Đề tài một số giải pháp quản lý, chỉ đạo nhằm phổ cập giáo dục huyện văn quan tỉnh lạng sơn - Pdf 26

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
1. Lí do chọn đề tài 2
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.4
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG.
Chương I. Vị trí vai trò to lớn của giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tầm quan trọng của công tác giáo dục
phổ cập THCS giai đoạn hiện nay.
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê nin.
2. Quan điểm của Đảng và nhà nước ta về công tác giáo dục
3. Nội dung, hình thức của công tác phổ cập giáo dục THCS
Chương II. Thực trạng giáo dục – đào tạo và tiến độ phổ cập giáo dục
THCS ở huyện miền núi Văn Quan tỉnh Lạng Sơn từ năm 2001 – 2005
I. Giới thiệu về huyện Văn Quan
II. Thực trạng và tiến độ phhổ cập giáo dục THCS ở huyện Văn Quan từ năm
2001 đến năm 2005
Chương III. Một số giải pháp quản lí nhằm đẩy nhanh tiến độ phổ cập
giáo dục THCS ở huyện miền núi Văn Quan
1. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng
2. Giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức
3. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ
4. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục.
5. Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, phối hợp với giáo dục chính quy và giáo
dục không chính quy
- 1 -
PHẦN THỨ BA: KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
I. Những kiến nghị
II. Kết luận

thế giới.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Đất nước ta nói chung, tỉnh Lạng Sơn nói riêng, trong đó có huyện Văn Quan
sau 15 năm đổi mới đã đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận. Song vẫn còn tồn tại
nhiều yếu kém, bất cập, đó là: “Về chất lượng, hiệu quả chưa đáp ứng được kịp thời
những đòi hỏi lớn và ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đổi mới kinh tế - xã
hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ” (Nghị quyết 04 – BCHTW khóa VII).
Đất nước ta đã hoàn thành phổ cập giáo dục Tiểu học giai đoạn 1990 – 2000
nhưng mới đạt đến trình độ dân trí ở cấp Tiểu học. Trình độ dân trí đó không phù hợp
với điều kiện hiện nay và tiến kịp nền khoa học phát triển như vũ bão. Chính vì vậy
phải phổ cập trình độ dân trí ở mức cao hơn, đó là PCGDTHCS. Vì vậy, Bộ Giáo Dục
và Đào tạo đã ban hành Quyết định 1366/QĐ – BGD&ĐT về tiêu chuẩn đánh giá
công nhận đơn vị đạt chuẩn quốc gia về PCGDTHCS.
Văn Quan là một huyện miền núi, nền kinh tế phát triển ở mức trung bình, chủ
yếu là nông nghiệp, trình độ dân trí thấp. Do vậy muốn cho nền kinh tế, trình độ dân
trí, văn hóa, kinh tế xã hội phát triển thì phải chú ý đến giáo dục và làm tốt công tác
PCGDTHCS, nhằm đưa mặt bằng dân trí lên trình độ THCS, có như vậy mới tránh
khỏi tụt hậu. Trong bài tiểu luận này tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy
nhanh tiến độ PCGDTHCS trên địa bàn huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
2. Mục đích nghiên cứu
Với mục đích để rút kinh nghiệm và tìm ra những giải pháp quản lí chỉ đạo
nhằm đẩy nhanh tiến độ PCGDTHCS trên địa bàn huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
Đó là cơ sở thực tiễn để các huyện miền núi còn lại trong tỉnh vận dụng sáng tạo để
đưa sự nghiệp giáo dục, trong đó có công tác PCGDTHCS trong toàn tỉnh tiến nhanh,
- 4 -
mạnh và vững chắc, từng bước nâng cao dân trí, rút ngắn khoảng cách giữa miền núi
và đồng bằng để Lạng Sơn ngày càng giàu đẹp, vững bước ra hội nhập với đồng bào
cả nước trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích, tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp quản lí, chỉ đạo

CHƯƠNG I
VỊ TRÍ VAI TRÒ TO LỚN CỦA GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO
TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC VÀ
TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC PHỔ CẬP GIÁO DỤC THCS GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lê nin
Chủ nghĩa Mác – Lê nin đã chỉ rõ: “Ý thức là một phạm trù triết học, một hiện
tượng tâm lí phức tạp, bao hàm tri thức, tình cảm, cảm giác, tri giác, nghị lực, lòng
tin Trong đó quan trọng nhất là tri thức, tức là không xây dựng trên cơ sở hiểu biết
thì cái tri thức ấy chỉ đồng nghĩa với lòng tin tôn giáo mà thôi”.
Nhưng làm sao để có tri thức, Lê nin nói: “Không có sách thì không có tri thức,
không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”. Điều đó có
nghĩa là muốn có tri thức thì phải được học, được giáo dục, tri thức của nhân loại là
vô tận. Vì vậy, Lê nin dạy: “Học, học nữa, học mãi”.
2. Quan điểm của Đảng, nhà nước ta về công tác giáo dục
* Giáo dục có vai trò quyết định đến việc nâng cao dân trí
Truyền thống hiếu học “Tôn sư trọng đạo” là nét đẹp của dân tộc ta, cha ông
coi việc cho con được học là nghĩa vụ thiêng liêng của cha mẹ, họ cho rằng “Không
thầy đố mày làm nên”. Quốc Tử Giám thời Lí đã chứng minh cho truyền thống trọng
học, trọng tài của ông cha ta. Nói về giáo dục, nhà bác học Lê Quý Đôn có tổng kết:
“Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoại, phi trí bất hưng” khẳng định
trình độ dân trí là điều kiện cho một quốc gia phát triển cường thịnh.
Chúng ta có thể hiểu một cách tổng quát nhất: “Dân trí là trình độ trí tuệ, trình
độ văn hóa chung, trình độ xử lí khôn ngoan, khôn khéo các vấn đề của cuộc sống của
- 7 -
một tập hợp dân cư, của một cộng đồng, một dân tộc” (Tạp chí Nghiên cứu giáo dục –
tháng 1/1997).
Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đang diễn ra mạnh
mẽ trên thế giới, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Trình độ dân trí
và tiềm lực khoa học công nghệ đã trở thành nhân tố quyết định vị thế của mỗi quốc

phải có sự vận dụng sáng tạo, mềm dẻo trên cơ sở nội dung, nguyên tắc chung nhất
của cả nước. Đối với miền núi nói chung và huyện Văn Quan nói riêng, căn cứ vào
tình hình địa lí, kinh tế, đặc điểm dân tộc và trình độ văn hóa của huyện đã mạnh dạn
đưa ra những giải pháp tương đối phù hợp. Do đó công tác PCGDTHCS trong những
năm qua đã thu được kết quả khả quan phù hợp với địa phương miền núi.
- 9 -
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO VÀ TIẾN ĐỘ PHỔ CẬP
GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN MIỀN NÚI VĂN QUAN
TỈNH LẠNG SƠN TỪ NĂM 2001 – 2005
I. Giới thiệu về huyện Văn Quan
Văn Quan là một huyện miền núi vùng cao nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Lạng
Sơn. Phía Bắc giáp với huyện Văn Lãng, phía Tây giáp với huyện Bình Gia và huyện
Bắc Sơn, phía Nam giáp huyện Chi Lăng và huyện Hữu Lũng, phía Đông giáp huyện
Cao Lộc, huyện Văn Quan nằm trên trục quốc lộ 1B, nằm sát sông Kì Cùng và trên
sông Tu Đồn.
Cả huyện có diện tích tự nhiên là 549km
2
, với tổng dân số trên 57 nghìn người,
gồm các dân tộc Tày, Nùng và Kinh chung sống. Trong đó chiếm phần lớn số dân là
các dân tộc Nùng, Tày với tỉ lệ 97,7% Toàn huyện có 23 xã và 1 thị trấn, trong đó có
9 xã vùng 3 được hưởng chế độ, chính sách 135, có 12 xã vùng 2, 2 xã và 1 thị trấn
thuộc vùng 1. Giữa các vùng vẫn có sự chênh lệch khá lớn về mật độ dân số và trình
độ dân trí cũng như các điều kiện kinh tế, xã hội.
Về những thành tựu nổi bật là lĩnh vực nông nghiệp và trồng rừng. Trong
những năm qua phát triển với tốc độ khá cao, đã chuyển mạnh từ sản xuất quảng canh
sang thâm canh, đã hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Huyện tập trung
vào trồng (sản xuất) cây lúa, khoai tây, dưa hấu, đậu xanh, đậu tương, trồng cây ăn
quả như là cam, quýt, vải, nhãn. Toàn huyện có diện tích trồng lúa và hoa màu là
20.700 ha, diện tích trồng cây hồi và cây ăn quả 18.200 ha. Tổng sản lượng cây có hạt

ngành đoàn thể và nhất là sự ủng hộ của toàn dân. Nhận thức được điều đó, Ban chỉ
- 11 -
đạo PCGDTHCS huyện Văn Quan đã triển khai thực hiện công tác tuyên truyền rộng
khắp trong nhân dân các dân tộc trong toàn huyện thông qua các hình thức vận động,
viết bài, động viên kịp thời những đơn vị, những cá nhân tích cực trong công tác
PCGDTHCS. Từ đó đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể của
huyện, của các xã, cũng như sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân. Đồng thời hàng năm
chỉ đạo tốt “Ngày toàn dân đưa trẻ em đến trường” nhằm huy động trẻ em đi học đúng
độ tuổi, tổ chức mở các lớp bổ tú THCS nhằm huy động các đối tượng bỏ học ở cấp
THCS ra học.
Từ năm 2001 đến năm 2005, toàn huyện đã tổ chức được 23 lớp bổ túc THCS
với 634 học viên. Các lớp bổ túc THCS được học đầy đủ các môn học theo quy định
của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Mỗi học viên tham gia học lớp bổ túc THCS đều được
ủng hộ sách giáo khoa, vở ghi và các chế độ ưu tiên khác. Với sự cố gắng đó, từ
năm 2001 đến năm 2005, tổng số học viên đã tốt nghiệp bổ túc THCS là 620 học viên
(đạt tỉ lệ 97,6%). Đây chính là lực lượng góp phần không nhỏ vào việc nâng cao tỉ lệ
đối tượng độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi ở các xã để đạt được tỉ lệ chuẩn theo quy định.
Trong quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác PCGDTHCS ở huyện Văn Quan
đã thu được kết quả: Đến tháng 9 năm 2005 đã có 22/24 xã, thị trấn đạt chuẩn
PCGDTHCS, huy động tối đa số thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi có
bằng tốt nghiệp THCS là 4409/5690 đạt tỉ lệ 77,49%. Huyện Văn Quan đã được
UBND tỉnh Lạng Sơn công nhận đạt chuẩn phổ cập GDTHCS tháng 12/2005.
II. Thực trạng và tiến độ phổ cập giáo dục THCS ở huyện Văn Quan
từ năm 2001 đến năm 2005
1. Thành tựu đạt được trong công tác PCGDTHCS của huyện Văn
Quan từ năm 2001 đến năm 2005
Văn Quan trong những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX có số người mù chữ
trong độ tuổi từ 9 – 25 tuổi là 2292/21548 người, chiếm tỉ lệ 10,64% dân số trong độ
tuổi (số liệu đã điều tra tháng 12/1991). Trong đó, số trẻ độ tuổi từ 9 – 14 tuổi chưa
- 12 -

đã đạt được những thành tựu chủ yếu sau đây:
1.1. Hệ thống trường lớp
Toàn huyện có 48 đơn vị trường học (tính đến năm học 2004 – 2005) trong đó
có 5 trường mầm non và 24 xã thị trấn có lớp mầm non gắn với tiểu học và phổ thông
cơ sở, 18 trường tiểu học, 12 trường THCS, 10 trường PTCS (trong đó có 1 trường
dân tộc nội trú), có 02 trường THPT (Phả Lại và Sao Đỏ) và 1 trung tâm GDTX. Với
cấp học phổ thông là 578 lớp – 15.825 người, học bổ túc văn hóa tại các xã là 74 lớp
– 2220 người. Ngoài ra còn bồi dưỡng hoàn chỉnh cho giáo viên hệ 9 + 1 lên hệ 9 + 3
là 4 lớp – 208 người. Các trường tiểu học, THCS, PTCS được rải đều taij các xã trong
huyện, 9 xã vùng III có 7 xã có trường phổ thông cơ sở. Các trường được xây dựng
khang trang, mỗi xã ít nhất được 01 nhà lớp học 2 tầng kiên cố với 6 phòng học trở
lên, bước đầu thực sự “trường ra trường, lớp ra lớp”, thực sự nhà trường là trung tâm
văn hóa giáo dục của địa phương.
Biểu thống kê cơ sở vật chất của trường mầm non, tiểu học, THCS
Từ năm học 2000 – 2001 đến năm học 2004 – 2005
Năm học
Phòng học Bàn ghế
học sinh Ghi chú
Tổng số Kiên cố
cao tầng
Nhà xây
cấp 4
Nhà tạm
2000 – 2001 406 25 381 2.436
2001 – 2002 428 31 397 2.568
2002 – 2003 478 24 62 392 3.346
2003 – 2004 496 170 188 138 3.968
2004 - 2005 627 317 188 122 5.016
- 14 -
Qua biểu thống kê đã cho thấy rõ sự phát triển kinh tế - xã hội ngày một đi lên

non, tiểu học, THCS trong toàn huyện là 973 người, với trình độ đào tạo như sau:
Trình độ
bậc học
Tổng
số
Chia ra trình độ nghiệp vụ Ghi
chú
Đại
học
Cao
đẳng
10+3
10+1
Trung
cấp
12+2
(TH)
9+3
(THHC)

cấp
Mầm non 112 02 03 79 28
Tiểu học 447 17 315 90
THCS 411 35 312 64
Về năng lực chuyên môn (xếp loại cuối năm học 2004 – 2005): 793 người
Loại giỏi: 27%
Loại khá: 32%
Loại trung bình: 39,9%
Loại yếu: 1,1% chủ yếu là đội ngũ giáo viên tiểu học dạy mầm non.
Phong trào tự học, tự bồi dưỡng được giáo viên quan tâm, 100% giáo viên tham

2000 – 2001 166 5540 0 0
2001 – 2002 176 5668 3 69
2002 – 2003 180 5710 14 382
2003 – 2004 183 5790 4 154
2004 - 2005 181 5802 20 9
Qua số liệu ta thấy số lượng học sinh THCS (cả phổ thông + bổ túc) trong 5
năm trở lại đây tăng nhanh. Các nhà trường đã làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy
Đảng, chính quyền xã. Vì vậy, đã huy động được hầu hết thanh thiếu niên trong độ
tuổi đến trường.
- 17 -
* Tỷ lệ huy động độ tuổi (11 – 18 tuổi) đến trường như sau: (Điều tra tháng
9/2000 – 2005).
Năm học TS độ tuổi
(11- 18
tuổi
11 – 18 tuổi còn
học cấp I
11 – 18 tuổi bỏ học
cấp I + II
Ghi chú
Học sinh Tỷ lệ Học sinh Tỷ lệ
2000 – 2001 9.968 232 2,3% 198 1,98
2004 - 2005 10.284 216 2,1% 108 1,05
Đó là sự cố gắng rất lớn và quyết tâm của toàn Đảng, chính quyền và nhân dân
các dân tộc với một quyết tâm hoàn thành công tác PCGDTHCS, nâng cao mặt bằng
dân trí có trình độ THCS vào năm 2003 và đã trở thành hiện thực đối với huyện Văn
Quan.
b) Chất lượng
* Về chất lượng chuyển lớp và tốt nghiệp hàng năm của cấp học THCS khá cao
và được giữ vững. Như vậy chứng tỏ ý thức học tập của học sinh, sự đầu tư thời gian

lượng
Tỷ lệ
%
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Số
lượng
Tỷ lệ
%
2000-2001 5540 78 1,41 1698 30,6 3678 66,39 86 1,55
2002-2003 5710 154 2,7 1700 29,7 3713 65,1 143 2,5
2003-2004 5790 208 3,6 1770 30,6 3633 62,7 179 3,1
2004-2005 5802 224 3,92 1578 27,2 3747 64,9 253 4,4
Qua số liệu thống kê cho thấy chất lượng văn hóa trong 5 năm thực hiện công
tác PCGDTJCS có nhiều tiến bộ, tỷ lệ học sinh có học lực từ trung bình trở lên đạt từ
95% trở lên. Số học sinh khá, giỏi tăng, học sinh yếu, kém chiếm tỉ lệ ít. Đây là kết
quả đáng mừng khẳng định bước chuyển biến về chất lượng giáo dục THCS ở huyện
miền núi còn nhiều khó khăn cũng nói lên sự cố gắng của bản thân ngành giáo dục và
công tác xã hội hóa giáo dục khi được đông đảo lực lượng xã hội tham gia công tác
giáo dục và PCGDTHCS từ nhiều phía sẽ tạo ra động lực cho dạy và học, hạn chế bớt
những yếu kém, tiêu cực, khơi thông những mối quan hệ cần thiết như nhà trường –
gia đình, nhà trường – xã hội thì chất lượng dạy và học có cơ hội tốt vươn lên. Tuy
nhiên, so với yêu cầu chung trên phạm vi cả nước thì chất lượng THCS trên đây vẫn
chưa thể ngang tầm mà mới chỉ là chất lượng của huyện Văn Quan – tỉnh Lạng Sơn.
Bởi vì tỷ lệ học sinh đạt giải học sinh giỏi cấp tỉnh vòng 1, cấp tỉnh vong 2 còn rất ít
so với tổng số học sinh THCS của huyện trong những năm qua.
Số học sinh giỏi cấp tỉnh
Năm học Cấp tỉnh vòng 1 Cấp tỉnh vòng 2

- 20 -
- Duy trì củng cố thành quả phổ cập giáo dục tiểu học chống mù chữ:
+ Về phổ cập tiểu học (trẻ 6 tuổi) vào học lớp 1: 747/752 = 99,3%.
+Trẻ từ 11 đến 14 tuổi: Tốt nghiệp tiểu học: 4910/5142 = 95,5%.
+ Trẻ 11 – 14 tuổi đang học tiểu học: 232/5142 = 4,5%.
+ Trẻ 14 tuổi có bằng tốt nghiệp tiểu học: 1304/1324 = 98,5%.
+ Trẻ độ tuổi 11 14 tuổi TNTH (2004 -2005) vào học lớp 6.
Tiêu chuẩn 2
- Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS từ năm học 2000 – 2001 đến năm học 2004 –
2005 đều đạt từ 96% trở lên. Riêng năm học 2004 – 2005 tỷ lệ tốt nghiệp THCS (2 hệ
phổ thông + bổ túc) đạt 98,5%, cụ thể như sau:
+ Tỉ lệ tốt nghiệp THCS năm học 2000 – 2001: 1375/1384 = 99,4%.
+ Tỉ lệ tốt nghiệp THCS năm học 2001 -2002: 1441/1446 = 99,6%.
+ Tỉ lệ tốt nghiệp THCS năm học 2002 – 2003: 1448/1453 = 99,5%.
+ Tỉ lệ tốt nghiệp THCS năm học 2003 – 2004: 1515/1556 = 97,4%.
+ Tỉ lệ tốt nghiệp THCS năm học 2004 – 2005: 1362/1383 = 98,5%.
+ Tỉ lệ thanh thiếu niên trong độ tuổi 15 – 18 có bằng tốt nghiệp THCS (2 hệ
phổ thông + bổ túc) năm 2005: 4409/5690 – đạt tỉ lệ 77,5%.
+ Số xã, thị trấn đạt chuẩn PCGDTHCS: 22/24 đạt tỉ lệ: 91,7%.
- Thành quả PCGDTHCS của huyện Văn Quan mới đạt ở mức thấp và đạt
chuẩn theo tiêu chí của một huyện miền núi khó khăn và đặc biệt khó khăn theo quy
định của Chính phủ. Để củng cố và duy trì được thành quả trên, huyện Văn Quan phải
nỗ lực phấn đấu nhiều hơn nữa, trong đó đặc biệt là việc huy động và duy trì được số
lượng học sinh ra lớp đang học các lớp phổ thông bổ túc văn hóa hàng năm phải đạt
từ 98% trở lên. Vấn đề cốt lõi là phải nâng cao chất lượng giảng dạy để có chất lượng
và hiệu quả thực sự, có như vậy thì thành quả PCGDTHCS mới đảm bảo vững chắc.
2. Bài học kinh nghiệm trong công tác PCGDTHCS
- 21 -
Trong 5 năm qua, từ việc tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết TW2 (khóa
VIII), Nghị quyết 40/2000/QH10, Nghị định 88/NĐ – CP của Chính phủ, huyện Văn

dạy và thời gian học tập phải phù hợp với địa bàn dân cư, với đặc điểm tình hình các
xã, thị trấn, mở theo cụm thôn bản, tại trường chính hoặc phân trường tiểu học
Thực hiện chương trình có thể thực hiện theo phương thức ”cuốn chiếu” (theo học
phần, học trình ), ưu tiên bố trí giáo viên cho các xã, các trường thực hiện kế hoạch
PCGDTHCS theo tiến độ từng năm và quy mô dưới dạng ”chiến dịch”. Mở đồng loạt
các lớp bổ túc THCS, tập trung ưu tiên lực lượng, cơ sở vật chất, kinh phí cho công
tác PCGDTHCS.
Năm là: Xã hội hóa giáo dục nói chung và công tác PCGDTHCS nói riêng có
ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm, quyền lợi
và nghĩa vụ đối với mọi tổ chức, cá nhân, từng gia đình, đặc biệt là lực lượng thanh
thiếu niên trong độ tuổi phổ cập. Vì thế công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục,
thuyết phục về các chủ trương, đường lối của Đảng và các quy định pháp luật của nhà
nước về công tác PCGDTHCS là một trong những nhân tố quyết định, tạo ra sự đồng
tình, ủng hộ, đồng tâm hiệp lực của mọi lực lượng trong xã hội, làm nên thành quả
PCGDTHCS trên địa bàn huyện đúng tiến độ thời gian và bền vững.
- 23 -
CHƯƠNG III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÍ NHẰM ĐẦY NHANH TIẾN ĐỘ
PHỔ CẬP GIÁO DỤC THCS Ở HUYỆNMIỀN NÚI VĂN QUAN
1. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng
Thực tiễn cách mạng nước ta đã chứng minh vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân
tố quyết định mọi thành công, mọi thắng lợi của cách mạng. Ở mỗi giai đoạn lịch sử
cụ thể, Đảng ta đã có quan điểm và chủ trương đúng đắn, khoa học làm nền tảng tư
tưởng cho sự phát triển.
Để tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục ở cơ sở, cấp ủy và
chính quyền địa phương phải thường xuyên quan tâm chỉ đạo sâu sát theo chương
trình, nội dung đã được hoạch định, đồng thời phải chăm lo xây dựng các tổ chức
- 24 -
Đảng trong trường học, phát triển đội ngũ đảng viên giáo viên đông về số lượng,
mạnh về chất lượng, đủ sức đảm nhận vai trò lãnh đạo trực tiếp nhiệm vụ chính trị của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status