Thực trạng quản lý nhà nước về vốn ODA tại Việt Nam giai đoạn 1993-2006 – Phần
II
3. Công tác vận động vốn ODA
Từ năm 1993 đến nay đã tổ chức 14 Hội nghị Nhóm tư vấn, trong đó 3 lần họp tại
Pari (Pháp), 1 lần tại Tokyo (Nhật Bản), còn lại đều họp tại Việt Nam.
Ngoài Hội nghị CG thường niên tổ chức vào tháng 12 hàng năm, bắt đầu từ năm 1998
còn có các Hội nghị CG giữa kỳ được tổ chức vào tháng 6 tại một số địa phương. Các
Hội nghị CG giữa kỳ đã được tổ chức tại Huế (1998), Hải Phòng (1999), Đà Lạt
(2000), Hội An (2001), Thành phố Hồ Chí Minh (2002), Sapa (2003), Vinh (2004),
Cần Thơ (2005) và Nha Trang (2006).
Trước thềm Hội nghị CG còn tổ chức Diễn đàn doanh nghiệp với sự tham gia của các
cơ quan Chính phủ, các đại sứ, đại diện cho các nhà tài trợ và đông đảo đại diện của
giới doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Theo đánh giá của các nhà tài trợ, Hội nghị CG của Việt Nam là thành công nhất
trong số các Hội nghị loại này của các nước tiếp nhận viện trợ. Từ một diễn đàn quốc
tế có thông lệ do nhà tài trợ chủ trì và họp ở nước ngoài, Việt Nam đã từng bước
vươn lên đưa diễn đàn về Việt Nam và chủ động giới thiệu, thuyết phục các nhà tài
trợ về chủ trương, chính sách đúng đắn của ta về phát triển kinh tế – xã hội và cải
cách kinh tế, thể chế Nhờ vậy, ở tất cả các Hội nghị CG, Việt Nam đều tranh thủ
được sự đồng thuận rất cao của các nhà tài trợ.
Việc vận động ODA đã được thực hiện với nhiều hình thức phong phú và ở tất cả các
cấp từ Trung ương đến cơ sở cũng như ở các cơ quan đại diện của nước ta ở nước
ngoài.
Một số địa phương cũng tổ chức các Hội nghị vận động viện trợ tại địa phương mình
để giới thiệu tiềm năng và nhu cầu viện trợ. Hội nghị điều phối viện trợ đối với một
số ngành cũng được tổ chức, như trong lĩnh vực giao thông vận tải, y tế, giáo
dục Bên cạnh đó, nhiều nhóm quan hệ đối tác cũng được tổ chức như Nhóm quan hệ
đối tác trong lĩnh vực nông nghiệp, y tế, phòng chống thiên tai nhằm phối hợp vận
động viện trợ.
Hiện tại, công tác vận động ODA được tiến hành từ dưới lên, do các chủ dự án, các
Bộ và địa phương trực tiếp xây dựng. Căn cứ vào danh mục các dự án vận động ODA
hướng phát triển chung của cả quốc gia, không tính đến khả năng triển khai thực hiện
của chủ dự án cũng như khả năng cung cấp viện trợ của nhà tài trợ. Do đó, các địa
phương đã xây dựng một danh mục ưu tiên vận động ODA một cách tuỳ tiện, không
gắn với trách nhiệm và cao gấp nhiều lần so với nhu cầu phát triển trong tương lai.
Do thiếu một quy hoạch nhất quán, các cơ quan quản lý cấp trên thường phải chạy
theo yêu cầu của các chủ dự án, các Bộ và địa phương.
Ngoài ra, do thiếu các dự án được chuẩn bị đầy đủ từ trước nên nhiều dự án khi đưa
ra cho nhà tài trợ xem xét chưa được chuẩn bị kỹ càng, thiếu các thông tin cần thiết
gây ra khó khăn trong quá trình triển khai sau này. Trong nhiều trường hợp các cơ
quan thụ hưởng chưa xuất phát từ nhu cầu thực tế mà bị động và phụ thuộc vào nhà
tài trợ trong việc hình thành các dự án ODA. như việc chuẩn bị các đề cương dự án
làm sơ sài, cốt sao được đưa vào danh mục yêu cầu tài trợ hoặc việc chuẩn bị văn
kiện dự án, báo cáo nghiên cứu khả thi phó mặc cho tư vấn nước ngoài.
Bên cạnh đó, nhiều Bộ và địa phương đã trực tiếp trao đổi và chủ động thoả thuận với
các nhà tài trợ về danh mục các dự án kêu gọi viện trợ của ngành và địa phương
mình. Điều này đặt Chính phủ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư trước một sự đã rồi, rất khó
khăn trong việc đàm phán về các điều kiện vay trả, giải ngân v.v. Tình trạng này còn
gây lãng phí do thiếu sự điều phối của các cơ quan quản lý.
Trong khi một số Bộ và địa phương lớn như Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn, Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều kinh
nghiệm trong công tác vận động ODA, nhiều Bộ ngành và các địa phương miền núi
còn thiếu những hiểu biết cơ bản về công tác vận động ODA cũng như quy định của
Chính phủ và của mỗi nhà tài trợ về vấn đề này. Điều này đã dẫn đến một thực tế là
có sự chênh lệch về phân bổ ODA giữa các vùng, ngành trong cả nước.
4. Công tác thẩm định, phê duyệt vốn ODA
Công tác thẩm định và phê duyệt các dự án ODA là một khâu hết sức quan trọng bảo
đảm hiệu quả và chất lượng của các dự án ODA. Tuy nhiên, trên thực tế công tác này
ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn.
- Do thời gian phê duyệt luận chứng khả thi, thiết kế kỹ thuật kéo dài, từ khi phê
duyệt đến khi thi công phải mất từ 1 đến 1,5 năm. Tình hình thực tế có nhiều thay đổi
các cơ quan liên quan tiến hành thẩm định và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Tuy nhiên trên thực tế, các chủ dự án và Bộ, địa phương chủ quản thường không tuân
thủ quy định này.
Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Trước hết, do đặc thù là nhà tài trợ thường
không yêu cầu các dự án hợp tác kỹ thuật phải được phê duyệt nên các chủ dự án, các
bộ và địa phương chủ quản thường có tâm lý lảng tránh việc trình thẩm định và phê
duyệt dự án. Thứ hai, do nhiều dự án hỗ trợ kỹ thuật thường được thực hiện qua
nhiều giai đoạn với quy mô vốn ODA của mỗi giai đoạn thường nhỏ hơn 1 triệu USD
nên nhiều chủ dự án cho rằng dự án không cần có sự thẩm định của Bộ Kế hoạch và
Đầu tư và phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ. Thứ ba, các chủ dự án và bộ và địa
phương chủ quản chỉ quan tâm trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẩm định để Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt dự án khi có nhu cầu bố trí vốn đối ứng cho dự án, được nhập
miễn thuế các trang thiết bị, ô tô cho dự án và cho phép chuyên gia của dự án được
hưởng các ưu đãi về xuất nhập cảnh.
Mặt khác, thủ tục hành chính của Việt Nam còn gây nhiều khó khăn cho các PMU,
đặc biệt là bước thẩm định và phê duyệt nghiên cứu khả thi, phê duyệt để triển khai
các hạng mục sử dụng vốn sau đấu thầu. ở mỗi bước, PMU đều phải gửi hồ sơ đến
nhiều bộ ngành, cơ quan Trung ương. Các tiêu chuẩn đòi hỏi không đồng nhất, có
được sự đồng ý của tất cả các cấp thì phải mất nhiều thời gian và công sức.
Theo các PMU, một dự án ở địa phương để trình lên Thủ tướng Chính phủ phê duyệt,
phải trình qua 8 cấp. Ví dụ, tiểu dự án thuỷ lợi Hóc Môn - Bắc Bình Chánh với 2
phần, phần A do một PMU trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phần
B do một PMU trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thành phố Hồ
Chí Minh. Một tiểu dự án trên cùng một địa bàn, với điều kiện tự nhiên và kinh tế -
xã hội giống nhau, lại phải chia ra 2 phần, phải chăng chúng ta tự phức tạp hoá vấn
đề. Hơn nữa trong khi trong khi PMU tiểu phần A phải qua 6 cấp thì PMU tiểu phần
B phải qua 8 cấp để cùng giải quyết một nội dung.
Các quy định về phê duyệt các dự án ODA cho thấy ý định kiểm soát chặt chẽ hiệu
quả của các dự án ODA của Nhà nước. Tuy nhiên các quy định này chỉ phù hợp trong
bối cảnh số lượng các dự án ODA do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ở mức vừa
chính sách xã hội để giải ngân cho các đối tượng theo được quy định.
- Đẩy mạnh việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy thị trường chứng
khoán phát triển, khuyến khích và tạo mọi điều kiện cho các công ty cổ phần niêm
yết cổ phiếu và huy động vốn trên thị trường chứng khoán. Đối với các ngân hàng
niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, nên xem xét cho phép các nhà đầu tư
nước ngoài mua với tỷ lệ không quá 49% vốn cổ phần của ngân hàng đó và một nhà
đầu tư mua không quá 30% vốn cổ phần của một ngân hàng Việt Nam. Việc nâng tỷ
lệ này, vẫn đảm bảo tỷ lệ chi phối của phía Việt Nam trong ngân hàng, mặt khác cho
phép thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư lớn vào Việt Nam. Hơn thế nữa, gắn liền
với huy động vốn, chúng ta còn thu hút công nghệ ngân hàng hiện đại, trình độ quản
trị điều hành ngân hàng tiên tiến, thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh
tranh của các ngân hàng trong nước.
- Tiếp tục đổi mới lĩnh vực thanh toán, mở rộng các hình thức thanh toán không dùng
tiền mặt. Thực hiện mục tiêu này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị trong
ngành tài chính, như: thực hiện thu thuế và lệ phí, bảo hiểm, bằng hình thức thanh
toán không dùng tiền mặt. Các tổ chức khác, như: thu cước phí bưu chính viễn thông,
thu tiền điện nước, phí sử dụng cáp truyền hình, các hoạt động thu phí và thanh toán
ổn định khác, cũng cần chủ động và sẵn sàng phối hợp với ngân hàng trong sử dụng
các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt. Các tổ chức có khối lượng chi tiền mặt
lớn, như: Bảo hiểm xã hội, các doanh nghiệp và tổ chức có đông người lao động, sử
dụng việc chi trả lương qua hệ thống ATM của ngân hàng. Chính phủ cần sớm ban
hành Nghị định thanh toán không dùng tiền mặt, quy định mức giá trị của các khoản
thanh toán không được sử dụng tiền mặt. Về phía hệ thống ngân hàng cần đẩy mạnh
hơn nữa việc đầu tư hiện đại hóa công nghệ, phát triển dịch vụ, phát triển mạng lưới
máy rút tiền tự động ATM, Thực hiện giải pháp này không những huy động được
khối lượng vốn rất lớn trong xã hội vào hệ thống ngân hàng mà còn tiết kiệm các
khoản chi khổng lồ cho các hoạt động tiền mặt, góp phần hạn chế tham nhũng, tiêu
cực trong xã hội.
- Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước. Việc tạo môi
trường cạnh tranh bình đẳng, thông thoáng và lành mạnh cho các NHTM và tổ chức