MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA CÔNG TÁC CHO VAY ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN VAY
VỐN TÍN DỤNG ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC QUA NGÂN HÀNG
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
3.1. ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC TÍN DỤNG ĐẦU TƯ CỦA NHÀ
NƯỚC TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1.1. Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn tới
Sau 15 năm đổi mới, Việt Nam đã bước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - tài
chính sâu sắc, kéo dài từ cuối thập niên 70 cho đến đầu thập niên 90 và bắt đầu từng
bước tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Chúng ta đã thực
hiện tốt các mục tiêu kinh tế - xã hội đề ra trong giai đoạn 1991 – 2000: kinh tế đạt
được những mức tăng trưởng ngoạn mục, thu nhập bình quân đầu người tăng lên đáng
kể, các chỉ số về xã hội cũng đã ít nhiều được cải thiện. Nhờ vậy, vị thế của Việt Nam
trên trường quốc tế đã được nâng lên một tầm cao mới, đầu tư nước ngoài tăng lên đã
góp phần tạo nên một diện mạo mới cho nền kinh tế. Trong thời gian tới, “phát triển
kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm” và vẫn coi công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là một trọng điểm cần tập trung sự chỉ đạo
và các nguồn lực cần thiết. Với mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội trong giai đoạn tới là:
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tập trung xây dựng có chọn lọc một số cơ
sở công nghiệp nặng quan trọng với công nghệ cao, sản xuất tư liệu sản xuất cần thiết
để trang bị và trang bị lại kỹ thuật, công nghệ tiên tiến cho các ngành nông nghiệp,
công nghiệp, dịch vụ, đáp ứng nhu cầu quốc phòng, đưa đất nước ra khỏi tình trạng
kém phát triển và xây dựng nền tảng đế đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp. Chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của mọi người dân được
nâng lên một bước đáng kể. Thể chế, kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa
được định hình về cơ bản. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghê, tiềm
lực kinh tế, quốc phòng an ninh được tăng cường, vị thế trong quan hệ quốc tế được
củng cố và nâng cao.
3.1.2. Quan điểm hoàn thiện cơ chế tín dụng ĐTPT của Nhà nước trong
giai đoạn tới
Thứ tư, cơ chế cho vay nguồn vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước phải linh hoạt và
năng động.
Lãi suất tín dụng ĐTPT của Nhà nước là lãi suất ưu đãi, thấp hơn so với lãi suất của
thị trường nhằm kích thích đầu tư vào những ngành, lĩnh vực, những vùng cần khuyến
khích đầu tư. Do vậy, lãi suất tín dụng ĐTPT của Nhà nước phải linh hoạt, thay đổi theo
từng thời kỳ, phù hợp với từng lĩnh vực, từng vùng thuộc đối tượng ưu đãi.
Việc sử dụng vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước phải đảm bảo có hiệu quả, đúng
mục đích, chống lãng phí, thất thoát và tiết kiệm. Do công tác cho vay tín dụng ĐTPT của
Nhà nước gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nên hiệu quả trực tiếp
của đầu tư cần đặc biệt coi trọng lợi ích xã hội. Việc sử dụng vốn tín dụng ĐTPT của Nhà
nước không những phải trả được vốn vay mà còn phải sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và
tiết kiệm.
3.1.3. Định hướng cho vay tín dụng ĐTPT của Nhà nước trong giai đoạn
2001 – 2010
Xuất phát từ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và các quan điểm hoàn thiện cơ
chế quản lý cho vay tín dụng ĐTPT của Nhà nước, định hướng hoạt động tín dụng ĐTPT
của Nhà nước trong giai đoạn tới cần tập trung vào những ngành, những lĩnh vực có vai trò
quan trọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng và Nhà nước.
Tín dụng ĐTPT của Nhà nước đối với phát triển năng lượng
Trong thời gian tới, phát triển năng lượng phải đi trước một bước, đảm bảo an toàn
năng lượng để phát triển sản xuất và tiêu dùng dân cư. Nhưng đầu tư phát triển năng lượng
đòi hỏi vốn rất lớn, thời gian thu hồi vốn chậm. Việc cho vay thương mại gặp nhiều khó
khăn do huy động vốn trong nước thông thường là ngắn hạn. Vì vậy, cần phải có sự tham
gia của cho vay tín dụng ĐTPT của Nhà nước đối với các dự án ĐTPT.
Tín dụng ĐTPT của Nhà nước đối với phát triển ngành cơ khí trọng điểm
Nếu so sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới, ngành cơ khí nước ta đang
ở trình độ rất thấp, công nghệ lạc hậu, máy móc thiết bị cũ kỹ và chưa được đầu tư ở mức
thích đáng. Chính vì lẽ đó, đầu tư phát triển ngành cơ khí ở nước ta trong thời gian tới phải
có trọng tâm, trọng điểm, phải có thứ tự ưu tiên, ưu đãi. Trong thời gian tới tín dụng ĐTPT
của Nhà nước nên tập trung cho các dự án đầu tư thuộc những lĩnh vực trọng điểm sau:
kinh doanh trong khu công nghiệp, cần tham gia đầu tư vào các công trình hạ tầng kinh tế -
kỹ thuật ngoài hàng rào như đường giao thông, điện, nước, và các dự án cơ sở hạ tầng
khác.
Tín dụng ĐTPT của Nhà nước đối với sản xuất, chế biến, kinh doanh
xuất khẩu
Để nâng cao chất lượng các mặt hàng xuất khẩu, tạo thị trường ổn định cho một
số mặt hàng nông sản, thực phẩm và hàng công nghiệp có khả năng cạnh tranh thực
hiện chiến lược sản xuất hướng vào xuất khẩu. Trong những năm tới, tín dụng ĐTPT
của Nhà nước cần tập trung hỗ trợ đối với các dự án sản xuất chế biến, kinh doanh
những nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Những mặt hàng này phải thực sự là những
mặt hàng tiềm năng của đất nước và có thị trường tiêu thụ. Nếu có sự trợ giúp từ nguồn
vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước thì những mặt hàng này sẽ đem lại nguồn thu lớn
hoặc kích thích sản xuất các mặt hàng phục vụ trong nước. Trong giai đoạn hiện nay,
Nhà nước cần chú trọng hỗ trợ đối với các dự án đầu tư chế biến, nâng cao chất lượng
gạo, cà phê, cao su, thủy sản, lâm sản; các dự án sản xuất, kinh doanh hàng dệt may, da
giầy; các dự án sản xuất động lực, hàng điện tử và linh kiện điện tử, phần mềm máy
tính xuất khẩu.
Tín dụng ĐTPT của Nhà nước đối với phát triển khoa học công nghệ
Phát triển khoa học công nghệ, trong thời gian tới, cần phải có sự tham gia của tín
dụng ĐTPT của Nhà nước để tạo bước đột phá mới, chuyển đổi cơ cấu công nghệ theo
hướng hiện hóa từng khâu, từng ngành. Một mặt, tín dụng ĐTPT cần hướng cho vay vào
những công nghệ cơ bản có vai trò quyết định đối với việc nâng cao trình độ công nghệ
của nhiều thành phần kinh tế, phát huy lợi thế của đất nước về tài nguyên nông nghiệp
nhiệt đới và lực lượng lao động dồi dào ở nông thôn; mặt khác, tín dụng ĐTPT khi cho vay
cần đi thẳng vào công nghệ tiên tiến, hiện đại, hàm lượng trí tuệ chất xám cao.
Để góp phần tạo đà cho sự phát triển khoa học, công nghệ trong thời gian tới, tín
dụng ĐTPT của Nhà nước nên chỉ tập trung hỗ trợ đối với các dự án nghiên cứu, phát
triển khoa học công nghệ thông tin, công nghệ phần mềm, công nghệ vi sinh, công nghệ
tự động hóa, công nghệ vật liệu mới, bảo quản sau thu hoạch và chế biến nông sản, dịch
vụ khoa học công nghệ và chuyển giao công nghệ.