BÁO CÁO
ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT
MÔ HÌNH THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CÓ HIỆU QUẢ
NHÓM TƯ VẤN: TRUNG TÂM CGCN & DV, TRƯỜNG ĐHCT
- Nguyễn Phú Son (Trưởng nhóm)
- Lưu Hữu Mãnh
- Lê Văn Bé
- Lâm Mỹ Lan
- Lê Văn Dễ
- Lê Bửu Minh Quân
------------------------------------------------------Trà Vinh, Tháng 10/2016
MỤC LỤC
1. GIỚI THIỆU................................................................................................................1
2. PHƯƠNG PHÁP TƯ VẤN........................................Error! Bookmark not defined.
2.1. Rà soát các mô hình thành công thông qua khảo sát thực địa.....Error! Bookmark
not defined.
2.2. Tài liệu hóa các mô hình thành công.......................Error! Bookmark not defined.
3. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÁC MÔ HÌNH ĐƯỢC DỰ ÁN AMD HỖ TRỢ.....6
3.1. Mô hình nuôi hàu trong bè nổi..................................................................................6
3.2. Mô hình nuôi dê........................................................................................................9
3.3. Mô hình nuôi gà thả vườn.......................................................................................12
3.4. Mô hình nuôi bò sinh sản........................................................................................16
3.5. Mô hình nuôi heo....................................................................................................19
3.6. Mô hình trồng bắp giống.........................................................................................22
3.7. Mô hình trồng bắp lai..............................................................................................25
4.16. Mô hình trồng khổ qua..........................................................................................69
4.17. Mô hình trồng khoai môn.....................................................................................69
4.18. Mô hình trồng ớt...................................................................................................69
5. KẾT LUẬN................................................................................................................70
Phụ lục 1. Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi dê.......................................................71
Phụ lục 2. Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi gà thả vườn........................................72
Phụ lục 3. Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi bò.......................................................73
Phụ lục 4. Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi heo.....................................................74
Phụ lục 5. Hiệu quả tài chính của mô hình trồng bắp giống..........................................75
Phụ lục 6. Hiệu quả tài chính của mô hình trồng bắp lai...............................................76
Phụ lục 7. Hiệu quả tài chính của mô hình trồng bầu....................................................77
Phụ lục 8. Hiệu quả tài chính của mô hình trồng bí đao..................................................1
ii
Phụ lục 9. Hiệu quả tài chính của mô hình trồng cải xà lách...........................................1
Phụ lục 10. Hiệu quả tài chính của mô hình trồng đậu bắp.............................................2
Phụ lục 11. Hiệu quả tài chính của mô hình trồng đậu phộng.........................................3
Phụ lục 12. Hiệu quả tài chính của mô hình trồng dưa leo..............................................1
Phụ lục 13. Hiệu quả tài chính của mô hình trồng hành lá..............................................2
Phụ lục 14. Hiệu quả tài chính của mô hình trồng hẹ......................................................3
Phụ lục 15. Hiệu quả tài chính của mô hình trồng khổ qua.............................................4
Phụ lục 16. Hiệu quả tài chính của mô hình trồng khoai môn.........................................5
Phụ lục 17. Hiệu quả tài chính của mô hình trồng ớt.......................................................1
Phụ lục 18. Xếp hạng thứ tự ưu tiên mô hình được đề xuất nhân rộng...........................2
Phụ lục 19. Các nông hộ tham gia trả lời phỏng vấn.......................................................3
iii
Vinh (Dự án AMD Trà Vinh) do Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế (IFAD) tài trợ.
Mục tiêu tổng thể của dự án là xây dựng sinh kế bền vững cho người nghèo nông
thôn trong điều kiện biến đổi khí hậu. Mục tiêu cụ thể là nâng cao năng lực thích
ứng của cộng đồng để tăng cường khả năng ứng phó biến đổi khí hậu. Đối tượng
của dự án là hộ nghèo và cận nghèo, hộ do phụ nữ làm chủ và hộ người dân tộc
Khmer sẽ được ưu tiên.
Dự án triển khai tại 30 xã của 7 huyện; ước tính dự án sẽ tạo lợi ích đáng kể
cho tối thiểu 62.500 người dân nghèo của 15.000 hộ gia đình nông thôn; thời gian
thực hiện dự án là 6 năm, từ năm 2014- 2020.
Dự án gồm có 3 hợp phần:
Hợp phần 1. Nâng cao kiến thức về biến đổi khí hậu
Mục tiêu của Hợp phần này là hỗ trợ xây dựng khung quản lý thích ứng biến
đổi khí hậu trên lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn cho các cộng đồng, các tổ chức
trong tỉnh tham gia. Kết quả này sẽ đạt được thông qua hai tiểu hợp phần:
Nâng cao kiến thức về biến đổi khí hậu gồm 3 hoạt động chính (a) Xây dựng
cơ sở bằng chứng cho sự thích ứng, (b) Quan trắc và báo cáo chất lượng nước, (c)
Quản lý và tuyên truyền, phổ biến tri thức.
Lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội có lồng ghép yếu tố biến đổi khí hậu
gồm 2 hoạt động chính (a) Lập kế hoạch quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng dựa
vào cộng đồng, (b) Lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội lồng ghép yếu tố khí hậu
và xây dựng, phát triển chính sách.
1
Hợp phần 2. Đầu tư cho sinh kế bền vững
Mục tiêu của hợp phần là nâng cao tính bền vững và hiệu quả của các khoản
đầu tư thích ứng với BĐKH. Hợp phần này có 2 tiểu hợp phần:
Tài chính nông thôn để cải thiện sinh kế gồm các hoạt động: (a) Thành lập các
Tổ tiết kiệm và tín dụng mới (SCG), (b) Chuyển đổi các mạng lưới tín dụng thành
các Tổ chức tài chính vi mô (MFI), (c) Hỗ trợ vốn cho đầu tư vào thích ứng biến đổi
Nghiên cứu được tiến hành theo 4 bước: (1) Đầu tiên nhóm tư vấn tiến hành
nghiên cứu tài liệu nhằm nắm được những thông tin chung về dự án; (2) Sau đó bộ
công cụ khảo sát được xây dựng và làm cho thích ứng với điều kiện của vùng
nghiên cứu dựa trên các công cụ đã được phát triển và áp dụng cho các cộng đồng ở
ĐBSCL; (3) Lập kế hoạch và thực hiện khảo sát thực địa; (4) Phân tích số liệu; (5)
Báo cáo, đề xuất; (6) tài liệu hóa.
Phân tích và đánh giá mức độ thành công của mô hình dựa trên 9 tiêu chí &
sử dụng thang đo Likert để đánh giá:
(i) Tài chính (tỷ số lợi nhuận, chi phí, thu nhập tăng thêm, cải thiện năng suất,
chất lượng);
(ii) Khả năng/tính thích ứng với biến đổi khí hậu (Áp dụng thang đo likert để
đánh điểm);
(iii) Khả năng nhân rộng mô hình (yếu tố về lao động, kỹ thuật, thị trường...);
(iv) Sinh kế đa thu nhập;
(v) Cải thiện tài nguyên thiên nhiên, quản lý rủi ro dựa trên kiến thức;
(vi) Có đóng góp trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội cấp xã;
(vii) Không phương hại và/hoặc là cải thiện được tình trạng ô nhiễm môi
trường;
(viii) Cải thiện được điều kiện sức khỏe và lao động.
2.1. Nghiên cứu tài liệu
Các tài liệu của Dự án AMD Trà Vinh: Báo cáo thiết kế, văn kiện dự án, mẫu
đánh giá lợi nhuận của nông hộ, sổ tay hướng dẫn Quỹ CCA, các báo cáo và các
3
loại văn bản có liên quan đến quá trình triển khai thực hiện Quỹ; danh sách các
hộ/tổ nhóm được tài trợ CCA đi kèm với KHSXKD được duyệt; các tài liệu có liên
quan đến triển khai thực hiện Quỹ của Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
(NN&PTNT), danh sách đối tượng được chọn tham vấn theo lĩnh vực và địa bàn và
tài liệu tập huấn kỹ thuật của Trung tâm KN-KN thuộc Sở NN&PTNT để nhóm tư
lãnh đạo và cán bộ của dự án và các cán bộ Sở NN&PTNT có liên quan, các tác
nhân;
Khảo sát thực địa: mục đích để quan sát đánh giá điều kiện tự nhiên, thu thập
thông tin về các mô hình sinh kế.
Mục đích: Nhằm đánh giá hiện trạng của sinh kế dựa vào sản xuất nông nghiệp
tại địa phương, kiểm tra các thông tin và số liệu sẵn có và thu thập thông tin định
lượng các mô hinh sinh kế.
2.4. Phân tích số liệu
Phương pháp phân tích được sử dụng trong đánh giá chủ yếu là phương pháp
thống kê mô tả, sơ đồ mạng nhện, sử dụng thang đo đánh giá likert và phương pháp
mô tả bằng lời, hình ảnh minh họa.
2.5. Hội thảo đánh giá
Hội thảo kỹ thuật hoặc tham vấn với các cơ quan chuyên môn để lấy ý kiến
đóng góp hoàn thiện báo cáo đánh giá từng mô hình cụ thể.
Hội thảo cấp tỉnh giới thiệu mô hình thành công nhân rộng trong toàn tỉnh.
2.6. Tài liệu hóa các mô hình thành công
Xây dựng bộ tài liệu khuyến nông thích ứng với biến đổi khí hậu đối với các
mô hình thành công từ thực tế của người nông dân theo hướng “nông dân dạy nông
dân” cùng với việc thiết kế các tờ rơi giới thiệu các mô hình thành công và kỹ thuật
thực hiện mô hình dựa trên:
5
- Trên cơ sở tài liệu tập huấn kỹ thuật mô hình thích ứng đã tập huấn (tài liệu
của Trung tâm KN-KN tỉnh biên soạn theo yêu cầu OXFAM) và kết quả tham vấn,
đánh giá mô hình.
- Tư vấn cùng đối tượng (hộ) được chọn xem xét bổ sung, hoàn thiện tài liệu
tập huấn đối với mô hình thành công. Biên soạn tài liệu theo hướng kỹ thuật xuất
phát từ nông dân để hướng dẫn lại cho nông dân (chú ý khả năng chịu nhiệt, chịu
chắn có thể cải thiện được thu nhập cho hộ bởi trước khi thực hiện mô hình này đa
phần các hộ chỉ đi làm thuê, thu nhập bình quân hàng tháng chỉ vào khoảng
1.000.000 đồng (dự kiến mô hình này có thể tăng thu nhập thêm khoảng 800.000
đồng/tháng cho mỗi hộ tham gia). Tuy với những đánh giá trên cho thấy mô hình có
được tính khả thi về mặt tài chính, nhưng do chưa có kết quả thu hoạch từ mô hình
nên đối với tiêu chí này chỉ mới đánh giá ở mức trung bình (3 điểm).
(ii) Khả năng/tính thích ứng với biến đổi khí hậu
Hàu thích nghi độ muối từ 2 - 30‰ và nhiệt độ 20 - 30◦C (có thể chịu đựng đến
35◦C) nên khi nồng độ muối và nhiệt độ tăng hàu thích nghi được. Ngoài ra, bè có
mái lá giúp giảm nhiệt độ nước nuôi hàu. Do vậy, trong điều kiện nhiễm mặn do
biến đổi khí hậu hiện nay, mô hình nuôi hàu thể hiện được tính thích ứng cao. Chính
vì vậy, chỉ tiêu này được đánh giá ở mức rất thích ứng (5 điểm).
(iii) Khả năng nhân rộng mô hình
Mặc dù mô hình nuôi hàu không đòi hỏi khắt khe lắm về mặt lao động và kỹ
thuật nuôi, cũng như có được điều kiện thị trường tốt. Tuy nhiên, do chỉ nuôi hàu
được trong khoảng 1 km sông Sép Lầy và chi phí đầu tư đóng bè cao, thích hợp cho
tổ nhóm góp vốn nên khả năng nhân rộng mô hình ở mức độ vừa phải. Ngoài ra, khi
thu hàu sẽ thu từng đợt và dễ dàng bán cho thương lái ở TP.HCM hay thương lại tại
địa phương; nguồn giống tự nhiên cũng khá nhiều. Do vậy, khả năng nhân rộng của
mô hình chỉ được đánh giá ở mức độ vừa phải (3 điểm).
(iv) Sinh kế đa thu nhập
7
Mặc dù nuôi hàu có đóng góp vào thu nhập của hộ gia đình, nhưng do chu kỳ
kinh doanh của việc nuôi hàu tương đối dài (16-18 tháng), nên chưa được đánh giá
thực sự cao về khả năng đa thu nhập để cải thiện sinh kế cho hộ. Chính vì vậy, chỉ
tiêu này chỉ được đánh giá ở mức độ vừa phải (3 điểm).
(v) Cải thiện tài nguyên thiên nhiên, quản lý rủi ro dựa trên kiến thức
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Minh Đức và ctv (2016), nuôi hàu không
nước. Do vậy, mô hình được đánh giá ở mức độ rất tốt (5 điểm).
(ix) Cải thiện được điều kiện sức khỏe và lao động
Mô hình này chưa thể hiện rõ rệt về việc có thể cải thiện được sức khỏe và lao
động nhưng cũng không gây ra tổn hại cho sức khỏe và lao động vì thế tiêu chí này
được đánh giá ở mức trung bình (3 điểm).
B. CÁC MÔ HÌNH CHĂN NUÔI
3.2. Mô hình nuôi dê
Để đánh giá hiệu quả của mô hình, nhóm tư vấn đã tiến hành khảo sát 02 hộ:
Lê Văn Bưởi và Nguyễn Thanh Lạc hiện đang nuôi dê ở ấp Tân Khanh, xã Long
Khánh, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Dưới sự tài trợ của dự án AMD Trà Vinh
mỗi hộ đã nhận nuôi 3 con dê. Hiện tại 2 hộ nuôi này đã thu hoạch được 01 lần và
hộ Lê Văn Bưởi đã có 4 con dê con, hộ Nguyễn Thành Lạc 7 con dê con. Thời gian
để có dê con bán thịt thì khoảng 9 - 10 tháng kể từ khi bắt dê cái giống.
Ý tưởng nuôi dê: bởi nhận thấy dê là loài động vật dễ nuôi, có khả năng thích
nghi tốt, vốn đầu tư ít, nhu cầu thức ăn không lớn đặc biệt có tận dụng được nguồn
thức ăn tự nhiên rất đa dạng nên không phải tốn chi phí thức ăn, tận dụng được lao
động nhàn rỗi.
(i) Tài chính
Mặc dù cho đến thời điểm khảo sát, các mô hình này chưa đến lúc thu hoạch
lần thứ 2 nên chưa thể đánh giá hết toàn diện và chi tiết về mặt hiệu quả tài chính
9
toàn kế hoạch. Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế 02 hộ thực hiện có thể đưa ra một vài
đánh giá chung về mô hình như sau: vốn đầu tư ban đầu không quá lớn, phù hợp với
khả năng tài chánh của nông hộ.
Đầu vào của mô hình ngoài chi phí con giống thì vật liệu xây dựng chuồng trại
có thể được tận dụng từ nguồn cây lá tự nhiên. Thức ăn cho dê là lá cây và cỏ có thể
tận dụng ngoài tự nhiên và trồng thêm cỏ. Lao động có thể sử dụng thời gian nông
nhàn, do đó không cần nhiều vốn lưu động. Mô hình này thích hợp trong việc kết
đánh giá về mức độ nhân rộng ở mức vừa phải (4 điểm).
(iv) Sinh kế đa thu nhập
Mô hình nuôi dê có thể xem đang đóng góp đáng kể cho thu nhập của hộ bởi
mô hình này kết hợp được với nhiều hoạt động kinh tế khác trong hoạt động kinh tế
hộ. Đặc biệt mô hình phù hợp với các hộ có lao động nhàn rỗi hoặc lao động lớn
tuổi. Chính vì vậy, mô hình này được đánh giá có nhiều khả năng giúp đa dạng hóa
thu nhập cho hộ (4 điểm).
(v) Cải thiện tài nguyên thiên nhiên, quản lý rủi ro dựa trên kiến thức
Khảo sát thực tế mô hình nuôi dê hiện ít gây ô nhiễm môi trường do phân được
thu gom, tận dụng tối đa làm phân bón cho cây trồng. Các hộ nuôi dê trong vùng
đều có ý thức bảo vệ môi trường. Nhìn chung mô hình này có ưu điểm là ít gây ô
nhiễm môi trường nhưng chưa thể hiện rõ rệt lắm về khả năng cải thiện môi trường
và quản lý rủi ro nên tiêu chí này được đánh giá ở mức vừa phải (3 điểm).
(vi) Mang lại lợi ích cho cộng đồng
Mô hình hiện tại chỉ phát triển với hình thức hộ cá thể, chưa phát triển theo tổ
nhóm, do đây là hoạt động kinh tế kết hợp của nông hộ trên cơ sở tận dụng phần lớn
nguồn thức ăn tự nhiên sẵn có và lao động nhàn rỗi trong hộ. Tuy nhiên, trong quá
trình nuôi, các hộ nuôi có thường xuyên trao đổi kinh nghiệm với nhau về kỹ thuật
nuôi, cách phòng trị bệnh. Chính vì vậy, mô hình nuôi dê được đánh giá có mang lại
lợi ích cho cộng đồng ở mức vừa phải (3 điểm).
11
(vii) Có đóng góp trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội cấp xã
Trước đây, nuôi dê được phát triển tương đối lâu trên địa bàn, nhưng chủ yếu
nuôi theo hình thức chăn thả, giống dê cỏ nên hiệu quả kinh tế còn thấp. Khi được
dự án và cán bộ kỹ thuật của địa phương hỗ trợ về mặt tài chính và kỹ thuật nuôi
theo mô hình nuôi dê có chuồng trại, chọn giống tốt, nuôi theo quy trình kỹ thuật đã
mang lại hiệu quả kinh tế tương đối cao và ổn định hơn nhiều so với nuôi chăn thả
tự phát trước đây. Mô hình đã đóng góp tốt vào chiến lược phát triển kinh tế, giảm
dịch bệnh cũng cao, do thiếu thức ăn nên gà chậm lớn cho nên hiệu quả kinh tế rất
thấp. Trong khi đó mô hình nuôi gà thả vườn sử dụng đệm lót sinh học có qui mô
nuôi lớn, thời gian nuôi ngắn, ít rủi ro dịch bệnh hơn, vốn đầu tư ít, tận dụng được
lao động nhàn rỗi. Tuy nhiên do khả năng quản lý dịch bệnh trong chăn nuôi còn
hạn chế nuôi mô hình nuôi còn gặp phải rủi ro ở điểm tỉ lệ hao hụt do dịch bệnh
còn cao.
(i) Tài chính
Khảo sát thực tế 02 hộ đã thu hoạch, có thể đưa ra một vài đánh giá về mô hình
như sau: vốn đầu tư ban đầu không nhiều lắm tương đối phù hợp với khả năng tài
chánh của nhiều nông hộ (vào khoảng 17,46 triệu đồng cho đàn 200 con). Đầu vào
của mô hình ngoài chi phí con giống thì chí phí chuồng trại không cao lắm; nguồn
lao động không nhiều. Tuy nhiên mô hình này cần nhiều vốn lưu động chủ yếu là
chi phí cho thức ăn và thuốc thú y, do đó nông hộ phải có một nguồn vốn nhất định.
Mô hình này thích hợp trong việc kết hợp với nhiều hoạt động kinh doanh khác
nhằm đa dạng hóa thu nhập. Thị trường và giá cả không biến động nhiều nhưng đặc
biệt mức rủi ro về dịch bệnh khá cao, tỉ lệ hao hụt do bệnh tật có thể đến 10% - 35%
hoặc cao hơn nữa, nên tỷ suất lợi nhuận của các hộ nuôi cũng biến động nhiều. Nhìn
chung, nếu quản lý dịch bệnh tốt thì lợi nhuận cao (nếu nuôi đạt thì mức lợi nhuận
bình quân là trên 5 triệu đồng khi nuôi 200 con cao hơn so với mô hình nuôi gà
trước đây chỉ lời khoảng 2 triệu đồng trên 200 con). Từ các đặc điểm trên có thể cho
thấy mô hình này có khả năng đạt hiệu quả về mặt tài chính ở mức khá (4 điểm).
13
(ii) Khả năng/tính thích ứng với biến đổi khí hậu
Mô hình nuôi gà thả vườn tương đối phù hợp với điều kiện biến đối đổi khí
hậu bởi gà là loài có nhu cầu nước uống khá thấp, phù hợp với tình trạng khan hiếm
nước ngọt vào mùa khô thường xảy ra trên địa bàn; nguồn thức ăn cho gà là thức ăn
công nghiệp không phải phụ thuộc vào nguyên liệu tự nhiên tại địa phương, nên
tránh được tình trạng khan hiếm trong điều kiện khô hạn và nhiễm mặn. Tuy nhiên,
phương. Mô hình nuôi gà được đánh giá về tính lợi ích cho cộng đồng ở mức vừa
phải (3 điểm).
(vii) Có đóng góp trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội cấp xã
Nuôi gà đã phát triển lâu trên địa bàn nhưng với theo hình thức thả lan với qui
mô nhỏ hiệu quả kinh tế thấp. Mô hình nuôi có chuồng trại với quy trình kỹ thuật
chặt chẽ, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Mô hình đã thể hiện được sự đóng góp vào
chiến lược sản xuất phát triển kinh tế của địa phương, góp phần giảm nghèo của xã,
tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, đặc biệt đối với các hộ không có
hoặc có ít đất sản xuất nông nghiệp. Do vậy, đối với tiêu chí này mô hình được đánh
giá ở mức tốt (5 điểm).
(viii) Không phương hại và/hoặc là cải thiện được tình trạng ô nhiễm môi
trường
Mô hình nuôi gà thả vườn đến thời điểm này được đánh giá chưa làm phương
hại đến môi trường với qui mô và số lượng nuôi hiện tại và mô hình này cũng được
dự án đầu tư nuôi gà theo mô hình sử dụng đệm lót sinh học nên góp phần hạn chế
ô nhiễm môi trường. Do vậy, mô hình được đánh giá ở mức độ vừa phải (3 điểm).
(ix) Cải thiện được điều kiện sức khỏe và lao động
Mô hình chưa thể hiện rõ nét về tác động trực tiếp trong việc cải thiện sức khỏe
và lao động. Nhưng do mang lại nguồn thu nhập khá cho các nông hộ nên nông dân
có điều kiện tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng như cải thiện dinh dưỡng
15
trong bữa ăn, do đó sức khỏe được tốt hơn. Do vậy, mô hình này được đánh giá ở
mức vừa phải đối với tiêu chí này (3 điểm).
3.4. Mô hình nuôi bò sinh sản
Để đánh giá hiệu quả của mô hình, nhóm tư vấn đã tiến hành khảo sát 02 hộ:
bà Lâm Thị Bé Hai và bà Thạch Thị Lan hiện đang nuôi bò ở ấp Rọ Say, xã Ngũ
Lạc, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, dưới sự tài trợ của dự án AMD Trà Vinh. Mỗi
Mô hình nuôi bò tương đối phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu do tận dụng
được đất không sản xuất lúa được do khô hạn, thiếu nước chuyển sang trồng cỏ.
Nhưng bò lại có nhu cầu số lượng thức ăn là cỏ tươi hang ngày khá lớn nên các hộ
không có đất sẽ gặp khó khăn. Nên có thể đánh giá mô hình nuôi bò tương đối thích
ứng với điều kiện bị tác động do biến đổi khí hậu (3 điểm).
(iii) Khả năng nhân rộng mô hình
Mặc dù mô hình nuôi bò không đòi hỏi nhiều về mặt lao động và kỹ thuật nuôi,
cũng như ít biến động về thị trường thị trường đầu ra do dễ dàng bán được cho các
thương lái, trại bò hay nông hộ có nhu cầu mua bò vỗ béo tại địa phương. Tuy
nhiên, bò lại có nhu cầu lượng thức ăn khá lớn nên các hộ không có đất trồng cỏ sẽ
gặp khó khăn. Trở ngại lớn nhất của mô hình là cần nhiều vốn mua con giống, hộ
nghèo không đủ tiền nuôi và phải có diện tích đất nhất định để trồng cỏ. Nên mô
hình được đánh giá về mức độ nhân rộng ở mức vừa phải (4 điểm).
(iv) Sinh kế đa thu nhập
Mô hình nuôi bò có thể xem đang đóng góp đáng kể vào thu nhập của hộ bởi
có thể kết hợp với nhiều hoạt động kinh tế khác trong kinh tế hộ, mô hình phù hợp
với các nông hộ có có lao động nhàn rỗi hoặc hộ có lao động trung niên. Thời gian
nuôi bò khá dài, vòng quay thu nhập chậm, nhiều nông hộ cho đây là một khó khăn
trước mắt nhưng thích hợp tích lũy lâu dài của mô hình này. Chính vì vậy, chỉ tiêu
này được đánh giá ở mức độ khá (3 điểm).
(v) Cải thiện tài nguyên thiên nhiên, quản lý rủi ro dựa trên kiến thức
17
Mô hình nuôi bò hiện ít gây ô nhiễm môi trường do phân bò được tận dụng để
làm phân bón. Khảo sát các hộ nuôi trong vùng đều có ý thức bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên về mặt khoa học đánh giá bò là loại động vật có lượng phát thải gây hiệu
ứng nhà kính tương đối cao nên việc phát triển nuôi bò ít nhiều có tác động xấu đến
môi trường. Nhìn chung cho thấy mô hình ít gây ô nhiễm nhưng cũng không thể
hiện được về khả năng cải thiện môi trường và quản lý rủi ro, nên tiêu chí này được
Để đánh giá hiệu quả của mô hình, nhóm tư vấn đã tiến hành khảo sát 02 hộ
của bà Nguyễn Thị Nga và ông Hứa Văn Miền hiện đang nuôi heo ở ấp Ông Rùm 2,
xã Hùng Hòa, huyện Tiểu Cần, Trà Vinh, dưới sự tài trợ của dự án AMD Trà Vinh.
Hiện tại 2 hộ nuôi này đã thu hoạch. Mỗi hộ nuôi với quy mô 10 con, với thời gian
nuôi 5 tháng. Kết quả mang lại lợi nhuận từ 5 - 11 triệu đồng, nguyên nhân có sự
biến động lớn về mức lợi nhuận là do số lượng heo con được sinh ra bởi heo nái.
Ý tưởng nuôi heo: bởi nhận thấy trước đây có nuôi heo nái nhưng thất bại do
thiếu kỹ thuật và thiếu vốn đầu tư. Nay được dự án hỗ trợ vốn và tập huấn kỹ thuật
nuôi heo. Bên cạnh giá heo gần đây tương đối ổn định, heo có chu kỳ sản xuất ngắn
thu nhập khá, tận dụng được lao động nhàn rỗi.
(i) Tài chính
Khảo sát thực tế 02 hộ nuôi heo có thể đưa ra một vài đánh giá về mô hình như
sau: vốn đầu tư ban đầu tương đối cao, thể hiện qua chi phí con giống và xây dựng
chuồng trại; mô hình cần khá nhiều vốn lưu động do nhu cầu thức ăn cho heo rất lớn
và toàn bộ phải mua thức ăn công nghiệp; thị trường đối với heo thịt lớn, giá cả
trong những năm gần đây tương đối ổn định, nhưng trong quá khứ giá cả biến động
lên xuống theo chu kỳ sau một số năm ổn định, trong năm khảo sát thì hộ đạt được
lợi nhuận cao hơn đạt từ trên 5 triệu đến gần 11 triệu đồng/lứa (so với trước đây chỉ
lời khoảng 4 triệu đồng/lứa 10 heo giống) do giá cả thị trường tốt hơn và heo nuôi
đạt hiệu quả cao tuy chi phí cũng có phần tăng lên; có rủi ro ở mức vừa phải từ dịch
bệnh và khả năng sinh sản của heo nái.
19
Mô hình này thích hợp trong việc kết hợp với nhiều hoạt động kinh doanh khác
nhằm đa dạng hóa thu nhập trên cơ sở tận dụng được nguồn lao động nhàn rỗi sẵn
có trong nông hộ. Từ các đặc điểm trên có thể cho thấy mô hình này có khả năng đạt
hiệu quả tương đối khá về mặt tài chính (4 điểm).
(ii) Khả năng/tính thích ứng với biến đổi khí hậu
Mô hình nuôi heo khá phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu vì dưới tác động