sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn tập làm văn lớp 5 - Pdf 26


Người viết: Huỳnh Thị Hậu Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn tập làm văn lớp 5

MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU:
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
II. MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
III. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
IV. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU:
V. CƠ SỞ LÍ LUẬN KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN:
1. Cơ sở lí luận khoa học:
2. Cơ sở thực tiễn:
VI. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN:
B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I. THỰC TRẠNG VÀ MÂU THUẪN:
1. Thực trạng:
2. Mâu thuẫn:
II. CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1. Cung cấp vốn từ ngữ cho học sinh:
2. Mở rộng câu đúng thành câu hay:
3. Tìm hiểu cấu tạo bài văn tả cảnh hoặc tả người;
4. Phân tích các văn bản mẫu:
5. Quan sát lập dàn ý chi tiết:
6. Chuyển một phần dàn ý thành đoạn văn:
7. Viết thành bài văn hoàn chỉnh:
8. Bộc lộ cảm xúc trong bài văn:
III. HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG:
1. Đối với giáo viên: .
2. Đối với học sinh:
C.KẾT LUẬN
I. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI ĐỐI VỚI CÔNG TÁC:

từ trong thực tiễn giảng dạy, bản thân tôi đã đúc kết cho mình một số kinh nghiệm về
dạy học phân môn Tập làm văn lớp 5. Với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc
nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường nói chung và chất lượng của học sinh
trong việc học phân môn Tập làm văn nói riêng. Từ những kinh nghiệm được tích lũy
trong thực tiễn đó, tôi xin trình bày thành đề tài sáng kiến cụ thể là: “Một số biện pháp
giúp học sinh học tốt phân môn Tập làm văn lớp 5”. Mặc dù chỉ là sáng kiến của cá
nhân, sau khi được áp dụng vào thực tế giảng dạy học sinh của lớp mình phụ trách, đã
đạt được một số kết quả tốt hơn.
Năm học 2013 - 2014 Trang 2

Người viết: Huỳnh Thị Hậu Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn tập làm văn lớp 5
II. MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Mục đích:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất một số biện pháp, qua việc đổi mới
phương pháp dạy phân môn Tập làm văn ở lớp 5, nhằm giúp học sinh học Tập làm văn
một cách tốt hơn. Qua đó cũng góp phần giúp các em học tốt các môn học khác.
2. Phương pháp:
- Giáo viên nghiên cứu Sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu tham khảo,
chuẩn bị kế hoạch thực hiện cụ thể trong từng tiết dạy.
- Giáo viên hướng dẫn, gợi ý cho học sinh học tập trên lớp.
- Giáo viên dẫn dắt, gợi mở và minh họa bằng đồ dùng học tập ( tranh ảnh, vật
thật…).
- Giáo viên thống kê số liệu, tỉ lệ kết quả của học sinh lớp dạy trong hai năm học
trước và khảo sát đầu năm học của lớp dạy trong năm học này.
- Giáo viên phân tích và xử lý số liệu để so sánh, đối chiếu để thấy hiệu quả ứng
dụng sáng kiến mới trong quá trình giảng dạy.
III. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Phạm vi nghiên cứu là học sinh lớp 5C Trường Tiểu học Sơn Đông. Phân môn
Tập làm văn trong chương trình lớp 5 có nhiều thể loại, đề tài này chỉ trình bày về kinh
nghiệm dạy Tập làm văn miêu tả.

2. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Để thấy rõ hơn thực tế hiệu quả khi áp dụng sáng kiến bằng một số giải pháp cụ
thể. Tôi đã thống kê bằng hình thức so sánh, đối chiếu kết qủa của năm học trước. Từ
đó làm cơ sở thực tiễn để có kế hoạch thực hiện dạy Tập làm văn lớp 5 tốt hơn.
Trong năm học: 2012- 2013, tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công
giảng dạy lớp 5C với sĩ số là 24 học sinh. Qua kết quả thi khảo sát đầu năm, tôi thống
kê được chất kết quả học sinh qua việc học phân môn Tập làm văn như sau:
Bảng 2.1. Khảo sát đánh giá chất lượng đầu năm học 2012-2013:
Tổng
số HS
Giỏi Khá Trung bình Yếu
Số
lượng
Tỉ lệ % Số
lượng
Tỉ lệ % Số
lượng
Tỉ lệ % Số
lượng
Tỉ lệ %
24 2 8.35 3 12.5 14 58.35 5 20.8
Nhận xét: Từ bảng 2.1 cho thấy tỉ lệ học sinh Khá – Giỏi thấp, tỉ lệ học sinh yếu
và học sinh TB chiếm tỉ lệ cao.
Qua một năm tìm tòi, sáng kiến các biện pháp rèn kĩ năng viết văn cho học sinh,
tôi nhận thấy các em có nhiều tiến bộ, kết quả đạt được cuối năm học như sau:
Bảng 2.2. Khảo sát đánh giá chất lượng cuối năm học 2012-2013:
Tổng
số HS
Giỏi Khá Trung bình Yếu
Số

Tỉ lệ %
24 2 8.35 4 16.65 14 58.35 4 16.65
Nhận xét: Từ bảng VI cho thấy tỉ lệ học sinh Khá – Giỏi thấp bằng tỉ lệ học sinh yếu
và học sinh TB chiếm tỉ lệ cao.
B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I. THỰC TRẠNG VÀ MÂU THUẪN:
1. Thực trạng:
* Trước khi áp dụng:
Qua một thời gian giảng dạy phân môn Tập làm văn theo chương trình sách giáo
khoa mới, tôi nhận thấy việc dạy và học phân môn Tập làm văn có một số khó khăn
nhất định đó là:
- Đa số học sinh tỏ ra lúng túng khi làm bài, do vốn từ ngữ của các em còn nhiều
hạn chế, chưa biết cách mở rộng câu đúng thành câu hay.
- Các em chưa nắm chắc cách trình bày bài văn.
- Chưa biết cách sử dụng câu nêu ý chính bao trùm cho cả đoạn văn, cách
chuyển ý giữa các đoạn, làm cho các đoạn văn trong bài văn còn rời rạc và chưa logic.
- Trong khi viết các em chưa biết cách sáng tạo và bộc lộ cảm xúc của mình.
- Một số em sử dụng biện pháp so sánh nhưng còn cứng nhắc.
* Sau khi áp dụng:
Từ những lí do trên, là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 5C trong năm học
2013-2014 này. Tôi lại vận dụng những giải pháp mà bản thân sáng kiến và thử
nghiệm trong năm học trước. Đồng thời linh hoạt điều chỉnh một số giải pháp cho phù
hợp với đối tượng học sinh, nhằm đạt được mục tiêu mà bản thân đề ra, góp phần nâng
cao hiệu quả giảng dạy trong năm học này và những năm học tới.
2. Mâu thuẫn:
Trong chương trình hướng dẫn giảng dạy phần Tập làm văn lớp 5 cũng đặt ra
một số vấn đề cơ bản, từ đó giáo viên vận dụng vào mỗi tiết học. Nhưng thực tế giảng
dạy có nhiều đối tượng học sinh với những khả năng khác nhau. Đòi hỏi muốn giảng
dạy có hiệu quả, đòi hỏi giáo viên phải tìm tòi, sáng kiến. Khi nghiên cứu chương trình
Năm học 2013 - 2014 Trang 5

Ở lớp 5 để viết bài văn miêu tả, học sinh thường trải qua các khâu cơ bản là:
- Tìm hiểu cấu tạo của bài văn tả cảnh hoặc tả người.
- Phân tích các văn bản mẫu.
- Quan sát lập dàn ý chi tiết.
- Viết thành bài văn hoàn chỉnh.
- Học tập, rút kinh nghiệm qua giờ trả bài.
Để tiến hành mỗi hoạt động trong từng tiết học có hiệu quả, giáo viên lần lượt
phải thực hiện linh hoạt các bước sau:
Năm học 2013 - 2014 Trang 6

Người viết: Huỳnh Thị Hậu Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn tập làm văn lớp 5
1. Cung cấp vốn từ ngữ cho học sinh:
Để học sinh học tốt phân môn Tập làm văn, trước hết thực hiện yêu cầu của đề
bài nào đó, qua đó giáo viên cần giúp hoc sinh hệ thống hóa các từ ngữ thuộc chủ đề
bài học, để học sinh có vốn từ ngữ khi vận dụng vào làm bài. Từ đó giúp các em đỡ
lúng túng khi sử dụng từ ngữ khi viết.
Ví dụ: Khi dạy bài Tập làm văn: Viết một đoạn văn tả cảnh sông nước ( Tiếng
Việt 5- Tập 1- trang 74).
Giáo viên cần giúp học sinh hệ thống hóa các từ ngữ thuộc chủ đề sông nước
như: lăn tăn; êm đềm ; man mác; quanh co, xanh thẳm, lung linh…
2. Mở rộng câu đúng thành câu hay:
Do kĩ năng đặt câu của học sinh còn nhiều hạn chế, nên giáo viên cần giúp cho
các em ôn luyện cách đặt câu đúng, và biết cách mở rộng thành câu hay để sử dụng
trong bài văn.
Ví dụ: Khi dạy bài : Viết đoạn văn tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều)
trong vườn cây (hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy).
( Tiếng Việt 5- Tập 1- trang 22). Sau khi giúp học sinh xác định đề bài, giáo viên cần
giúp các em cách đặt câu đúng và từ câu đúng mở rộng thành câu hay vận dụng vào
bài làm.
+ Chẳng hạn: Mặt trời mọc (câu đúng). Mở rộng: “Ở chân trời phía Đông, ông

- Cách tiến hành bài này là :
+ Cho học sinh đọc lần lượt từng bài văn.
+ Giáo viên giới thiệu tranh ảnh về rừng tràm cho học sinh quan sát.
+ Cho học sinh nêu ý kiến về hình ảnh mà các em thích trong mỗi bài văn. Có
thể yêu cầu các em nêu lí do vì sao mình thích hình ảnh đó.
- Giáo viên cần tôn trọng ý kiến học sinh, đặc biệt khen ngợi những em tìm
được những hình ảnh đẹp.
- Sau cùng, giáo viên chốt lại những hình ảnh đẹp từng bài văn và hướng cho
học sinh đưa ra những hình ảnh đẹp vào bài văn miêu tả.
5. Quan sát lập dàn ý chi tiết:
Để làm tốt được bài văn miêu tả, giáo viên yêu cầu học sinh có sự chuẩn bị bài
trước khi đến lớp. Đó là nhắc các em quan sát kĩ cảnh vật, sự vật hoặc một người nào
đó trước khi vào học bài mới, điều này giáo viên nhắc nhở các em trong phần dặn dò
cuối buổi học. Bởi học sinh hay nghĩ rằng với cảnh vật quen thuộc hàng ngày, thì
không cần quan sát lại, điều này là hoàn toàn sai lầm. Sự tiếp xúc hằng ngày chỉ cho ta
nhận biết hời hợt, chung chung, chưa toàn diện. Có quan sát kĩ nhiều mặt, nhiều lượt
bằng nhiều giác quan thì mới có những hiểu biết đầy đủ, phong phú và chính xác.
Quan sát trực tiếp còn cho ta cảm xúc “ nóng hổi” để đưa vào bài viết, tránh được sự
tẻ nhạt.
Bên cạnh, giáo viên cần nhắc các em quan sát phải đi đôi với việc tìm từ ngữ để
diễn tả đúng và sinh động điều đã quan sát được.
Cân nhắc để lựa chọn được một thứ tự sắp xếp các chi tiết sẽ tả mà mình coi là
thích hợp hơn cả.
Khi vào học bài mới, giáo vên luôn luôn nhắc học sinh nhớ: Mỗi bài văn cần có
bố cục 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài. Với mỗi bài văn, công việc đầu tiên của tôi là
Năm học 2013 - 2014 Trang 8

Người viết: Huỳnh Thị Hậu Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn tập làm văn lớp 5
yêu cầu học sinh tìm hiểu đề bài, học sinh đọc kĩ đề bài nhiều lần rồi trả lời các câu hỏi
về vấn đề chính trong đề bài. Đề bài thuộc thể loại gì? Đề bài yêu cầu tả gì?

Để học sinh diễn đạt bài văn của mình một cách sinh động, có nghệ thuật, các
em thường được trau dồi qua tiết học “Chuyển một phần dàn ý thành đoạn văn”.
- “Một phần của dàn ý” có thể là mở bài, kết bài, cũng có thể là một phần của
thân bài.
Năm học 2013 - 2014 Trang 9

Người viết: Huỳnh Thị Hậu Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn tập làm văn lớp 5
- Phần này, giáo viên cần nhắc nhở các em vận dụng cách mở rộng câu đúng
thành câu hay để đưa vào bài văn.
* Phần mở bài:
Các em có thể mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp, có em có thể mở bài chỉ bằng
một câu, nhưng cũng có em mở bài bằng cả một đoạn văn. Nhưng không ai được tách
rời nội dung đã xây dựng được. Ở đây, tùy nghệ thuật vào bài văn của mỗi em mà giáo
viên góp ý không nên gò bó áp đặt.
Ví dụ:
* Đề bài: “…Miêu tả một cảnh sông nước (Một vùng biển, một con sông, một
con suối hay một hồ nước) (Tiếng việt 5- Tập một - Trang 62).
- Có em mở bài thẳng luôn vào đề: “Quê em có một con suối rất đẹp”.
- Có em mở bài rất sinh động: “Mỗi miền quê có một vẻ đẹp riêng. Quê hương
tôi có một dòng suối hiền hòa quanh năm nước chảy”.
Nhờ khuyến khích học sinh diễn đạt phần mở bài bằng những cách khác nhau,
mà vẫn đảm bảo nội dung chính, các em đã viết được nhiều bài văn hay, có tính nghệ
thuật.
* Phần thân bài:
- Đa phần các em rơi vào tình trạng liệt kê các chi tiết của cảnh, hoặc của người.
Ví dụ: Mẹ em có mái tóc dài, dáng người cao, hàm răng trắng,…Vì vậy giáo
viên cần lưu ý cách mở rộng câu đúng thành câu hay, để học sinh vận dụng thì bài văn
sẽ hay hơn.
- Điều quan trọng là lưu ý cho học sinh phải bám vào các chi tiết đã lập ở dàn
bài, để chuyển thành bài văn, đoạn văn. Tránh một số trường hợp học sinh viết bài văn

vai. Mỗi khi chị cười để lộ hành răng trắng đều như hạt bắp. Chị em có làn da ngăm
đen nhưng trông chị rất có duyên.
- Tương tự, trong các đề bài khác giáo viên cũng nên hướng dẫn cho các em:
+ Cô hiền như cô Tấm trong truyện cổ tích.
+ Mái tóc của bà trắng như mái tóc của các diễn viên trong tuồng chèo.
- Ngoài ra, giáo viên nên kết hợp những câu hỏi gợi ý để giúp học sinh bổ sung,
sửa chữa các câu văn, đoạn văn chưa sử dụng biền pháp nghệ thuật.
8. Bộc lộ cảm xúc trong bài văn:
- Ngoài việc giúp học sinh sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong các câu văn,
giáo viên cần giúp học sinh biết bộc lộ cảm xúc trong bài văn. Bởi một bài văn hay
không thể thiếu được cảm xúc của người viết. Cảm xúc không chỉ bộc lộ ở phần kết
bài, mà còn cần thể
hiện trong từng câu, từn đoạn của bài văn. Điều này chúng ta cần gợi ý cho các em một
cách cụ thể trong từng bài.
Ví dụ:
- Được sống với ông bà em thấy như thế nào?
(Bà gần gũi, chăm sóc em chu đáo như một bà tiên hiền hậu, em luôn giúp bà
làm mọi việc để bà đỡ vất vả).
- Được bà chăm sóc hằng ngày em nghĩ gì?
Năm học 2013 - 2014 Trang 11

Người viết: Huỳnh Thị Hậu Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn tập làm văn lớp 5
(Tình cảm gần gũi thương yêu của bà, như chắp cánh cho em vững bước trong
cuộc đời)
Tương tự như vậy, tôi yêu cầu học sinh đưa ra những suy nghĩ, cảm xúc nhận
xét trước một sự vật, hay một hiện tượng bất kì. Bài văn của học sinh tránh được
những nhược điểm khô khan, liệt kê sự việc, mà ngược lại thể hiện cảm xúc dồi dào
của người viết.
III. HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG:
1. Đối với giáo viên: Đề tài đã được vận dụng vào quá trình giảng dạy, tạo sự hứng

lớp tôi đạt chất lượng tốt hơn, nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong sáng kiến. Để góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
C. KẾT LUẬN
I. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI ĐỐI VỚI CÔNG TÁC:
Tập làm văn là phân môn tổng hợp của tất cả các môn trong phân môn Tiếng
Việt. Học tốt tập làm văn giúp các em có nền tảng vững chắc để học tốt các môn học
Năm học 2013 - 2014 Trang 12

Người viết: Huỳnh Thị Hậu Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn tập làm văn lớp 5
khác. Với việc nghiên cứu và áp dụng những biện pháp của đề tài này, tôi thấy bước
đầu mang lại kết quả tốt.
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM, HƯỚNG PHÁT TRIỂN:
Tuy nhiên học tập là một quá trình, muốn đạt được kết quả cần có sự hợp tác từ
nhiều phía, đặc biệt là học sinh và giáo viên. Hơn nữa, học tập làm văn cần có sự tích
hợp của nhiều môn khác, các em phải có vốn hiểu biết về các hiện tượng tự nhiên và
xã hội xung quanh chúng ta, thì các em mới đưa các hình ảnh, các dẫn chứng vào bài
văn của mình, để bài văn sinh động, hấp dẫn hơn. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng
học tập làm văn của học sinh lớp 5, làm nền tảng cho việc học tốt các môn học khác,
đáp ứng nhu cầu về chất lượng mà xã hội đặt ra cho ngành Giáo dục trong giai đoạn
hiện nay.
III. ĐỀ XUẤT: Dù sao đề tài trên cũng chỉ là sáng kiến mang tính cá nhân, nên không
thể tránh khỏi những hạn chế. Vậy kính mong quý thầy cô đón nhận và đóng góp ý
kiến, để đề tài được hoàn thiện hơn và để thu được kết quả tốt hơn.
Hòa Sơn, ngày 05/12/2013
Người trình bày
Huỳnh Thị Hậu
Năm học 2013 - 2014 Trang 13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status