LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ
nghĩa, của dân, do dân, vì dân. Tất cả quyền lực của Nhà nước đều thuộc về nhân dân.
Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua cơ quan đại diện là Quốc hội và Hội
đồng nhân dân (HĐND) các cấp, trong đó HĐND được xác định là cơ quan quyền lực
Nhà nước ở địa phương. HĐND có quyền quyết định các vấn đề quan trọng ở địa
phương đồng thời thực hiện chức năng giám sát đối với toàn bộ hoạt động của các cơ
quan cùng cấp khác; giám sát việc thực hiện Nghị quyết của HĐND và hoạt động của
các tổ chức, công dân ở địa phương. Việc thực hiện chức năng giám sát của HĐND có ý
nghĩa hết sức quan trọng thể hiện vai trò của cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương,
cơ quan đại biểu của nhân địa phương góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động
của các cơ quan Nhà nước ở địa phương, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân địa
phương. Tuy nhiên hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND hiện nay còn bộc lộ nhiều
hạn chế.
Vì vậy việc chọn và nghiên cứu đề tài “Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân
dân các cấp-Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc,
vừa đáp ứng được yêu cầu bức xúc của thực tiễn, vừa đảm bảo thực hiện chủ trương của
Đảng và Nhà nước đó là: “Thực hiện cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà
nước” [2,tr.48]. Trong đó có việc đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND
các cấp nói chung và hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND nói riêng, nhằm mục tiêu
xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa.
2. Mục đích nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài nhằm phân tích, đánh giá việc thực hiện chức
năng giám sát của HĐND các cấp trước yêu cầu của tình hình mới. Làm rõ những mặt
mạnh, mặt yếu, chỉ rõ những bất cập, hạn chế từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND, góp phần vào việc hoàn thiện những quy định
pháp luật về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân trong giai đoạn hiện nay.
Nội dung những vấn đề được nghiên cứu, đề xuất trong tiểu luận góp phần vào việc
nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của HĐND các cấp (trong đó có vấn đề hoạt động
giám sát của HĐND) phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới tổ
a. Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân:
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhân dân là chủ thể, nguồn gốc tối cao
của quyền lực Nhà nước. Quyền lực Nhà nước được thực hiện theo chế độ tập quyền,
theo nguyên tắc tập trung dân chủ.Vì vậy Quốc hội và Hội đồng nhân dân có vị trí, vai
trò đặc biệt quan trọng trong bộ máy Nhà nước.
Khác với Quốc hội là cơ quan thay mặt toàn thể nhân dân cả nước, sử dụng quyền
lực Nhà nước trên phạm vi toàn quốc. HĐND các cấp thay mặt nhân dân địa phương sử
dụng quyền lực Nhà nuớc trong phạm vi địa phương. Điều này quyết định phạm vi, chức
năng, nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND. Điều 119 Hiến pháp 1992 quy định: “Hội
đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện
vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm
trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên”.
Cho đến nay mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về tính quyền lực của HĐND
nhưng hiến pháp 1992 vẫn tiếp tục khẳng định Hội đồng nhân dân là cơ quan Nhà nước
ở địa phương, có thẩm quyền quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương trên các
lĩnh vực: kinh tế, văn hoá-xã hội, quốc phòng,an ninh…Hội đồng nhân dân cùng với
Quốc hội hợp thành hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước. Điều này hoàn toàn phù hợp
với quan điểm của Chủ tịch Hồ chí Minh về cơ quan chính quyền địa phương.
Với thiết chế cơ quan chính quyền địa phương như hiện nay, quyền lực của nhân dân
địa phương được thực hiện thông qua cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền
làm chủ của nhân dân-đó là HĐND.
Theo quy định pháp luật, chỉ HĐND mới có thẩm quyền thay mặt cho nhân dân địa
phương quyết định những vấn đề cơ bản, quan trọng ở địa phương, giám sát việc tuân
theo pháp luật và Nghị quyết của HĐND đối với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội
và nhân dân ở địa phương.
b. Chức năng của Hội đồng nhân dân:
Với vị trí, vai trò là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí
nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Quyền lực của HĐND xuất phát từ quyền
lực của Quốc hội. Do vậy Quốc hội( thông qua Hiến pháp) trao cho HĐND thực hiện ba
quyết của HĐND giúp HĐND đôn đốc, kiểm tra qua đó yêu cầu các chủ thể thực hiện
đúng nội dung, yêu cầu đã được quy định trong Nghị quyết.
1.1.2. Khái niệm giám sát:
a. Theo từ điển Tiếng Việt: “ Giám sát là theo dõi ,kiểm tra xem có thực hiện đúng
những điều quy định không” [4,tr.389].
Dưới góc độ ngôn ngữ thông thường “giám sát” được hiểu là: Việc theo dõi, xem
xét, kiểm tra của chủ thể có thẩm quyền đối với chủ thể khác đế qua đó có được các
nhận định về các chủ thể này. Tuy nhiên, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban
nhân dân (UBND) 2003 chưa đưa ra khái niệm giám sát.
Giám sát là một hình thức thực hiện quyền lực Nhà nước mà HĐND là cơ quan
quyền lực Nhà nước ở địa phương, cho nên giám sát là chức năng của HĐND. Trong bộ
máy Nhà nước chỉ Quốc hội và HĐND có chức năng giám sát việc thực hiện pháp luật.
Chức năng giám sát của HĐND được cụ thể hoá qua các hoạt động giám sát.
Mục đích của giám sát: Thông qua hoạt động giám sát HĐND kiểm tra, đánh giá
việc chấp hành Hiến pháp, Luật và những văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên ở địa
phương, việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND nhằm đảm bảo cho pháp luật được
thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất trong phạm vi địa phương, đảm bảo tính pháp chế
Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân.
b. Phân biệt hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân với hoạt động kiểm tra, kiểm
sát của một số cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội:
4
Hoạt động giám sát của HĐND là một nội dung của hoạt động quản lý Nhà nước và
xã hội. Đó là hoạt động không thể thiếu của cơ quan lãnh đạo đối với cơ quan chịu sự
lãnh đạo, của nguời lãnh đạo đối người chịu sự lãnh đạo.
Giám sát là hoạt động đặc thù của HĐND các cấp nhằm thể chế hoá chức năng của
HĐND. Giám sát không những đảm bảo tính thống nhất của quyền lực Nhà nước, tính
pháp chế Xã hội chủ nghĩa mà còn đẩy mạnh sự phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương.
Hoạt động giám sát của HĐND các cấp thực chất là hoạt động giám sát thể hiện sự
uỷ quyền của nhân dân cho Nhà nước, vì vậy nó vừa mang tính quyền lực Nhà nước,
vừa mang tính quyền lực nhân dân, phục vụ cho lợi ích của nhân dân.
quy định của pháp luật.
* Hoạt động kiểm tra, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành
viên của mặt trận.
5
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị và liên hiệp tự nguyện các
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội và cá nhân tiêu biểu trong các
tầng lớp, giai cấp, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Điều 9 Hiến pháp 1992 xác định :"Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành
viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân".
Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được tiến hành trong sự phối
hợp với các cơ quan quyền lực Nhà nước, để tổng hợp ý kiến của nhân dân và các tổ
chức thành viên, kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền biểu dương, khen
thưởng, xử lý những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tham gia "giám
sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ viên chức Nhà
nước". (Điều 9 Hiến pháp 1992) nhằm hỗ trợ công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra trong
nội bộ cơ quan Nhà nước. Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là giám
sát mang tính nhân dân, không mang tính quyền lực Nhà nước, không có thẩm quyền xử
lý đối với các cơ quan Nhà nước hay người chịu trách nhiệm. Tuy nhiên những kiến
nghị của Mặt trận đối với nhiều vấn đề qua giám sát lại rất có giá trị, “có sức nặng”. Đó
chính là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết vướng mắc phát sinh trong
quá trình thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Pháp luật của Nhà nước.
Như vậy, giám sát- xét đến cùng chính là việc xem xét, kiểm tra, theo dõi việc tuân
theo Hiến pháp, pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công
dân nhằm có được những nhận định xác đáng về những việc làm được, những vấn đề
còn tồn tại trong hoạt động của các cơ quan này. Từ đó có biện pháp để xử lý nghiêm
minh hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế
và cá nhân nhằm khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật gây ra. Thông qua
hoạt động giám sát bảo đảm cho pháp luật được thực hiện thống nhất, nâng cao pháp chế
Xã hội chủ nghĩa, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước, chế độ xã hội.
thực hiện các chức năng của HĐND luôn có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại, hỗ
trợ lẫn nhau. Nghị quyết của HĐND muốn được triển khai thực hiện có hiệu quả thì phải
chú trọng đến hoạt động giám sát, bởi lẽ chỉ có thông qua giám sát, HĐND mới có căn
cứ để hoàn thiện Nghị quyết của mình, kịp thời điều chỉnh những quy định trong Nghị
quyết cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương. Ngược lại việc
ban hành Nghị quyết là cơ sở để HĐND các cấp tiến hành hoạt động giám sát của mình.
Thực tế cho thấy hiệu lực và hiệu quả hoạt động của HĐND phụ thuộc rất nhiều vào
hoạt động giám sát của nó. Những yêu cầu, kiến nghị của HĐND đối với các cơ quan
Nhà nước nếu như không được bảo đảm thực hiện thì chức năng, vai trò cơ quan quyền
lực tuy được ghi nhận trong Hiến pháp cũng không có ý nghĩa gì, thậm chí sẽ trở thành
“Hữu danh vô thực”. Nếu Nghị quyết của HĐND phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế-
xã hội ở địa phương sẽ giúp cho việc giám sát có hiệu quả, góp phần thúc đẩy hoạt động
của HĐND các cấp, tạo điều kiện cho HĐND các cấp hoàn thành tốt nhiệm vụ, quyền
hạn được giao.
Như vậy, nhìn nhận một cách khách quan về chức năng giám sát của HĐND có thể
thấy đây là một chức năng quan trọng của HĐND, thể hiện nguyên tắc tập trung dân chủ
trong tổ chức và hoạt động của cơ quan chính quyền địa phương, đảm bảo quyền lực
Nhà nước thực sự thuộc về nhân dân, góp phần tất yếu vào việc thực hiện mục tiêu xây
dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
1.1.3. Mục đích giám sát:
Hoạt động giám sát của HĐND nhằm đạt những mục đích sau:
- Phát hiện kịp thời hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng chịu sự giám sát, qua đó
đề ra biện pháp khắc phục, sửa chữa kịp thời.
- Kịp thời biểu dương cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện tốt những nhiệm vụ được
giao.
- Bảo đảm Nghị quyết của HĐND được thực hiện tốt trên phạm vi địa phương. Qua
việc tiến hành giám sát, các kết luận, kiến nghị của Thường trực HĐND, các Ban
HĐND, đại biểu HĐND được UBND các cấp, các ngành tiếp thu, chỉ đạo thực hiện theo
đó những vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện Nghị quyết của HĐND sẽ
được khắc phục kịp thời.
Nghị quyết của HĐND ban hành nhằm triển khai thực hiện chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết của cấp uỷ, phản ánh ý chí, nguyện vọng
của nhân dân. Nghị quyết của HĐND có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng
phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương. Do đó giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của
HĐND là một nội dung không thể thiếu trong hoạt động giám sát của HĐND các cấp
nhằm tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện
Nghị quyết, đảm bảo cho Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống.
Trong quá trình giám sát, nếu phát hiện có những văn bản của UBND cùng cấp,
Nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với văn bản của cơ quan Nhà
nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND thì HĐND xem xét, quyết định bãi bỏ một phần
hoặc toàn bộ văn bản đó.
1.2.3. Giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương
Đây là quá trình HĐND xem xét việc áp dụng pháp luật trong tổ chức và hoạt động
thực tiễn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền giám sát. Vì vậy phạm vi giám
sát của HĐND trong lĩnh vực này rất rộng. Trên thực tế pháp luật của Nhà nước, Nghị
quyết của HĐND có đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực hay không không chỉ thông
qua hoạt động ban hành các văn bản hướng dẫn, thi hành bảo đảm đúng đắn, phù hợp,
8
kịp thời mà còn phụ thuộc vào quá trình tổ chức thực hiện có hợp hiến, hợp pháp hay
không? Có hiệu quả hay không? Do vậy giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan
Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân ở địa phương là
một nội dung giám sát của HĐND, nhằm phát hiện kịp thời những vi phạm pháp luật
trong hoạt động thực tiễn của các đối tượng này để từ đó nhanh chóng có biện pháp ngăn
chặn, đảm bảo cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh và thống nhất.
1.3. Hình thức thực hiện quyền giám sát
Hình thức thực hiện quyền giám sát là cách thức mà mỗi chủ thể giám sát tổ chức
hoạt động giám sát cuả mình. Mỗi chủ thể thực hiện quyền giám sát có những hình thức
giám sát khác nhau, thực hiện theo yêu cầu, trình tự, thủ thục riêng. Hình thức thực hiện
quyền giám sát của HĐND các cấp được quy định trong chương III Luật tổ chức HĐND
dung mà đại biều chất vấn và xác định trách nhiệm, biện pháp khắc phục. Nếu Đại biểu
Hội đồng nhân dân không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Hội đồng
9
nhân dân tiếp tục thảo luận. Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về trả lời chất vấn và trách
nhiệm người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết.
Tại kỳ họp, HĐND xem xét các văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân
cùng cấp, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp, nếu có dấu hiệu trái với
văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thì Hội
đồng nhân dân xem xét quyết định bãi bỏ văn bản đó (Điều 62 Luật tổ chức HĐND và
UBND 2003).
Căn cứ vào tình hình thực tiễn và theo yêu cầu nhiệm vụ giám sát, HĐND thành lập
đoàn giám sát để thực hiện nhiệm vụ giám sát do HĐND giao cho.
Để nâng cao hoạt động giám sát của HĐND trong giai đoạn hiện nay, Luật tổ chức
HĐND và UBND 2003 bổ sung thẩm quyền cuả Hội đồng nhân dân (trong lĩnh vực
giám sát) trong việc quyết định bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội
đồng nhân dân bầu.
Khi thực hiện quyền giám sát, căn cứ vào kết quả giám sát, pháp luật quy định Hội
đồng nhân dân có thẩm quyền:
- Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Uỷ ban nhân dân
cùng cấp, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp;
- Ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét
thấy cần thiết;
- Miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch, Phó chủ tịch, Uỷ viên thường trực Hội đồng nhân
dân; Chủ tịch, Phó chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân, Hội thẩm nhân
dân của Toà án nhân dân cùng cấp theo quy định của pháp luật.
Như vậy, hoạt động giám sát của HĐND tại kỳ họp là hình thức giám sát quan trọng
nhất, giám sát theo định kỳ. Nó mang tính chất tổng hợp, toàn diện đối với tất cả các đối
tượng thuộc phạm vi giám sát của HĐND. Mặt khác cũng tại kỳ họp các báo cáo, đề án
được trình HĐND xem xét thảo luận, qua đó tạo điều kiện để HĐND nắm bắt được tình
hình thực tế.
nhân dân có trách nhiệm tiếp nhận để chuyển đến người bị chất vấn; thông báo cho
người bị chất vấn thời hạn và hình thức trả lời chất vấn.
Để tăng cường mối quan hệ giữa Thường trực Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân
dân cùng cấp trong việc thực hiện quyền giám sát, Thường trực Hội đồng nhân dân có
thẩm quyền trình HĐND bỏ phiếu tín nhiệm đối với các thành viên UBND theo đề nghị
của Uỷ ban mặt trận Tổ quốc và khi có ít nhất một phần ba tổng số Đại biểu Hội đồng
nhân dân yêu cầu.
Mối quan hệ giữa Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban Hội đồng nhân dân và
Đại biểu Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện quyền giám sát được thể hiện ở nhiệm
vụ của Thường trực Hội đồng nhân dân trong việc điều hoà, phối hợp hoạt động giám sát
của các cơ quan đó; tổng hợp kết quả giám sát trình Hội đồng nhân dân xem xét, xử lý
theo thẩm quyền. Thường trực Hội đồng nhân dân có trách nhiệm báo cáo Hội đồng
nhân dân về hoạt động giám sát của mình giữa hai kỳ họp.
Hoạt động giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân là hình thừc giám sát
thường xuyên góp phần tháo dỡ những khó khăn, vướng mắc cho cơ sở trong việc tuân
thủ và chấp hành pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
1.3.3. Hoạt động giám sát của các Ban của Hội đồng nhân:
Các Ban của Hội đồng nhân dân là sự tham gia của tập thể các Đại biểu Hội đồng
nhân dân vào việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND. Theo quy định Luật tổ
chức HĐND và UBND 2003 thì các Ban của Hội đồng nhân dân đượcthành lập ở
HĐND cấp tỉnh và cấp huyện để giúp HĐND trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của HĐND. Trong lĩnh vực giám sát, theo quy định Điều 74 Luật tổ chức HĐND và
UBND 2003 thì các Ban của Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ giúp Hội đồng nhân dân
giám sát đối với các đối tượng sau:
- Giám sát hoạt động của Uỷ ban nhân dân, cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân
dân, Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
- Giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị
vũ trang nhân dân và công dân trong việc thi hành Hiến pháp, Luật, văn bản của cơ quan
Nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Hoạt động giám sát của các
Ban Hội đồng nhân dân được thể hiện thông qua các hình thức:
phục lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm.
Nếu người có trách nhiệm không xem xét, thực hiện yêu cầu của các Ban hoặc thực hiện
không đúng, không đầy đủ, các Ban có thể đưa vấn đề đó ra kỳ họp HĐND xem xét, giải
quyết. Nếu người có trách nhiệm đó là đối tượng chịu sự chất vấn của Đại biểu HĐND
thì với tư cách là Đại biểu HĐND, thành viên các Ban có quyền chất vấn. Vì vậy có thể
coi đây là hình thức thực hiện “Quyền chất vấn mang tính tập thể” gắn với chức năng
giám sát của các Ban HĐND.
Các Ban của HĐND là hình thức tổ chức tập hợp các Đại biểu cơ quan dân cử ở địa
phương có cùng chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm về lĩnh lực nhất định, giúp
HĐND thẩm tra các báo cáo, đề án trình tại kỳ họp HĐND, giúp HĐND giám sát, kiểm
tra thực tế liên quan đến lĩnh vực hoạt động được giao. Hình thức giám sát của các Ban
chuyên môn chủ yếu được thực hiện giữa hai kỳ họp HĐND. Các Ban của HĐND không
chỉ giám sát tính hợp pháp với những văn bản, báo cáo, đề án mà còn tập trung vào việc
tổ chức các đoàn giám sát thực tế tại cơ sở, thực hiện giám sát theo chuyên đề.
12
Thông qua hoạt động giám sát của các Ban chuyên môn, giúp HĐND nắm bắt được
tình hình hoạt động của các cơ quan, tổ chức từ đó có biện pháp đôn đốc, kiểm tra và xử
lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật, văn bản trái với pháp luật Nhà nước và
Nghị quyết của HĐND.
1.3.4. Hoạt động giám sát của Đại biểu Hội đồng nhân dân:
Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương
tham gia vào công tác quản lý Nhà nước tại địa phương. Hoạt động của Đại biểu HĐND
(trong đó có hoạt động giám sát) góp phần quan trọng vào việc xây dựng và thực hiện
các chủ trương, biện pháp của HĐND.
Theo quy định của Pháp luật hiện hành, hoạt động giám sát của Đại biểu HĐND
được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó chất vấn là hình thức giám sát
quan trọng nhất.
Giải thích thuật ngữ chất vấn, Từ điển Việt Nam ghi: “Chất vấn là câu hỏi và yêu
cầu phải giải thích rõ ràng” [4].
Luật tổ chức HĐND và UBND 2003 chưa có sự giải thích thuật ngữ chất vấn nhưng
nhân viên cơ quan, tổ chức đơn vị đó”. (Điều 42 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ
ban nhân dân 2003)
Khi thực hiện quyền giám sát, pháp luật quy định Đại biểu Hội đồng nhân dân có
quyền kiến nghị với cơ quan Nhà nước về việc thi hành pháp luật, chính sách của Nhà
nước. Cơ quan hữu quan phải có trách nhiệm trả lời kiến nghị của đại biểu. Đại biểu
HĐND có quyền đề nghị HĐND bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do
HĐND bầu.
Từ những phân tích trên cho thấy, hình thức giám sát của HĐND thông qua các Đại
biểu Hội đồng nhân dân là hình thức giám sát trực tiếp, thường xuyên vì suy cho cùng
hoạt động giám sát tại kỳ họp, thông qua Thường trực, các Ban của Hội đồng nhân dân
cũng chính là giám sát của các Đại biểu Hội đồng nhân dân. Vì vậy để nâng cao hiệu
quả giám sát của HĐND trong giai đoạn hiện nay, phải đồng thời chú trọng nâng cao
hiệu quả các hình thức giám sát của HĐND, trong đó chú trọng hình thức giám sát của
Đại biểu Hội đồng nhân dân.
14