Tiểu luận môn Luật Hiến pháp Việt Nam Trang 1/20
CHƯƠNG 1
TỔ CHỨC CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP
Theo quy định của pháp luật (tại Điều 51 của Luật Tổ chức HĐND và UBND
năm 2003) thì tại kỳ họp thứ nhất của HĐND mỗi khoá sẽ tiến hành bầu ra các các cơ
cấu của HĐND, UBND các cấp, các chức danh của Thường trực HĐND, các Ban của
HĐND và của UBND. Chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu các quy định về tổ chức
HĐND các cấp.
I. TỔ CHỨC CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC
THUỘC TRUNG ƯƠNG (GỌI CHUNG LÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP
TỈNH)
1
:
Tại Điều 5 của Luật Tổ chức HĐND và UBND được Quốc hội khoá XI thông
qua ngày 26/11/2003 (gọi tắt là Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003) quy định
“HĐND các cấp có Thường trực HĐND. HĐND cấp tỉnh, cấp huyện có các Ban của
HĐND” và tại các Điều 52, Điều 54 quy định “Thường trực HĐND do HĐND cùng
cấp bầu ra”, “HĐND cấp tỉnh lập ra 3 Ban; Ban Kinh tế và Ngân sách, Ban Văn hoá -
Xã hội, Ban Pháp chế; nơi nào có nhiều dân tộc thì có thể thành lập Ban Dân tộc”.
Như vậy, theo quy định trên thì HĐND cấp tỉnh có Thường trực HĐND và các
Ban của HĐND.
Khi so sánh quy định tại Điều 5 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003
với quy định tại Điều 5 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994 thì chúng ta
thấy rằng tổ chức của HĐND cấp tỉnh không có sự thay đổi.
1. Cơ cấu, tổ chức của Thường trực HĐND cấp tỉnh:
Theo quy định hiện hành thì Thường trực HĐND cấp tỉnh gồm có Chủ tịch,
Phó Chủ tịch và Ủy viên Thường trực (Điều 52 của Luật Tổ chức HĐND và UBND
năm 2003). Các chức danh này do HĐND cùng cấp bầu ra trong số đại biểu HĐND
theo sự giới thiệu của Chủ tịch HĐND khoá trước.
Các thành viên của Thường trực HĐND cấp tỉnh không thể đồng thời là thành
viên của Uỷ ban nhân dân cùng cấp.
Cơ cấu tổ chức của HĐND
cấp xã theo Luật Tổ chức
HĐND và UBND năm 1994
Cơ cấu tổ chức của HĐND cấp xã
theo Luật Tổ chức HĐND và UBND
năm 2003
Về tổ chức
Không tổ chức ra Thường
trực HĐND cấp tỉnh
Tổ chức ra Thường trực
HĐND cấp tỉnh
Tổ chức Thường trực HĐND
cấp tỉnh
Tổ chức Thường trực HĐND cấp tỉnh
Về cơ cấu
Không có các chức danh:
- Chủ tịch HĐND
- Phó Chủ tịch HĐND
(kỳ họp do UBND cùng cấp
triệu tập)
Thường trực HĐND gồm:
- Chủ tịch HĐND
- Phó Chủ tịch HĐND
- Thư ký HĐND
Các chức danh trên làm việc
kiêm nhiệm
- Cơ cấu gồm Chủ tịch và Phó
Chủ tịch HĐND
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch làm
việc kiêm nhiệm
cấp sẽ quy định thời gian mà Trưởng Ban hoặc Phó Trưởng Ban làm việc kiêm nhiệm
phải dành cho hoạt động của Ban (Điều 26 của Quy chế Hoạt động của HĐND năm
2005).
Đề tài: Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định
pháp luật về tổ chức, hoạt động và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp
Tiểu luận môn Luật Hiến pháp Việt Nam Trang 3/20
Các thành viên của các ban của HĐND cấp tỉnh không thể đồng thời là thành
viên của UBND cùng cấp; Trưởng các Ban không thể đồng thời là thủ trưởng các cơ
quan chuyên môn của UBND cùng cấp, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng
Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp (Điều 54).
Khi nghiên cứu các quy định về tổ chức các Ban của HĐND, chúng ta biết
rằng việc tổ chức ra các Ban của HĐ ND đã được quy định từ rất sớm (xem Điều 28
Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1962; Điều 27 của Luật Tổ chức HĐND và
UBND năm 1983; Điều 27 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1989). Tuy
nhiên, đây chỉ là những quy định mang tính tuy nghi, việc thành lập tuỳ thuộc vào
yêu cầu thực tế của từng cấp, từng địa phương và không mang tính bắt buộc, không
quy định cụ thể số Ban. Đồng thời các Luật Tổ chức HĐND và UBND trước Luật Tổ
chức HĐND và UBND năm 2003 không quy định cụ thể về việc thành lập các Ban
(số Ban, tên gọi, số lượng thành viên các Ban) nên mỗi nơi thành lập mỗi kiểu và gây
khó khăn cho công tác hướng dẫn hoạt động của các Ban dẫn đến hiệu quả hoạt động
không cao. Ngoài ra, các Ban cũng không có người hoạt động chuyên trách mà đều là
kiêm nhiệm (các Ban gồm: Trưởng ban, Phó trưởng ban và các thành viên khác). Đến
Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994 thì nhà làm luật đã quy định cụ thể về số
ban của HĐND từng cấp (cấp tỉnh: 03 Ban; cấp huyện: 02 Ban) và Trưởng ban của
HĐND tỉnh có thể làm việc chuyên trách. Chính vì vậy, việc Luật Tổ chức HĐND và
UBND năm 2003 quy định mang tính bắt buộc Trưởng Ban hoặc Phó trưởng Ban
phải hoạt động chuyên trách nhằm từng bước chuyển một bộ phận hoạt động kiêm
nhiệm sang chế độ chuyên trách để tập trung thời gian chuyên môn cho Ban. Qua đó,
nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ban (Xem Điều 26 của Quy chế Hoạt động của
Hội đồng nhân dân năm 2005).
Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp (Điều 52, 54).
Cũng cần nói thêm về tổ chức HĐND cấp huyện, như chúng ta đã biết, thì
Hiến pháp năm 1959 không quy định về tổ chức HĐND cấp huyện nhưng kể từ Hiến
pháp 1980 đến Hiến pháp 1992 đã quy định về việc tổ chức HĐND ở tất cả các cấp
(tỉnh, huyện, xã).
1. Cơ cấu, tổ chức của Thường trực HĐND cấp huyện:
Căn cứ vào các quy định hiện hành, có thể thấy rằng, Thường trực HĐND cấp
huyện gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên thường trực. Trong đó, Chủ tịch có thể
làm việc kiêm nhiệm, Phó Chủ tịch, Ủy viên Thường trực làm nhiệm vụ chuyên trách
(điểm 5 Điều 18 của Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005).
Cũng giống như ở cấp tỉnh, các chức danh trên được HĐND cấp huyện bầu ra
tại kỳ họp đầu tiên của mỗi khoá trong số đại biểu HĐND cấp huyện theo sự giới
thiệu của Chủ tịch HĐND khoá trước.
Khái niệm Thường trực HĐND chỉ tồn tại từ năm 1989 đến nay. Trước đó,
(Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1962, 1983), HĐND huyện không có Thường
trực HĐND nên trong thời gian giữa 2 kỳ họp Uỷ ban nhân dân cùng cấp sẽ làm thay
vai trò của cơ quan Thường trực của HĐND. Do vậy, vị trí của HĐND ở địa phương
bị lu mờ. Mặc dù vậy, từ năm 1989 đến trước khi có Luật Tổ chức HĐND và UBND
năm 2003, Thường trực HĐND cấp huyện cũng chỉ có 2 chức danh là Chủ tịch và
Phó Chủ tịch nhưng Chủ tịch thường kiêm chức danh Bí thư hoặc Phó Bí thư trực của
cấp ủy nên hoạt động của Thường trực HĐND không đảm bảo việc lãnh đạo của tập
thể. Để khắc phục hạn chế này, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đã quy
định bổ sung chức danh Ủy viên Thường trực HĐND cấp huyện (Xem bảng tóm lược
các điểm mới của Thường trực HĐND huyện theo Luật Tổ chức HĐND và UBND năm
2003 so với các quy định trước đó).
Tiêu chí so
sánh
Các luật trước Luật Tổ chức
HĐND và UBND năm 1989
(luật 1962, 1983)
- Thư ký HĐND
Các chức danh trên làm việc
kiêm nhiệm
- Cơ cấu gồm Chủ tịch và Phó
Chủ tịch HĐND
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch làm
việc kiêm nhiệm
- Cơ cấu gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch
HĐND và Ủy viên thường trực
- Chủ tịch làm việc kiêm nhiệm, Phó
Chủ tịch và Ủy viên thường trực làm
việc chuyên trách
Quy định
Xem thêm Luật Tổ chức
HĐND và UBND năm 1962,
1983
Tại 24 Luật Tổ chức HĐND
và UBND năm 1989
Tại Điều 35 của Luật Tổ chức
HĐND và UBND năm 1994
Tại Điều 5, Điều 52 của Luật Tổ chức
HĐND và UBND năm 2003
2. Cơ cấu, tổ chức của các Ban của HĐND cấp huyện:
Theo quy định tại đoạn 2 Điều 54 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm
2003 thì HĐND huyện có 02 ban: Ban Kinh tế - xã hội và Ban Pháp chế. Mỗi ban
gồm có Trưởng ban, Phó trưởng ban và các thành viên khác.
Thực tế khảo sát cơ cấu tổ chức của các Ban của HĐND một số huyện trên địa
bàn tỉnh Gia Lai cho thấy số thành viên của mỗi Ban là từ 5 thành viên trở lên. Ví dụ:
Ban Kinh tế - xã hội và Ban Pháp chế của HĐND huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai có 05
thành viên (Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban và 3 thành viên khác).
:
Theo quy định tại Điều 5 và Điều 52 của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm
2003 thì HĐND cấp xã chỉ tổ chức Thường trực HĐND, không có các Ban chuyên
môn như HĐND cấp tỉnh, cấp huyện. Thường trực HĐND cấp xã cũng chỉ có 02
thành viên là Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND, không có ủy viên thường trực, trong
đó Chủ tịch HĐND cấp xã hoạt động kiêm nhiệm nên chỉ có 01 chức danh trong
thường trực HĐND hoạt động chuyên trách mà thôi. Cũng như quy định đối với cấp
tỉnh và cấp huyện, các chức danh này do HĐND cấp xã bầu ra tại kỳ họp đầu tiên của
mỗi khoá trong số các đại biểu HĐND cấp mình theo sự giới thiệu của Chủ tịch
HĐND khoá trước.
Khi nghiên cứu những quy định về tổ chức và hoạt động của HĐND trước đây
(trước khi có Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003), chúng ta thấy rằng trước
năm 1989 thì HĐND cấp xã không có Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND nên giữa 2 kỳ
họp HĐND, UBND sẽ làm thay nhiệm vụ của cơ quan Thường trực của HĐND.
Từ năm 1989 đến 2003 thì mặc dù HĐND cấp xã đã có Chủ tịch và Phó Chủ
tịch nhưng đều hoạt động kiêm nhiệm và vẫn chưa được gọi là Thường trực HĐND
cấp xã. Đến Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì chúng ta thấy có sự thay
đổi, cụ thể theo Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì HĐND cấp xã có
Thường trực HĐND. Việc ban hành những quy định này nhằm nâng cao vai trò của
Thường trực HĐND cấp xã, giúp HĐND cấp xã hoạt động thường xuyên, hiệu quả
hơn, cũng như duy trì mối quan hệ phối hợp công tác với các cơ quan nhà nước khác,
các tổ chức khác trong hệ thống chính trị (chúng ta sẽ nghiên cứu phần quan hệ phối
hợp công tác trong phần sau).
Chúng ta có thể tóm lược điểm mới về cơ cấu tổ chức của HĐND cấp xã theo
Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 so Luật Tổ chức HĐND và UBND năm
1994, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1989, Luật Tổ chức HĐND và UBND
năm 1983.
Tiêu chí so
sánh
Các luật trước Luật Tổ chức
tập)
- Cơ cấu gồm Chủ tịch và Phó
Chủ tịch HĐND
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch làm
việc kiêm nhiệm
- Cơ cấu gồm Chủ tịch và Phó Chủ
tịch HĐND
- Chủ tịch làm việc kiêm nhiệm, Phó
Chủ tịch làm việc chuyên trách
Quy định
Xem thêm Luật Tổ chức
HĐND và UBND năm 1962,
1983
Tại Điều 3 và Điều 18 Luật Tổ
chức HĐND và UBND năm
1989
Tại Điều 5 của Luật Tổ chức
HĐND và UBND năm 1994
Tại Điều 5, Điều 52 của Luật Tổ chức
HĐND và UBND năm 2003
3
Xem thêm phụ lục hình minh hoạ (phụ lục 3)
Đề tài: Tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định
pháp luật về tổ chức, hoạt động và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp
Tiểu luận môn Luật Hiến pháp Việt Nam Trang 7/20
Các tổ đại biểu HĐND cấp xã được thành lập ở các địa phương để phối hợp
công tác giữa 2 kỳ họp HĐND. Thường trực HĐND cấp xã sẽ giữ vai trò điều hoà,
phối hợp hoạt động của các Tổ đại biểu HĐND (xem thêm phần hoạt động của đại
biểu HĐND và Thường trực HĐND). Thông thường thì các tổ đại biểu HĐND cấp xã
được thành lập theo các thôn, làng, các khu phố …
pháp luật về tổ chức, hoạt động và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp
Tiểu luận môn Luật Hiến pháp Việt Nam Trang 8/20
Hoạt động của đại biểu HĐND gồm những hoạt động trước kỳ họp, hoạt động
trong kỳ họp và hoạt động sau kỳ họp. Tuy nhiên, khi nghiên cứu nội dung này,
chúng tôi xin trình bày theo các nhóm hoạt động chính, cơ bản của người đại biểu
HĐND như sau:
1.1 Tham dự Kỳ họp, phiên họp của HĐND:
Kỳ họp là hình thức hoạt động chủ yếu của HĐND. Tại kỳ họp toàn thể (đa số)
các đại biểu HĐND sẽ bàn bạc, quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương.
Thông qua kỳ họp, ý chí, nguyện của nhân dân địa phương được chuyển thành quyết
định của cơ quan quyền lực, có giá trị bắt buộc thực hiện chung (các nghị quyết).
Ngoài ra, kỳ họp còn quyết định các biện pháp để đảm bảo việc thi hành pháp luật
của các cơ quan nhà nước cấp trên tại địa phương; thực hiện quyền giám sát của
HĐND đối với các cơ quan nhà nước tại địa phương trong việc thực hiện nghị quyết
của HĐND.
Tuy nhiên, cần lưu rằng, tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa HĐND thì nội dung
chủ yếu là bầu ra các cơ cấu của HĐND, UBND nên kỳ họp này có thể coi là kỳ họp
về tổ chức bộ máy chính quyền ở địa phương. Tại kỳ họp này, HĐND sẽ bầu ra
Thường trực HĐND (Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên thường trực), các thành viên
của UBND (Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các ủy viên UBND), thành viên các Ban của
HĐND, thư ký kỳ họp.
Đại biểu HĐND có nhiệm vụ tham dự đầy đủ các Kỳ họp thường kỳ, Kỳ họp
chuyên đề, Kỳ họp bất thường của HĐND; tại kỳ họp, các đại biểu có trách nhiệm
tham gia thảo luận và quyết định những vấn đề liên quan đến nội dung, chương trình
của kỳ họp HĐND. Khi đại biểu HĐND vắng mặt, phải có lý do và báo cáo Chủ tịch
HĐND hoặc Chủ toạ phiên họp (Điều 38 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003).
Thành phần quan trọng nhất của các kỳ họp là các đại biểu HĐND, do vậy việc
đảm bảo số lượng tham dự kỳ họp là yêu cầu bắt buộc của các kỳ họp (phải có ít nhất
2/3 tổng số đại biểu HĐND tham dự). Ngoài ra dự kỳ họp còn có các thành phần
khác như Đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND cấp trên được bầu tại địa phương, Chủ