Hoàn thiện công tác xóa đói giảm nghèo của huyện Hà Trung trong những năm gần đây - Pdf 26

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 1
Mục lục
Danh mục BIểu bản, sơ đồ 2
Bản cam đoan 3
Lời mở đầu 4
PHẦN I : TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1: Tên đề tài và nội dung, mục đích cơ bản của vấn đề nghiên cứu 5
1.2 : Lý do nghiên cứu đề tài 5
1.3 : Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.4 : Phương pháp nghiên cứu 6
PHẦN II : THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO TẠI HUYỆN HÀ TRUNG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 7
2.1: Thực trạng đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Hà
Trung 7
2.1.1: Chuẩn nghèo giai đoan 2011-2015 7
2.1.2 : Thực trạng đói nghèo của huyện Hà Trung 7
2,1,2,1 : Thực trạng nghèo 7
2.1.2.2 : Phân bố đói nghèo 15
2.1.2.3 : Mức độ đói nghèo 16
2.1.3 : Nguyên nhân đói nghèo 16
2.1.3.1: Nguyên nhân chung 16
2.1.3.2 : Nguyên nhân đặc thù của địa phương 17
2.2. Công tác xóa đói giảm nghèo của huyện Hà Trung 19
2.2.1: Các chương trình, chính sách xóa đói giảm nghèo của Chính phủ và địa
phương đang triển khai 19
2.2.2 : Những thành tựu đạt được 27 2.2.3 :
Những hạn chế 28
PHẦN III : GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở
HUYỆN HÀ TRUNG 30 3.1. Mục
tiêu của công tác xóa đói giảm nghèo trong những năm tới 30
3.2. Kiến nghị các giải pháp xóa đói giảm nghèo 30

giá, kiến nghị đều trung thực, không sao chép từ bất kì chuyên đề, luận văn, khóa
luận hay bất cứ một tài liệu nào khác mà hoàn toàn dựa trên những nỗ lực, cố
gắng của bản thân tôi, cùng với sự giúp đỡ của các cô chú trong phòng LĐTBXH
huyện Hà Trung và thầy giáo hướng dẫn Th.s Lương Văn Úc để hoàn thành
chuyên dề thực tập này.
Tôi xin cam đoan những điều nói ở trên đều là sự thật, nếu sai tôi xin chịu hoàn
toàn chịu trách nhiệm trước Khoa Kinh tế và Quản lý nguồn nhân lực và Hội đồng
kỷ luật của trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân.

Sinh viên
Mai Huy Thắng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 4
LỜI MỞ ĐẦU
Đói nghèo là một vấn đề mang tính chất toàn cầu, không chỉ riêng Việt Nam
mà nhiều quốc gia trên thế giới đều đặt việc xóa đói giảm nghèo lên làm mục tiêu
hàng đầu của quốc gia. Tại Việt Nam những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có
nhiều chương trình, chính sách tích cực trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, giúp
cho tình trạng nghèo ở Việt Nam được cải thiện một cách đáng kể, nâng cao dần
đời sống của nhân dân
Hà Trung là một trong những huyện nghèo của tỉnh Thanh Hóa, trong giai
đoan 2006-2010 huyện đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác xóa đói giảm
nghèo. Bước sang giai đoạn mới 2011 – 2015 chính sách đói nghèo có nhiều thay
đổi, do thực trạng đói nghèo trong huyện cũng có nhiều thay đổ, tỷ kệ hộ nghèo
của huyện vẫn còn cao ( 9,2% năm 2013), mức sống của người dân còn nhiều khó
khăn. Công tác xóa đói giảm nghèo còn có hạn chế, thiếu sót. Vì vậy em thực hiện
đề tài này là để mong góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo của huyện nhà
và cũng là để học hỏi thêm kỹ năng , kiến thức phục vụ cho công việc sáu này.
Bài viết còn nhiều thiếu sót do năng lực, trình độ còn hạn chế nên em rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, những người quan tâm để
bài viết được tốt hơn

1.3 : Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu là thực trang đói nghèo ở
huyện Hà Trung và công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Hà Trung. Các giải pháp
thực tiễn nhằm hoàn thiện công tác xóa đói giảm nghèo của huyện Hà Trung
Phạm vi nghiên cứu: Đề tại tập trung nghiên cứu, khảo sát trong phạm vi đọa
giới hành chính và dân cư huyện Hà Trung. Tất cả các số liệu thống kê, khảo sát,
đánh giá đều chỉ liên quan đến tình hình, thực trạng nghèo đói trong phạm vi
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 6
huyện Hà Trung
Thời gian nghiên cứu : Đê tài chủ yếu nghiên cứu các số liệu từ năm 2011 trở
về đây và một số tài liệu tham khảo nhưng năm trước đó. Do một số khó khăn
nên nhiều số liệu có thể không có đủ các năm hoặc không có được số liệu mới
nhất nên trong một vài số liệu thống kê trong bài viết chỉ có một năm hoặc của
các năm cũ hơn
1.3 : Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp khảo sát số liệu
Để phục vụ cho quá trình viết và hoàn thiện đề tại, các số liệu của đề tài được
thu thập và tìm tòi qua nhiều nguồn khác nhau
- Từ các sách, các nghiên cứu, báo cáo khoa học về công tác xóa đói giảm nghèo
đã được thực hiện trong huyện trước đó. Chọn lọc ra các thông tin, tư liệu cần
thiết để phục vụ cho bài viết chuyên đề của mình
- Từ các báo cáo tổng kết cuối năm của UBND huyện, các số liệu thống kê của
phòng LĐTBXH, phòng thóng kê, ban giảm nghèo của huyệ Hà Trung để có số liệu
thực tiễn về tình hình nghèo đói của huyện và các chương trình, chính sách,
phương hướng xóa đói giảm nghèo của huyện
- Học hỏi, tìm hiểu trực tiếp các cán bộ, chuyên viên chuyên trách đang làm việc
tại phòng LĐTBXH huyện Hà Trung đê có thêm những thông tin thực tế, kinh
nghiệm làm việc
- Từ những tìm hiểu, quan sát của bản thân khi thực tập thực tế để có thêm các
thông tin do chính mình tìm hiểu, bổ sung vào bài viết

ứng với quá trình biến đổi tình hình kinh tế xã hội của đất nước.Trong phạm vi
nghiên cứu của đề tài này chỉ quan tâm tới chuẩn nghèo của giai đoạn 2011-
2015.
Theo đó Giai đoạn 2011-2015 (Quyết định số 9/2011/QĐ-TTG của Thủ tướng
Chính phủ : Về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai
đoạn 2011 – 2015).
- Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000
đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống.
- Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000
đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống.
- Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng
đến 520.000 đồng/người/tháng.
- Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng
đến 650.000 đồng/người/tháng.
Vì huyện Hà Trung nằm ở khu vực nông thôn nên khi thực hiện điều tr rà soát
hộ nghèo chỉ áp dụng mức tiêu chuẩn dành cho hộ nghèo và hộ cận nghèo tại khu
vực nông thôn.
2.1.2 : Thực trạng nghèo của huyện Hà Trung
2.1.2.1 : Thực trạng nghèo
a) Tình hình chung
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 8
Trong những năm qua, tình hình kinh tế xã hội của đất nước có nhiều thay đổi,
các chính sách về đói nghèo cũng thay đổi theo nhằm bắt kịp với tình hình phát
triển của đất nước, bước sang giai đoạn 2011 – 2015 chính sách về đói nghèo đã
có sự thay đổi về tiêu chuẩn xấ định hộ nghèo. Do đó tình hình nghèo của huyện
cũng có những thay đổi so với những năm trước đây. Thông qua những phân tích
dưới đây sẽ giải thích rõ hơn về thực trạng này
Biêu 2.1 : Thực trạng nghèo đói của huyện Hà Trung giai đoạn 2011-2013
Chỉ tiêu Đơn vị
Năm

của huyện Hà Trung sẽ lại tăng lên mức 18%, trở lại vạch xuất phát ban đầu của
năm 2011. Điều đó cho thấy công tác giảm nghèo chưa thực sự triệt để, thu nhập
của các hộ thoát nghèo, chưa thực sự tăng lên rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo còn phụ
thuộc nhiều vào mức chuẩn nghèo, dễ bị tác động khi chuản nghèo tăng lên, và
trên thực tế so với tình hình Kinh tế Xã hôi hiện nay thì chuẩn nghèo này vẫn
đang còn là quá thấp, số hộ nghèo thực tế có thể sẽ còn cao hơn.
Việc xóa đói giảm nghèo không thể chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ của cấp trên mà
còn phụ thuộc vào sự vận động, cố gắng của địa phương. Nhưng qua số liệu về
tình hình nghèo của huyện Hà Trung thì việc huy động nguồn lực địa phương
trong công tác giảm nghèo là rất khó khăn. Số hộ nghèo lớn, số khẩu nghèo và
cận nghèo cao , năm 2013 là khoản 18 900 người, chiếm tới % dân số toàn huyện.
Như vậy khi thực hiện các chính sách giảm nghèo tại địa phương sẽ gặp nhiều
khó khăn do số đối tượng cần hỗ trợ quá lớn, trong khi nguồn lực luôn hạn chế,
nếu thực hiện đông đều thì sẽ giảm hiệu quả do không tập trung được nguồn lực,
nếu thực hiện chọn lọc thì lại gây ra tranh chấp, mất cân bằng. Số hộ, khẩu
nghèo, cận nghèo cao cũng làm giảm sự đóng góp vào sự phát triển chung của
nền kinh tế huyện, qua đó cũng làm giảm đi nguồn lực đầu tư lại cho xóa đói
giảm nghèo.
Biểu 2.2 : Thống kê hộ nghèo theo đặc điểm chủ hộ
Tiêu chí Đơn vị 2011 2012 2013
Tổng số hộ nghèo Hộ 5380 4501 3001
Hộ nghèo chủ hộ là nữ Hộ 731 442 306
Tỷ lệ trên tổng số hộ nghèo % 13,6 9,8 10,2
Hộ nghèo chủ hộ là người có
công Hộ 285 166 105
Tỷ lệ trên tổng số hộ nghèo % 5,3 3,6 3,5
Hộ nghèo chủ hộ là đối tượng
bảo trợ xã hội Hộ 2324 1819 1131
Tỷ lệ trên tổng số hộ nghèo % 43,2 40,4 37,7
( Nguồn: Số liệu điều tra – Phòng LĐTBXH Hà Trung )

sách nào hay một chính sách có thể áp dụng cho những đối tượng nào luôn là
một công việc khó khi thực hiện các chương trình. Ví dụ như một hộ gia đình
người tàn tật nghèo được xét công nhận bảo trợ xã hội, nhưng khi đó số tiền hỗ
trợ họ sẽ không nằm trong diện hộ nghèo nữa, nếu giải thích không thuyêt phục
thì sẽ lại gây ra khiếu kiện. Việc gặp khó khăn khi thực hiện các công tác cũng là
do nguyên nhân từ hai phía. Về phía người làm chính sách thì một số cán bộ,
nhất là các cán bộ ở địa phương có trình độ chưa cao, chậm cập nhật các thông
tin về chế độ chính sách, hiểu không rõ về cấc quy định của các chế độ, chính sách
nên khi thực hiện gây ra nhiều sai sót, về phần người dân, cũng do thông tin hạn
chế, không nắm rõ hết được các quyền lợi của mình nên cũng tìm cách khiếu nại.
Do đó việc quan trọng nhất là phải làm cho cả cán bộ và người dân hiểu được các
nội dung, quy định về chính sách được ban hành.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 11
Việc phân chia hộ nghèo theo đặc điểm chủ hộ để có thể thấy huyện đã phân
chia, sắp xếp các đối tượng nghèo theo các tiêu chí để tìm ra nguyên nhân, đặc
điểm của từng hộ nghèo để xây dựng các chính sách hỗ trợ một cách hiêu quả,
phù hợp với các đối tượng, bên cạnh đó việc phân chia cũng giúp cho công tác
thực hiện các chương trình, chính sách dễ dàng, ít sai sót hơn.
b) Tình hình cụ thể tai các đơn vị thuộc huyện
Cũng giống như thực trạng chung của huyện, sau khi áp dụng chuẩn nghèo
mới được ban hành thì tỷ lệ hộ nghèo của các xã đều tăng lên đột biến, mức độ
tăng của các xã có khác nhau nhưng đều tăng từ khoảng 8% - 10%, cá biệt có xã
tỷ lệ hộ nghèo tăng trên 15% lần ( năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo bình quân của huyện
là 9,53%)
Biểu 2.3: Tỷ lệ hộ nghèo vào giai đoạn đàu áp dụng chuẩn nghèo năm
2011
Đơn vị : %
STT Đơn vị Tỷ lệ STT Đơn vị Tỷ lệ
1 Hà Tiến 26,1 14 Hà Phú 18
2 Hà Hải 22,1 15 Hà Ninh 17,1

tuy cóa tăng lên nhưng thấp hơn hẳn, đều dưới 15%, đặc biệt Thị trấn chỉ có
3,9% rất thấp. Những xã này đều thuộc khu vực đồng bằng trung du, đất canh
tác rộng hơn, gần trung tâm, có đường giao thông thuận lợi, cơ sở hạ tâng tốt
hơn nên có những ưu thế trong phát triển kinh tế, đời sống nhân dân cũng vì thế
mà cao hơn nên bị tác động ít hơn các xã miền núi. Điều đó thể hiện cho thấy
thực trạng nghèo ở các xã,các khu vực trong huyện là rất khác nhau, hiệu quả
của công tác Xóa đói giảm nghèo của các xã những năm trước cũng khác nhau và
phụ thuộc khá nhiều vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở từng xã. Những xã
thuộc khu vực miền núi, xã xa trung tâm thường có mức sống dân cư thấp hơn
các xã trung tâm, đồng bằng, mức độ gia tăng tỷ lệ nghèo cũng cao hơn khi có
những biến động nói chung và thay đổi chuẩn nghèo nói riêng.
Biểu đồ 1 : Tỷ lệ hộ nghèo bình quân giai đoạn 2011-2013
( Nguồn: Số liệu điều tra – Phòng LĐTBXH Hà Trung )
Để phân tích đươc thực trạng nghèo của các xã trong giai đoạn 2011 – 2013 .
Thông qua biểu đồ về tỷ lệ hộ nghèo bình quân của các xã có thể thấy tỷ lệ hộ
nghèo của các xã có sự thay đổi từ cao xuống thấp. Trong đó cao nhất là xã miền
núi Hà Tiến và thấp nhất vẫn là Thị Trấn với mức chênh lệch nhau tới 14,6%,
mức chênh lêch khá cao giữa các xã trong một huyện. Tuy nhiên nhìn chung mức
độ chênh lêch của các xã trong huyện theo thứ tự là không lớn, trên biểu đồ có
thể thấy các xã liền kề nhau có mức chênh lệch chỉ khoảng 1%. Để thực hiện cho
việc đánh giá thực trạng nghèo tại các đơn vị trong huyện nhằm mục đích xây
dựng kế hoạch giảm nghèo, phát triển kinh tế cụ thể hơn, các xã được phân chia
thành các các nhóm với các mức độ khác nhau để tiện cho việc đánh giá, so sánh.
- Nhóm xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, từ 15% trở lên gồm có 9 xã, từ Hà Tiến đến
Hà Vinh.theo biểu đồ.
- Nhóm xã có tỷ lệ hộ nghèo trung bình từ 10 – 15% có 12 xã từ xã Hà Phú đến
Hà Lai theo biểu đồ.
- Nhóm xã có tỷ lệ hộ nghèo thấp dưới 10% bao gồm 4 xã, thị trấn còn lại.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 13
Qua đó có thể thấy trong huyện còn nhiều xã có tỷ lệ hộ nghèo cao. Trong 9 xã có

quân trên một hộ là từ 2-3 người/hộ, còn lại là trên 3 người/hộ trong khi số
khẩu bình quân trên hộ của huyện là khoảng 3,8 khẩu/hộ. Điều này cho thấy các
số lượng hộ nghèo và khẩu nghèo ở các xã không đồng nhất, có xã có số hộ nghèo
thấp, tỷ lệ nghèo thấp nhưng chưa chắc số khẩu nghèo đã thấp mà thậm chí còn
cao hơn cả những xã có số hộ nghèo cao, và ngược lại. Điều đó nói lên rằng khi
đánh giá thực trạng nghèo tại địa phương thì không chỉ nên căn cứ vào tỷ lệ hộ
nghèo để đánh giá mà còn phải căn cứ vào nhiều số liệu khác mới nói lên hết thực
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 14
trạng của địa phương và từ đó mới có thể thực hiện các chính sách xóa đói giảm
nghèo hợp lý, toàn diện.
Các hộ nghèo thường có số khẩu thấp, điều đó có thể có lợi khi thực hiện chính
sách giảm nghèo nhưng đồng nghĩa với việc các hộ sẽ có ít lao động chính , thiếu
lao động sẽ làm giảm thu nhập và gây khó khăn trong thực hiện lao động sản
xuất phát triển kinh tế làm cho việc thoát nghèo càng khó hơn, Mất cân đối hoặc
thiếu lực lượng lao động cũng là nguyên nhân của tình trạng nghèo ở các xã,
Ngoài ra một nguyên nhân khiến cho số khẩu bình quân trên hộ thấp là do nhiều
hộ nghèo người già, người neo đơn, mồ côi chỉ có từ 1 đến 2 người mỗi hộ hay
do một số hộ có thể tách hộ gia đình ra thành nhiều hộ khác.
c) Đánh giá chung về thực trạng đói nghèo của huyện Hà Trung
Dựa trên những số liệu và phân tích ở trên, có thể đánh giá thực trạng nghèo
của huyện Hà Trung như sau.
Huyện Hà Trung có tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo trong huyện còn khá cao, số
khẩu nghèo, cận nghèo rất lớn , so mức với trung bình cả nước thì tỷ lệ hộ nghèo
của huyện luôn cao hơn mặc dù đã giảm qua từng năm. Mức sống của người dân
trong huyện, nhất là hộ nghèo và hộ cận nghèo còn chưa cao nên dễ có nguy cơ
tăng tỷ lệ nghèo trở lại khi có những biến động, cụ thể là năm 2011 mức chuẩn
nghèo thay đổi đã làm tỷ lệ hộ nghèo tăng lên 17 % , tăng gần 8% so với trước
đó. Huyện có số hộ nghèo có chủ hộ là nữ, các đối tượng chính sách, các đối tượng
bảo trợ xã hội cũng rất lớn, thường chiếm quá nửa các hộ nghèo, gây nhiều khó
khăn vướng mắc trong thực hiện công tác giảm nghèo, đòi hỏi phải có nhiều sự

Phi nông
nghiệp
2011 29,2 60,8 95,5 4,5
2012 30,5 59,5 93,7 6,3
2013 30,8 59,2 95,1 4,9
( Nguồn: Số liệu điều tra – Phòng LĐTBXH Hà Trung )
Theo bảng trên có thể thấy tỷ lệ hộ nghèo thuốc khu vực miền núi và đồng bằng
trung du qua các năm không có thay đổi. Toàn huyên có 6/25 xã được công nhận
là xã miền núi, với dân số chiêm 20% toàn huyện nhưng chiếm tới 30% tổng số
hộ nghèo của cả huyện cho thấy các xã miền núi còn rất nhiều khó khăn. Như đã
phân tích ở trên miền núi bao giờ cũng gặp nhiều khó khăn hơn khu vực đông
bằng do địa hình tự nhiên hiểm trở, giao thông khó khăn, đất đai canh tác ít ,Các
xã miền núi thường có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn các xã khác. Do vậy để rút ngắn sự
chênh lệch về mức độ nghèo giữa các xã trong huyện thì cần phải quan tâm hơn
tới các xã miền núi.
Về phân loại hộ nghèo theo thành phần kinh tế thì hộ nghèo đa phần là tập
trung trong lĩnh vực nông nghiệp, chiếm tới hơn 90% tổng số hộ nghèo của toàn
huyện. Điều này cũng phù hợp với thực trạng của huyện vì huyện thuộc khu vực
nông thôn, cơ sở hạ tâng còn hạn chế, chưa có nhiều máy, xí nghiệp lớn để thu
hút lao động, thương mại dịch vụ mới chỉ phát triển quanh khu vực thị trấn và
quốc lộ 1, người dân chủ yếu là làm nông nghiệp, tuy nhiên thu nhập từ nông
nghiệp lại thấp và đất đai sản xuất không nhiều nên số hộ nghèo chủ yếu tại khu
vực nông thôn là các hộ thuần nông, không có nghề khác. Một số hộ khác cũng
làm nghề nông nhưng có lao động đang làm việc tại các ngành công nghiệp, dịch
vụ hoặc có nghề thủ công thì rất ít và hầu như không có hộ thuộc diện nghèo.
Những hộ nghèo không làm nông nghiệp thương là các gia đình neo đơn, người
già, lao động tự do.
2.1.2.3 : Mức độ đói nghèo
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 16
Theo số liệu mới nhất năm 2013 toàn huyện có 218 hộ nghèo cần trợ cấp gạo

gặp nhiều khó khăn hơn, dẫn đến giảm thu nhập, gây ra đói nghèo.
Do trình độ dân trí còn nhiều hạn chế, Nhiều nơi người dân chưa quan tấm đến
nhiều đến giáo dục. trong khi nguồn kinh phí dành cho giáo dục còn hạn chế,
chưa đủ để hỗ trợ cho những hộ gia đình nghèo tạo điều kiện cho con em mình đi
học đấy đủ. Người dân còn ít tiếp thu các kiến thức, kinh nghiêm mới, vẫn quen
với lối làm ăn cũ, lạc hậu nên đã hạn chế khả năng tiếp thu kiến thức vận dụng
vào lao động sản xuất, nắm bắt các cơ hội làm ăn, khiến cho họ rơi vào vòng luẩn
quẩn đói nghèo, thất học mà không dứt ra được.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 17
Nguồn lực của địa phương và trung ương còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội; Điều kiện tự nhiên- xã hội khó khăn, Người nghèo khó
tiếp cận được với nguồn vốn để đầu tư phát triển sản xuất do chính sách còn
phức tạp. Bên cạnh đó khủng hoang kinh tế cũng đã tác động không nhỏ, khiến
cho công việc làm ăn rở nên khó khăn, nhiều người thất nghiệp hoặc thiếu việc
làm, làm giảm thu nhập và lâm vào cảnh nghèo.
2.1.3.2 : nguyên nhân đặc thù cua địa phương
Với đa số người nghèo là làm nông nghiệp thế nhưng huyện Hà Trung cũng
không có nhiều thế mạnh trong nông nghiệp
Biểu 2.6: Thống kê thực trạng sử dụng đất của huyên.
Diện tích
( ha)
Dất nông nghiêp
- Đất 2 vụ
- Đất 1 vụ
- Đất trông màu
- Đất vườn tạp
- Đất chăn nuôi
- Đất mặt nước, đầm lầy
10 607,48
5455,35

trồng rừng thì cần phải đầu tư nhiều và thời gian chờ đợi phải từ 5 – 10 năm,
không giải quyết được như cầu trước mắt nên chưa nhiều nông dân tham gia vào
sản xuất lâm nghiệp. Bên cạnh đó hạn hán, thiên tại, bệnh dịch cũng gây ảnh
hương đến nông nghiệp của huyện, như năm 2010 nhiều huyện khác được mùa
trong khi huyện Hà Trung bị mất mùa do dịch rầy nâu, mặc dù đã có nhiều biện
pháp phòng tránh, Sau nhiều đợt dịch cú gia cầm, dịch tai xanh, nhiều đàn gia
súc, gia cầm đã bị tiêu hủy gây thiệt hại lớn cho các hộ chăn nuôi, nhiều hộ rơi
vào cảnh nợ nần, cho đến nay nhiều hộ không thể tái đàn được hoặc không muốn
tái đàn.
Huyện có số đối tượng chính sách, đối tượng trong diện bảo xã hội đông, toàn
huyên có 2327 gia đình liệt sỹ, 1224 gia đình thương binh , 468 gia đình bị nhiêm
chất độc hóa học , số đối tượng cần bảo trợ xã hội hơn 17000 người., như số liêu
ở trên các hộ nghèo thuộc đối tượng này chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng số hộ
nghèo trong huyện Các đối tượng trên đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, sức
khỏe yếu, nhiều bệnh tật, rủi ro , thiệt thòi hơn người bình thương về nhiều mặt.
Do đó giảm khả năng lao động, đảm bảo thu nhập ổn định cuộc sống.
Lực lượng lao động của huyện nói chung và trong hộ nghèo nói riêng thường
có trình độ thấp thường ít, có sức khỏe yếu, nhiều hộ nghèo chỉ có một lao động
chính phải nuôi nhiêu người trong nhà, lao động vẫn chủ yếu làm trong lĩnh vực
nông nghiệp tại địa phương nên có thu nhập thấp, gần 70% người lao động chưa
qua đào tạo hoặc đào tạo chưa hợp lý nên rất khó kiếm được các việc làm khác
ổn định, trong khi các hộ nghèo có nhiều gai đình có người tàn tật, ốm đau thì
việc tìm việc làm còn khó hơn, nhất là trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế như
hiện nay. Tuy tỷ lệ thất nghiệp trong huyện chỉ khoảng 3% nhưng số thất nghiệp
trá hình còn rất nhiều. Thất nghiệp, thiếu việc làm trong khi giá cả ngày một cao
sẽ dân đến cảnh nghèo.
Công tác điều tra rà soát và bình xét hộ nghèo trong huyện còn nhiều tiêu cực
và thiếu sót, một số cán bộ địa phương còn chưa nắm vững công tác điều tra rà
soát hộ nghèo dẫn đến có những sai lệch về thực trạng nghèo của địa phương,
đây là nguyên nhân do lỗi chủ quan thực hiện. Nhiều hộ nghèo còn có tâm lý

thể hóa một loạt các biện pháp Xóa đói giảm nghèo do huyện đề ra.
a) Công tác điều tra , rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo
Để thực hiện tốt các chính sách , chương trình xóa đói giảm nghèo thì trước
tiên phải nắm rõ tình hình hộ nghèo , cận nghèo trong huyện, do đó công tác điều
tra rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo luôn được thực hiện đầu tiên và thường
xuyên. UBND huyện đã thành lập một ban chỉ đạo giảm nghèo do đồng chí phó
chủ tịch huyện là trưởng ban, và thành viên là các đại diện các tổ chức, ban
ngành có liên quan trong huyện, phòng LĐTB và XH là cơ quan thường trực ban
chỉ đạo. Mỗi thành viên ban chỉ đạo được phân công phụ trách một hoặc một
nhóm xã với nhiệm vụ hướng dẫn các xã, thị trấn trong công tác điều tra rà soát
hộ nghèo, tham mưu xây dựng các kế hoạch giảm nghèo của từng đơn vị, kiểm
tra, giám sát công tác điều tra và công tác thực hiện các chương trình giảm
nghèo.
Công tác điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo đuợc tiến hành trực tiếp từng hộ của
thôn, thực hiện theo đúng quy trình hướng dẫn đảm bảo công bằng, minh bạch,
đảm bảo công bằng minh bạch. Tổ chức họp dân bình xét hộ nghèo, hộ cận nghèo
theo hình thức lấy ý kiến biểu quyết đối vơi từng hộ bằng hình thức bỏ phiếu kín
và đảm bảo có trên 50% số người dự họp. Sau khi có kết quả sẽ được niêm yết
công khai và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, sau đó mới tổ
chức họp thôn bình xét hộ nghèo hộ cận nghèo. Thông thường công tác điều tra
sẽ được thực hiện vào cuối quý IV trên tất cả các xã, thị trấn trên địa bàn huyện
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 20
nhằm phục vụ cho các kế hoạch năm sau. Tuy nhiên vì việc điều tra được tiến
hành thường niên, trong khi dân số trong huyện đông, địa bàn rộng, đỗi ngũ cán
bộ điều tra thiếu và trình độ hạn chế nên không tránh khỏi các thiếu sót, mặt
khác do nhận thức của người dân về công tác điều tra hộ nghèo hạn chế nên cũng
gây ra nhiều sai sót , không đúng với thực tế về hộ nghèo, có thể nói nguyên nhân
sai sót đến từ cả người điều tra và người được điều tra.
- Đối với cán bộ điều tra, do thiếu kinh nghiệm hoặc chưa hiểu rõ các quy đinh,
kỹ thuật điều tra, nội dung biểu bảng điều tra nên khi tiến hành thu thập thông

đáp ứng đủ nên huyện đã tổ chức động viên huy động nguồn lực trong nhân dân
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 21
nhân dân cung tham gia . Nguồn lực hỗ trợ cho công tác xây dựng nhà cho người
nghèo được huy đông từ nhiều nguồn như các tổ chức, cá nhân, dòng họ, doanh
nghiệp đóng trên địa bàn với tổng số tiền hàng trăm triệu đồng. Mỗi hộ nghèo
được xây mới hoặc sửa mới nhà trung bình được hỗ trợ từ 10 – 20 triệu đồng . do
đó đến năm 2012 huyện đã thực hiện hoàn thành 100% kế hoạch xây dựng nhà
cho người nghèo. Góp phần gips người nghèo an tâm ổn định cuộc sống, yên tâm
lao động sản xuất. Có thể nói đây là một chính sách được huyện thực hiện khá tốt.
c) Đào tạo nghề , tạo việc làm cho người nghèo:
Như đã phân tích ở trên, một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng
nghèo của huyên là do lực lượng lao động củ huyện có năng lực, trình độ yếu,
người lao động khó khăn trong tìm kiếm việc làm. Để tăng thu nhập và giảm
nghèo bền vững thì nhất thiết phải tạo ra việc làm ổn đinh cho người lao động.
Trong những năm qua, thực hiện đề án “ Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho
Thanh niên nông thôn “ của UBND huyện phê duyệt năm 2010.huyện đã có nhứng
hoạt động đào tạo nghề và giới thiêu việc làm để nâng cao trình độ cho lao động
nông thôn, đặc biệt là lao động hộ nghèo.
Biểu 2.8: số lao động nông thôn được đào tạo nghề đến năm 2013
STT Nghề đào tạo Số lớp Số người
1 Nghề cho lĩnh vực nông nghiệp 45 1366
2 Nghề cho lĩnh vực công nghiệp và
TTCN
32 845
3 Nghề cho lĩnh vực dịch vụ 2 114
Tổng 79 2325
( Nguồn: Báo cáo tổng hợp cuối năm 2013- Phòng LĐTBXH huyện Hà Trung )
Huyện chỉ đạo cho các cơ quan , đơn vị liên quan như Hội nông dân, phòng
nông nghiệp, trạm khuyến nông, trạm thú y, trung tâm giáo dục thường xuyên và
dạy nghề, các công ty trên địa bàn tổ chức các lớp đào tạo nghề và chuyển giao

còn gần 70%, số lao động được đào tạo thì thiếu về kinh nghiệm và yếu về kỹ
năng. Số lao động tìm được việc làm chưa cao. Có thể đua ra các nguyên nhân
sau.
Một là : thời gian đào tạo ngắn, không chính quy, chỉ mang tính chất bồi dưỡng
kiến thức , cầm tay chỉ việc, không được cấp bằng cấp cụ thể. Trong khi hiện nay
các phần lớn công ty, doanh nghiệp đều yêu cầu những người có trình độ trung
cấp trở lên, có khả năng làm được việc ngay.
Hai là: Công tác đạo tạo với công tác giới thiệu tạo việc làm còn chưa đồng đều,
các công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã trong huyện thì nhu cầu lao động có hạn,
huyện cũng chưa liên hệ được với các doanh nghiệp ngoài huyện khác trong khi
số lao động cần việc rất lớn nên người học xong vẫn khó tìm được việc làm, số lao
động học nghề nông nghiệp vẫn chủ yếu làm việc tại địa phương, hộ gia đình, số
lao động học các nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thì số có việc làm ổn
định chỉ khoảng 20%, còn phần đông người lao động học xong vẫn phải tự tìm
kiếm việc làm hoặc đi những nơi khác làm việc.
Ba là : khủng hoảng kinh tế khiến cho nhiều doang nghiệp phá sản, thu hẹp quy
mô, khiến cho việc tìm việc làm ngày càng khó khăn, nhất là đối với lao động có
trình độ thấp.
Như vậy có thể thấy công tác đào tạo nghề và giới thiệu việc làm hiệu quả chưa
cao, còn nhiều hạn chế thiếu sót cần phải khắc phục.
d) Hộ trợ người nghèo về vốn sản xuất
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 23
Một trong những chính sách mang lại hiệu quả tích cực đến công tác giảm nghèo
là tín dụng. Để người nghèo có thể phát triển kinh tế, vươn lên thoát nghèo ổn
định cuộc sống thì cần phải hôc trợ họ các nguồn lực ban đầu để đầu tư cào sản
xuất kinh doanh. Do đó chính sách về tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo là một yếu tố
quan trọng mang lại kết quả giảm nghèo nhanh, bền vững.
Biểu 2.9 : Kết quả cho vay của ngân hàng chính sách xã hội huyện Hà
Trung
Năm 2011 2012 2013

Có thể nói việc các hộ nghèo vay vốn không còn là điều quá khó khăn vào thời
điểm hiện nay, tuy nhiên không vì thế mà các hộ nghèo có thể được vay vốn thoải
mái, tuy nguồn vốn có đủ nhưng các hộ nghèo vẫn chỉ được phép vay tối đa 30
triệu đồng, dẫn đến có nhiều hộ cần có thêm vốn cũng không thể vay ưu đãi được,
phải chấp nhận vay với mức lãi suất hiện hành. Với số tiền 30 triệu đồng hiện nay
thì rất khó để có thể dầu tư sản xuất, trước dây với 30 triệu người có thể mua
một cặp bò giống cùng với xây chuồng trại và tiêm phòng đầy đủ thì nay không
thể làm được việc đó. Nguyên nhân là do vướng mắc bởi quy định ở trên và do
ngân hàng sợ sẽ phát sinh nợ xấu.
Các tổ chức chính trị xã hội như Hội nông dân huyên, hội phụ nữ huyện, đoàn
thanh niên cũng là nòng cốt trong công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện. Cùng vói
ngân hàng chính sách xã hội, các tổ chức này cũng có những chương trình hỗ trợ
vốn sản xuất cho các hộ nghèo.
Biểu 2.10 : Cho vay của các tổ chức khác
Tổ chức Đơn vị 2011 2012 2013 Tổng
Hội nông dân
Triệu
đồng 3 428 2682 2547 8657
hộ 768 573 529 1870
Hội phụ nữ
Triệu
đồng 1740 1327 1425 4429
hộ 396 277 304 977
Đoàn thanh
niên
Triệu
đồng 1285 1310 1232 3827
hộ 307 282 264 853
( Nguồn: Báo cáo của ban chỉ đạo giảm nghèo huyện Hà Trung )
Bằng nguồn vốn lấy từ đóng góp của quỹ hội và sự hỗ trợ từ trên, trong nhứng

Chỉ tiêu Đơn vị tính 2011 2012 2013
Số thẻ BHYT cấp cho hộ nghèo Số thẻ 15 476 10 874 8 314
Trợ cấp tiền điện nước sinh hoạt Số tiền(tr.đ) 1927 1556 1069
Trợ cấp cho hộ nghèo có con đang
đi học
Số tiền( tr.đ) 1292 836 766
Số đối tượng 1958 1267 1161
( Nguồn: Báo cáo tổng hợp cuối năm của Phòng LĐTBXH huyện Hà Trung )
Nói chung công tác thực hiện các chế độ chính sách dối với hộ nghèo được thực
hiện khá dây đủ , tuy nhiên trong công tác cấp thẻ BHYT còn có nhiều sai sót tồn
tại, rất nhiều thẻ BHYT của người nghèo bị sai mã số, sai ngày thnags năm sinh,
sai họ tên , nhiều thẻ bị cấp trùng, gây khó khăn cho người dân khi ốm đau, cần
phải đi khám tại các cơ sở y tế cần được hưởng chế độ Bảo hiểm. Công tác khắc
phục nhữn sai sót trên thẻ vẫn chưa được xử lý kịp thời, có khi gần hết thời hạn
người dân mới nhận được thẻ mới. Liên tiếp nhiều năm xảy ra tình trạng sai sót
trên thẻ BHYT , cách khắc phục tuy không khó nhưng vẫn còn chậm. Điều này gây

Trích đoạn Các giải pháp về cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status