Chuyên đề Xoá đói giảm
nghèo
LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế của quá trình đổi mới và hội nhập hiện nay hàng loạt vấn
đề kinh tế - xã hội nảy sinh. Bên cạnh những mặt tích cực, mặt trái của nền
kinh tế thị trường đã tạo ra sự phân cực xã hội, phân hoá giàu nghèo ngày
càng lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân.
Hà Tĩnh là một trong 4 tỉnh nghèo nhất của cả nước, mức sống của
người dân còn thấp. Trong đó có Nghi Xuân là một huyện nằm ở địa bàn đầu
tiên của tỉnh với diện tích tương đối rộng và dân số khá đông. Nằm trong đặc
thù chung của cả tỉnh, với những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và trình độ
phát triển kinh tế - xã hội còn thấp đã gây nên hiện tượng đói nghèo của
người dân nơi đây.
Qua thời gian được tiếp xúc và tìm hiểu thực tế tại địa bàn em đã có
một số nhìn nhận về thực trạng đói nghèo và hiện trạng công tác xoá đói giảm
nghèo được triển khai trên địa bàn huyện. Trong phạm vi một chuyên đề nhỏ
này em xin đưa ra các giải pháp và một ý kiến đề xuất mong đóng góp một
phần vào công tác xoá đói giảm nghèo của huyện Nghi Xuân.
Do thời gian tìm hiểu và kinh nghiệm thực tế còn có hạn em chưa thể đi
sâu nghiên cứu hết mọi vấn đề nghèo đói trong chuyên đề này. Kính mong
được sự góp ý của thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
Sinh viên thực hiện: Lê Thị
Oanh
1
Chuyên đề Xoá đói giảm
nghèo
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN
A. Cơ sở lý luận của vấn đề xoá đói giảm nghèo
1. Khái niệm nghèo đói và các khái niệm có liên quan
Nghèo đói là một khái niệm có tính thay đổi theo thời gian và không
gian.
2. Phương pháp tiếp cận và xác định chuẩn đói nghèo
2.1. Phương pháp tiếp cận:
Có 3 căn cứ quan trọng để xác định chuẩn nghèo đói:
- Căn cứ vào nhu cầu tối thiểu, nhu cầu này được lượng hoá, bằng mức
chi tiêu về lương thực, thực phẩm thiết yếu để duy trì cuộc sống với nhiệt
lượng tiêu dùng từ 2100- 2300 Kcal/ngày/người.
- Căn cứ vào mức thu nhập bình quân đầu người tháng. Trong đó đặc
biệt quan tâm đến mức thu nhập bình quân đầu người/tháng của nhóm có thu
nhập thấp nhất (20% số hộ).
- Căn cứ vào nguồn lực thực tế của quốc gia của từng địa phương đã
được cụ thể hoá bằng mục tiêu trong chương trình quốc gia xoá đói giảm
nghèo và chương trình của từng địa phương để thực hiện trong công tác xoá
đói giảm nghèo từ 1997-2000.
2.2. Chuẩn nghèo đói:
Từ 3 căn cứ trên ta có thể thấy rằng xác định chuẩn nghèo đói phụ
thuộc chủ yếu vào điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng
quốc gia, từng địa phương, song trong đó có một phần của yếu tố chủ quan
của các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách.
Khi nói đến nghèo đói là nói đến cá nhân con người. Nhưng khi xây
dựng chuẩn nghèo đói thì lại phải đặt con người trong khuôn khổ hộ gia đình
để xem xét, vì vậy chuẩn mực nghèo đói đưa ra là chuẩn nghèo cho hộ gia
đình, lấy hộ là đơn vị áp dụng chuẩn.
Tính từ năm 1993 đến nay Bộ LĐTBXH đã 5 lần đưa ra chuẩn nghèo
đói.
Chuẩn nghèo gần đây nhất là lần thứ 4 công bố vào năm 2000 như sau:
3
Sinh viên thực hiện: Lê Thị
Oanh
4
Sinh viên thực hiện: Lê Thị
Oanh
4
Chuyên đề Xoá đói giảm
nghèo
Là một huyện vừa giáp biển, vừa là đồng bằng, vừa có miền núi, nền
sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản chiếm phần lớn. Theo dự tính về các chỉ
tiêu giá trị sản xuất, TNHH của huyện Nghi Xuân năm 2006 ngành sản xuất
nông nghiệp chiếm 77,4%, ngành thuỷ sản chiếm 64,9%. Tổng sản lượng
lương thực quy thóc năm 2006 là 20.218,13 tấn. Bình quân lương
thực/người/năm đạt202,2kg/người/năm, thu nhập bình quân đạt
350.000đ/người/tháng. So với các huyện khác trong tỉnh và trong toàn quốc
những con số này là thấp.
Về giáo dục đào tạo cả huyện có 3 trường phổ thông trung học, 21
trường THCS, 23 trường tiểu học, 1 trung tâm giáo dục thường xuyên.
Về Y tế toàn huyện có 1 trung tâm y tế là bệnh viện huyện ở thị trấn và
mỗi xã có 1 trạm xá. Tuy nhiên đội ngũ y bác sĩ tuyến xá thì thiếu trầm trọng.
- Đánh giá chung: Bên cạnh những thuận lợi mà điều kiện tự nhiên
mang lại huyện còn tồn tại nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội, tỉ lệ đói nghèo
còn cao (26,09%). Các xã ven biển hay bị lũ lụt, thiên tai. Đặc biệt những
năm gần đây tệ nạn xã hội (đặc biệt là ma tuý tràn vào) gây nhiều khó khăn.
2. Sự cần thiết phải thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo
- Từ tình hình kinh tế - xã hội của huyện ở trên ta thấy tỉ lệ đói nghèo
trong huyện còn cao.
- Nghèo đói và bệnh tật luôn rình rập những người nghèo khổ khi mà
bản thân họ không đáp ứng được các nhu cầu tối thiểu thì khả năng chống đõ
với rủi ro là rấtkhó.
Do vậy xoá đói giảm nghèo là một yêu cầu bức thiết.
- Thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo cũng chính là thực hiện mục
xác định là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị xã hội,
đoàn thể của cộng đồng và chính bản thân người nghèo.
- Các giải pháp chủ yếu để xoá đói giảm nghèo
+Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách: đầu tư chính sách hạ tầng, định
canh, định cư…
6
Sinh viên thực hiện: Lê Thị
Oanh
6
Chuyên đề Xoá đói giảm
nghèo
+ Nhóm giải pháp đầu tư hỗ trợ phát triển xoá đói giảm nghèo gồm có
các dự án đầu tư trực tiếp và lồng ghép các chương trình dự án liên quan…
+ Nhóm các giải pháp đảm bảo: điều tra, nghiên cứu, lập danh sách,
tuyên truyền nâng cao nhận thức, tổng kết, sơ kết, đánh giá.
4. Phương hướng chủ trương của huyện trong việc thực hiện công
tác xoá đói giảm nghèo
Xoá đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng, nhà nước là nhiệm vụ
chung của mọi cấp mọi ngành. Trên cơ sở tinh thần chung đó huyện Nghi
Xuân cũng đã có những phương hướng mục tiêu chung để thực hiện tốt công
tác này.
- Căn cứ vào HĐ 78/2002/NĐ - CP về "tín dụng đối với người nghèo và
các đối tượng cơ sở khác. Đồng thời xuất phát từ thực tiễn Nghi Xuân là một
huyện đồng bằng ven biển, xuất phát điểm của nền kinh tế, cơ sở vật chất kỹ
thuật hạ tầng còn thấp, nguồn lực phát triển của nền kinh tế còn hạn chế.Tỷ lệ
nghèo đói và tình trạng khiếm việc làm còn cao, việc thành lập NHCS của
huyện đã trở thành một kênh tín dụng quan trọng đối với người nghèo.
- Xác định rõ, đúng, đầy đủ hộ đói nghèo theo chuẩn mực mới và thực
hiện xoá đói giảm nghèo đồng bộ với các chương trình kinh tế - xã hội khác.
- Tranh thủ sự chỉ đạo của ban đại diện HĐQT, cấp uỷ chính quyền các
nghèo
Bảng 1: Thực trạng nghèo đói trên địa bàn huyện Nghi Xuân
Năm Hộ nghèo Tỉ lệ %
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
9041
7624
4814
3352
3327
8386
8280
6424
38,8
32,3
20,2
13,9
13,6
34,7
34,33
26,09
(Theo số liệu của phòng Nội vụ lao động - thương binh xã hội huyện
Nghi Xuân).
Qua bảng số liệu trên ta thấy được diễn biến của thực trạng công tác
Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Số
hộ
tỉ lệ
Số
hộ
tỉ lệ
Số
hộ
tỉ lệ
Số
hộ
tỉ lệ
Số
hộ
tỉ lệ
Số
hộ
tỉ lệ
Thành thị
Nông thôn
Miền núi
958
5352
2731
35,4
43
33,5
857
4469
nông thôn. Bởi Nghi Xuân có hầu hết địa bàn là nông thôn miền núi chiếm ít
hơn. Chênh lệch địa bàn nông thôn - thành thị là 7,6% nông thôn miền núi là
9,5% (chênh lệch tỉ lệ nghèo đói).
Năm 2000, tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn là 43%, miền núi là 33,5%, thành
thị là 35,4%, năm 2001 tỉ lệ này giảm tương ứng là 7% - 5,8% - 5,5%. Các
giai đoạn 2001, 2002, 2003, 2004 tỉ lệ hộ nghèo đều giảm xuống. Đó là do có
sự quan tâm của UBND huyện và việc tiếp tục triển khai thực hiện công tác
xoá đói giảm nghèo nên số hộ nghèo đói đã giảm xuống.
- Từ sự nhìn nhận chung về tình trạng đói nghèo của toàn huyện, sự so
sánh tương quan giữa các địa bàn cho thấy tỉ lệ nghèo đói của huyện còn cao
đặcb iệt tập trung ở vùng nông thôn. Các xã nông thôn chiếm đến 16/19 đơn
vị hành chính huyện. Người dân ngoài thu nhập chính là sản xuất nông
10
Sinh viên thực hiện: Lê Thị
Oanh
10