm các trung tâm chữa
bệnh (bằng nớc khoáng, ánh nắng mặt trời, bùn, các món ăn riêng ...), các
phòng y tế với các trang thiết bị trong đó (phòng tắm hơi, massage ...).
- Các cơ sở y tế luôn gắn liền với các công trình thể thao và có thể đợc bố trí
ngay trong khách sạn.
Các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hoá: phục vụ du lịch nhằm
mục đích nâng cao, mở rộng kiến thức văn hoá xã hội cho khách du lịch, tạo
điều kiện giao tiếp xã hội, tuyên truyền về truyền thống, thành tựu văn hoá của
các dân tộc.
Chơng II Tác động của nhà nớc trong hoạt động
du lịch trong thời gian qua
I Tác động của nhà nớc thông qua hệ thống văn bản hiện
hành về quản lý du lịch.
1- Nghị quyết 45-CP của Chính phủ về đổi mới quản lý và phát triển ngành
du lịch.
Tại phiên họp ngày 21 tháng 4 năm 1993 Chính phủ đã quyết nghị về những chủ
trơng biện pháp đổi mới quản lý và phát triển ngành du lịch trong thời gian tới,
theo phơng hớng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội do Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VII đề ra.
A- Du lịch là một ngành kinh tế quan trọng trong chiến lợc phát triển kinh tế
xã hội của đất nớc.
Du lịch là một ngành kinh tế mang tính chất tổng hợp, có tác dụng góp phần tích
cực thực hiện chính sách mở của; thúc đẩy sự đổi mới và phát triển của nhiều
ngành kinh tế khác, tạo công ăn việc làm, mở rộng giao lu văn hoá và xã hội giữa
các vùng trong nớc và giữa nớc ta với nớc ngoài, tạo điều kiện tăng cờng tình hữu
nghị, hoà bình và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc.
22
Nớc ta có tiềm năng lớn về nhiều mặt để phát triển du lịch, có điều kiện thiên
nhiên phong phú, có nhiề danh lam, thắng cảnh nổi tiếng, có truyền thống văn hoá
lâu đời với nhiều lễ hội, phong tục, taqạp quán tốt đẹp và độc đáo, nhiều di tích
lịch sử, ttôn giáo, kiến trúc nghệ thuật đạc sắc, giàu bản sắc nhân văn, nguồn lao
động dồi dào, thông minh, cần cù và giàu lòng nhân ái.
Trong những năm gần đây, ngành du lịch đã có những đổi mới từng bớc phát triển
cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo điều kiện bớc đầu thu hút khách nớc ngoài và kiều bào
về thăm Tổ quốc; giới thiệu đất nớc, con ngời, và tinh hoa của dân tộc Việt Nam
với bạn bè quốc tế; đáp ứng một phần nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi, giải trí của
nhân dân trong nớc, bớc đầu đã thu đợc kết quả nhất định về kinh tế.
Song do nhận thức cha đầy đủ về vị trí, tính chất và tác dụng nhie4èu mặt về kinh
chú trọng phát triển du lịch nội địa, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân
dân về tham quan, du lịch trong nớc và ngoài nớc, góp phần nâng cao dân trí,
phục hồi sức khoẻ, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta.
+ Phơng hớng phát triển du lịch.
Không ngừng nâng cao chất lợng và đa dạng hoá các sản phẩm du lịch, tạo sự hấp
dẫn, thu hút khách du lịch quốc tế để làm cho ngành du lịch Việt Nam phát triển
nhanh, sớm đuổi kịp ngành du lịch của các nớc phát triển ở trong vùng và trên thế
giới, đa du lịch nớc ta trở thành một ngành kinh tế quan trọng, góp phần thúc đẩy
các ngành kinh tế khác trong nớc, tạo công ăn việc làm cho xã hội, đáp ứng nhu
cầu ngày càng tăng của nhân dân về tham quan, du lịch.
24
C- Những chủ trơng và biện pháp thực hiện.
Tăng cờng quản lý Nhà nớc về du lịch trên phạm vi cả nớc và từng vùng lãnh
thổ.
- Bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chế độ, chính sách về du lịch để
bảo đảm quản lý nhà nớc chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ trên phạm vi cả nớc.
- Nhanh chóng kiển toàn Tổng cục du lịch; xúc tiến thành lập các sở du lịch ở
các tỉnh, thành phố là trung tâm du lịch; quy địng rõ chức năng, nhiệm vụ và
tiêu chuẩn cán bộ của ngành du lịch.
- Sắp xếp lại hệ thống kinh doanh du lịch theo hớng chuyên môn hoá nghề
nghiệp du lịch và khách sạn để nang cao chất lợng các dịch vụ du lịch;
- Thực hiện đấu thầu hoặc cổ phần hoá một số khách sạn, nhà khách, nhà
nghỉ... nhằm khuyến khích và huy động vốn của các thành phần kinh tế trong
nớc tham gia hoạt động du lịch
Triển khai quy hoạch tổng thể phát triển du lịch trong cả nớc và quy hoạch ba
vùng du lịch trọng điểm.
Tổng cục du lịch cùng Uỷ ban kế hoạch nhà nớc, Bộ xây dựng và các Bộ, Ngành
có liên quan và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố tiến hành ngay việc lập quy hoạch
tổng thể phát triển du lịch trong cả nớc và từng vùng, trớc tiên là vùng thành phố
Hồ Chí Minh Biên hoà - Vũng tàu, vùng Thừa thiên Huế Quảng nam - Đà