BẢN ĐĂNG KÝ THAM GIA
ĐỀ TÀI KHCN CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH THÍCH
ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CẤP HUYỆN KHU VỰC NAM BỘ
CỦA VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
PHẦN I.
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NHIỆM VỤ CỦA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
I.1. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA NHÀ NƯỚC:
Tại hội thảo lần thứ 2 về "Xây dựng kế hoạch phòng tránh, khắc phục thiên tai,
ứng phó và giảm nhẹ tác động do biến đổi khí hậu" do Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn tổ chức ngày 30/8/2010 ở Vĩnh Phúc, các chuyên gia cho biết biến đổi khí hậu
đã tác động tiêu cực đến hầu hết lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam.
Các chuyên gia đã đưa ra nhiều giải pháp cụ thể như: nâng cấp hệ thống đê biển,
đê sông cao thêm 50cm vào năm 2020, nhất là hệ thống đê biển từ Quảng Ngãi đến Kiên
Giang, để ứng phó với mực nước biển đang dâng; trồng 300.000-350.000ha rừng ngập
mặn, rừng chống cát di động ven biển; phân phối sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguồn nước
ngọt, cung cấp nước, vệ sinh môi trường cho những vùng bị nhiễm mặn, hải đảo, vùng
hạn hán, lũ lụt, ngập úng, xâm nhập mặn; áp dụng giống mới cho các vùng đặc thù mặn,
hạn, ngập, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu giống để thích ứng với biến đổi khí hậu
Điều phối viên Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) tại Việt Nam,
khẳng định: trước mắt, băng tan sẽ đe dọa hơn 40% dân số toàn thế giới. Mặt khác, biến
đổi khí hậu sẽ làm cho năng suất nông nghiệp giảm, thời tiết cực đoan tăng, thiếu nước
ngọt trầm trọng trên toàn thế giới, hệ sinh thái tan vỡ và bệnh tật gia tăng
Nhằm giúp Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu, UNDP sẽ cung cấp nhiều
thông tin cần thiết để các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam đưa ra những chiến
lược thích ứng và giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu vào chiến lược tổng thể phát
triển kinh tế xã hội của quốc gia.
Có thể nói rằng, Chính phủ Việt nam đang cố gắng làm hết sức mình để phòng
tránh, khắc phục thiên tai, ứng phó và giảm nhẹ tác động do biến đổi khí hậu gây ra.
Ngày nay, sự biến đổi khí hậu không còn là những khái niệm chung chung nữa, mà mỗi
người dân, từ thành thị đến nông thôn đều cảm nhận được qua thực tế hàng ngày. Nhiệt
độ không khí trung bình của cả Việt nam đã tăng lên một đến hai độ. Nước mặn đã đi sâu
chúng tôi xin được đăng ký tham gia vào chương trình của đề án với đề tài : Nghiên cứu
chuyển hóa nguồn sinh khối từ rừng ngập mặn thành nhiên liệu mới (sunfuel) và vật
liệu mới (Green composite)
PHẦN II.
NỘI DUNG CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI ĐĂNG KÝ.
I. Thông tin về cá nhân đề xuất và đơn vị:
- Họ tên cá nhân đề xuất: HỒ SƠN LÂM; Chức danh khoa học: PGS.TS; Năm
sinh: 1950
- Đơn vị công tác: VIỆN KHOA HỌC VẬT LIỆU ỨNG DỤNG
II. Thông tin về đề tài
1. Tên đề tài: Nghiên cứu chuyển hóa nguồn sinh khối từ rừng ngập mặn
thành nhiên liệu mới (sunfuel) và vật liệu mới (Green composite)
Tên tiếng Anh: Research conversion from biomass resources of mangroves
into a new fuel (sunfuel) and new materials (composite Green)
2. Thuộc đề án “CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH
THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CẤP HUYỆN KHU VỰC NAM BỘ” do
Viện KH&CN VN chủ trì,
3. Tính cấp thiết, yêu cầu và sự cần thiết tiếng hành đề tài:
Lý do thứ nhất: Đề tài “Nghiên cứu chuyển hóa nguồn sinh khối từ rừng ngập mặn
thành nhiên liệu mới (sunfuel) và vật liệu mới(Green composite)” được đặt ra trong bối
cảnh sự biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ trái đất của chúng ta.
Theo các nhà khoa học, biến đổi khí hậu tác động chủ yếu làm nước biển dâng gây ngập
lụt, nhiệt độ tăng cao, thời tiết diễn biến bất thường (mưa, bão, lũ lụt, hạn hán nhiều biến
động), suy giảm nguồn tài nguyên nước Riêng tại khu vực ĐBSCL, biến đổi khí hậu
càng có nhiều tác động xấu do việc ngập lụt, xâm nhập mặn, thiếu nước tác động đến sản
xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sinh thái rừng ngập mặn… Nước biển dâng sẽ làm
tăng ngập lụt ở phần lớn diện tích vùng châu thổ sông Cửu Long, trong đó có nhiều vùng
thấp ven biển (khoảng 15.000-20.000km
2
) bị ngập hoàn toàn. Trong đó nếu theo kịch bản
liệu giảm xuống, làm ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội.
Giải pháp tốt nhất trong tình huống này vẫn sẽ là các máy phát điện có công suất
vừa và nhỏ cho các cụm dân cư sử dụng nhiên liệu lỏng. Ngoài ra, loại nhiên liệu này còn
là giải pháp tốt nhất cho người dân, khi phương tiện đi lại chủ yếu là các loại xuồng máy,
ghe, thuyền. Nghiên cứu sản xuất nhiên liệu lỏng từ biomass sẽ góp phần giải quyết nạn
khan hiếm dầu mỏ, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường vì nó không phải qua khâu
chế biến từ dầu mỏ.
4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là nguồn sinh khối của các loại rừng ngập
mặn hiện có và sẽ trồng ven biển, ven sông như cây đước, sú, vẹt hay cây dừa nước- là
nhưng cây có dự án trồng trong chương trình chống biến đổi khí hậu.
Sản phẩm chính của chúng là vật liệu cao phân tử, được gọi là composite xanh và
nhiên liệu đi từ biomass gọi là sunfuel.
Nhiên liệu là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng cho nền kinh tế và đời sống
của nhân loại. Từ 200 năm nay, con người sử dụng nhiên liệu sản xuất từ tài nguyên hóa
thạch là chính. Những năm 40 của thế kỷ 20, nguồn nguyên liệu mới là các chất phóng xạ
được đưa vào sử dụng để sản xuất năng lượng. Tiếp theo là năng lượng từ thủy điện,
năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng từ lòng đất, năng lượng từ sinh khối…
gọi chung là năng lượng tái tạo( renewable energy)
Nguyên liệu hóa thạch( than, dầu mỏ, khí đốt) ngày càng khó khai thác nên giá cả
biến động. Đặc biệt, khai thác nó đã gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường, chế biến
nó thành nhiên liệu càng tạo ra nhiều chất độc cho môi trường hơn và tiêu hao một phần
năng lượng sinh ra.
Năng lượng từ hạt nhân có vẻ như sạch và rẻ nhất, nhưng trong bối cảnh biến đổi
khí hậu như hiện nay, năng lượng hạt nhân đang đứng trước sự xem xét nghiêm ngặt, vì
vậy, các chi phí cho nguồn năng lượng này sẽ rất cao nhưng vẫn không bảo đảm tính an
toàn.
Các dạng năng lượng khác như mặt trời, gió đang được xem là các nguồn năng
lượng sạch và cũng đang được đầu tư mạnh. Tuy nhiên, trong bối cảnh biến đổi khí hậu,
các nguồn năng lượng này hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên, mà con người không thể
quy mô cấp huyện có công suất từ 500-1000 m
2
vật liệu composit và 300-500 lít xăng
(diesel)/tháng từ sinh khối rừng ngập mặn.
6. Những nội dung nghiên cứu chủ yếu:
6.1. Giai đoạn nghiên cứu trong phòng thí nghiệm( 2013-2014):
6.1.1: Nghiên cứu sơ bộ về cấu tạo chất của một số cây như đước, sú, dừa nước:
- Hàm lượng nước, xenlulose thô, hemixenlulose thô, lignin trong thân , lá và vỏ
quả
6.1.2: Nghiên cứu sử dụng cấu trúc sợi tự nhiên của các loại cây trên:
- Nghiên cứu hàm lượng nước trong thân lá, cấu trúc sợi và lỗ xốp, tỷ trọng và các tính
chất cơ học của sợi.
- Nghiên cứu trao đổi chất trong cấu trúc thân lá (thay nước bằng các polyme phân
hủy sinh học)
- Nghiên cứu chế tạo tấm composit
- Nghiên cứu chế tạo Vật liệu giả gỗ
6.1.3: Nghiên cứu biến tính sợi để sản xuất vật liệu composit xanh
- Nghiên cứu qui trình công nghệ tách các chất trong cây như xenlulose thô,
hemixenlulose thô, lignin và một số chất khác.
- Nghiên cứu qui trình công nghệ biến tính sợi, chất độn và polyme nền phù hợp
để sản xuất Tấm lợp ,Vách ngăn dạng coposite.
6.1.4: Nghiên cứu công nghệ chuyển hóa phần biomass phế thải thành hydrocarbon
lỏng
làm nhiên liệu.
- Chuyển hóa toàn bộ biomass phế thải trong các giai đoạn trên thành xenlulose
thô
- Hoàn thiện qui trình tổng hợp xúc tác raney-nikel và oxit kim loại màu có cấu
trúc nano làm xúc tác cho phản ứng chuyển hóa xenlulose thành hydrocacbon.
- Hoàn thiện công nghệ và thiết bị chuyển hóa biomass trong phòng thí nghiệm.
- Chế tạo thiết bị bao gồm: Xúc tác oxit kim loại có cấu trúc nano (1kg), chế tạo
- Từ tháng 1/2014- 12/2015( 24 tháng)
6.2.4:Kinh phí thực hiện: 4,250 Tỷ( Bốn tỷ hai trăm năm mươi triệu VND).
( Phần nhà xưởng và cơ sở hạ tầng như điện nước do địa phương nơi tiếp nhận
thiết bị và công nghệ lo)
7. Tổng kinh phí của đề tài: 5.000.000.000,0 VND ( 5 tỷ VND)
TPHCM, ngày 7 tháng 01 năm 2013
(Cá nhân đăng ký đề tài ký tên)
BẢN ĐĂNG KÝ THAM GIA
ĐỀ TÀI KHCN CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU
CỦA VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM & BỘ TÀI NGUYÊN,
MÔI TRƯỜNG.
Tên đề tài dự án Chủ nhiệm &
cơ quan chủ
trì
Cấp quản lý Thời gian và
kinh phí
Mục tiêu Kết quả
2 3 4 5 6 7
Nghiên cứu
chuyển hóa
nguồn sinh khối
từ rừng ngập mặn
(cây đước, sú,
vẹt, dừa nước)
thành nhiên liệu
mới (sunfuel) và
vật liệu mới
(Green omposite)
PGS.TS
Vách ngăn
composite xanh
đạt tiêu chuẩn ván
ép bề nước ( chưa
có ở VN)Tổng
công suất: 500-
1000 m
2
/tháng.
Chế tạo thiết bị
hoàn thiện qui
trình công nghệ
sản xuất nhiên liệu
từ biomass có
công suất 300-500
lít Bio oil /tháng