Đồ án ứng dụng quản trị học trong kinh doanh đề tài “ kinh doanh theo hình thức franchise” - Pdf 26

Đồ án ứng dụng quản trị học trong kinh doanh – Trường ĐH BK HN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
BÁO CÁO
Đồ án ứng dụng quản trị học trong kinh doanh
Đề tài : “ Kinh doanh theo hình thức Franchise”
GVHD : Th.s Nguyễn Quang Chương
Sinh viên thực hiện : Lê Thị Duyên
Lớp : KTCN - K55
MSSV : 20106251
Hà Nội , 10 - 2013
SVTH: Lê Thị Duyên – KTCN K55 Page 1
Đồ án ứng dụng quản trị học trong kinh doanh – Trường ĐH BK HN
ntents MỤC LỤC
Lời Mở Đầu.
Bạn có thể đến bất kỳ một nước nào trên thế giới cũng có thể một loại gà rán
KFC hay một loại bánh Mc Donald như nhau. Những nhãn hiệu nổi tiếng này đã trở thành
quen thuộc với người tiêu dùng trên thế giới. Tuy nhiên ít ai để ý rằng bí quyết thành
công của họ là phương thức kinh doanh Franchise.
Franchise_Phương thức kinh doanh của tương lai.Franchise khởi nguồn từ Hoa
Kì giữa thế kỉ 19. Hơn 550000 franchisie với doanh thu lên tới 1503 tỷ USD, chiếm 40%
tổng doanh thu bán lẻ của nước này. Trung bình cứ 12 phút lại có 1 Franchise ra đời. Ở
Anh , Franchise là một trong những hoạt động tăng trưởng nhanh nhất của nền kinh tế với
khoảng 32000 doanh nghiệp nhượng quyền. Doanh thu mỗi năm 8,9 tỷ bảng Anh, thu hút
SVTH: Lê Thị Duyên – KTCN K55 Page 2
Đồ án ứng dụng quản trị học trong kinh doanh – Trường ĐH BK HN
317000 lao động và chiếm 29% thị phần bán lẻ. Điều đó như một minh chứng cho sức
mạnh của franchise_ phương thức đầu tư khôn ngoan và chắc chắn nhất.
Franchise là hình thức kinh doanh mới đã tạo nên bức tranh sống động của nền
kinh tế thế giới. Hình thức này không ngừng mở rộng và phát huy tính hiệu quả trong
kinh doanh.

quốc tế cũng như quốc gia đã lần lượt ra đời nhằm bảo vệ lợi ích cho các bên tham gia và
đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của phương thức kinh doanh này.
1.1.2 Khái niệm Franchise
Nhượng quyền thương mại là một hình thức kinh doanh đã được nhiều nước trên
thế giới áp dụng. Đã có nhiều khái niệm được nêu ra của nhiều trường phái khác nhau
nhằm giải thích, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện họat động kinh doanh nhượng
quyền đạt hiệu quả. Tuy nhiên, do sự khác biệt về quan điểm và môi trường kinh tế, chính
trị, xã hội giữa các quốc gia, nên các khái niệm này thường khác nhau.
Một số khái niệm về Franchise:
Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh Quốc tế (The International Franchise
Association) là hiệp hội lớn nhất nước Mỹ và thế giới đã nêu ra Khái niệm nhượng quyền
thương mại như sau: "Nhượng quyền thương mại là mối quan hệ theo hợp đồng, giữa
Bên giao và Bên nhận quyền, theo đó Bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên
tục tới doanh nghiệp của Bên nhận trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh(know-
how), đào tạo nhân viên; Bên nhận hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phương thức,
phương pháp kinh doanh do Bên giao sở hữu hoặc kiểm soát; và Bên nhận đang, hoặc sẽ
tiến hành đầu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình".
Khái niệm của Uỷ ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (the US Federal Trade
Commission - FTC): Khái niệm một hợp đồng nhượng quyền thương mại là hợp đồng
theo đó Bên giao:
SVTH: Lê Thị Duyên – KTCN K55 Page 4
Đồ án ứng dụng quản trị học trong kinh doanh – Trường ĐH BK HN
(i) hỗ trợ đáng kể cho Bên nhận trong việc điều hành doanh nghiệp hoặc kiểm soát chặt
chẽ phương pháp điều hành doanh nghiệp của Bên nhận.
(ii) li-xăng nhãn hiệu cho Bên nhận để phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ theo nhãn hiệu
hàng hóa của Bên giao và
(iii) yêu cầu Bên nhận thanh toán cho Bên giao một khoản phí tối thiểu.
Khái niệm nhượng quyền thương mại của Cộng đồng chung Châu Âu EC (nay là
liên minh Châu Âu EU). Khái niệm quyền thương mại là một "tập hợp những quyền sở
hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, biển

qua bên nhượng quyền của khu vực) và phí bản quyền (royalty fee) khi kinh doanh
hoặc cũng có một số hệ thống nhượng quyền thu phí cố định trả một lần trong thời
gian nhượng quyền. Bên nhượng quyền sẽ đem lại cho bên nhận quyền sử dụng
nhãn hiệu. Tuy nhiên, bên nhận quyền vẫn phải chịu sự kiểm soát trong quá trình
kinh doanh dưới nhãn hiệu đã đăng kí.
Nhượng quyền thương mại tại Việt Nam:
Luật Thương mại 2006 (có hiệu lực ngày 01/01/2006) lần đầu tiên quy định về
NQTM. Điều 284 quy định: “Nhượng quyền thương mại” là hoạt động Thương mại, theo
đó Bên Nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây :
• Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức
tổ chức kinh doanh do Bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa,
tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh,
quảng cáo của Bên nhượng quyền.
• Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền
trong việc điều hành công việc kinh doanh.
Các khái niệm trên về nhượng quyền thương mại đều dựa trên quan điểm cụ thể
của các nhà làm luật mỗi nước. Tuy nhiên, có thể thấy rằng điểm chung trong tất cả
SVTH: Lê Thị Duyên – KTCN K55 Page 6
Đồ án ứng dụng quản trị học trong kinh doanh – Trường ĐH BK HN
những khái niệm này là việc một bên độc lập (Bên nhận) phân phối (marketing) sản
phẩm, hoặc dịch vụ dưới nhãn hiệu hàng hóa, các đối tượng khác của các quyền sở hữu trí
tuệ, và hệ thống kinh doanh đồng bộ do một bên khác (Bên giao) phát triển và sở hữu. Để
được phép làm việc này, bên nhận phải trả những phí và chấp nhận một số hạn chế do bên
giao quy định.
Các quốc gia trên thế giới đã hình thành và phát triển một cách hợp lý các vấn đề
pháp lý liên quan tới họat động nhượng quyền. Do vậy, những cái tên như: Kentucky,
Burger Khan, Five Star Chicken, Jollibee, Carvel, Baskin Robbins, Texas Chicken,
Kentucky Fried Chicken, Hard Rock Café, Chili's không những chỉ xuất hiện tại các nước
sở tại mà còn vươn xa đến rất nhiều nước trên thế giới trở thành những hệ thống nhượng

hành hoạt động kinh doanh bằng vốn của mình dưới sự hỗ trợ thường xuyên của bên giao.
1.2. Hình thức của franchaise
Trong thực tiễn, Franchise là một phương thức kinh doanh có rất nhiều hình thức.
Căn cứ vào mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, người ta thường
phân chia franchise theo bản chất và hình thức hoạt động (hình thức bán franchise) của
nó.
• Theo bản chất hoạt động, có hai hình thức franchise sau:
- Nhượng quyền phân phối sản phẩm (Product distribution franchise)
Trong hình thức này, bên nhượng quyền sản xuất ra các sản phẩm sau đó bán lại sản
phẩm cho bên nhận quyền và bên nhận quyền sẽ phân phối trực tiếp sản phẩm tới người
tiêu dùng dưới thương hiệu của bên nhượng quyền. Bên nhận quyền thường không nhận
được sự hỗ trợ đáng kể nào từ phía bên nhượng quyền ngoại trừ việc được phép sử dụng
thương hiệu (brand name), biểu tượng (logo), khẩu hiệu (slogan) và phân phối sản phẩm
của bên nhượng quyền trong một phạm vi khu vực và thời gian nhất định.
SVTH: Lê Thị Duyên – KTCN K55 Page 8
Đồ án ứng dụng quản trị học trong kinh doanh – Trường ĐH BK HN
- Nhượng quyền công thức kinh doanh (Business format franchise)
Theo hình thức này, bên nhận quyền ngoài việc bán hàng hóa, dịch vụ với thương hiệu
của bên nhượng quyền còn được giao cả bí quyết sản xuất, bí quyết kinh doanh, công thức
điều hành quản lí. Các chuẩn mực của mô hính kinh doanh phải tuyệt đối được giữ đúng.
Mối liên hệ và hợp tác giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền phải rất chặt chẽ và
lien tục. Hình thức nhượng quyền công thức kinh doanh được xem là hình thức nhượng
quyền phổ biến và hiệu quả nhất hiện nay.
• Theo hình thức hoạt động, có ba hình thức franchise sau:
- Đại lí Franchise độc quyền (Master franchise):
Đây là hình thức mà trong đó bên nhượng quyền và bên nhận quyền đều ở các quốc gia
khác nhau. Bên mua được phép độc quyền kinh doanh và phân phối hàng hóa tại một khu
vực nhất định, có thể là trong phạm vi một thành phố hay một quốc gia. Đổi lại, bên mua
sẽ phải trả một khoản phí franchise ban đầu cao hơn nhiều so với hợp đồng mua franchise
riêng lẻ.

doanh nhượng quyền thương mại bởi nó đòi hỏi sự hợp tác và tin cậy lẫn nhau của các
thành viên tham gia.
1.4.Đặc điểm của nhượng quyền thương mại
- Nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại. Việc xác định đấy là một
hoạt động thương mại có ý nghĩa quan trọng trong việc khẳng định mục đích sinh lợi của
hoạt động này. Xác định luật áp dụng là luật thương mại và xác đinh cơ quan tài phán
trong trương hợp có tranh chấp, trong trường hợp này là tòa kinh tế.
- Nhượng quyền thương mại được thể hiện thông qua hợp đồng. Hợp đồng nhượng
quyền thương mại là văn bản xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên tham gia
giao dịch. Hợp đồng sẽ quy định những gì bên nhượng quyền cũng như bên nhận quyền
được phép làm và có nghĩa vụ phải làm. Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương
mại đặc trưng mà nội dung của nó bao hàm nhiều vấn đề nêu trong nhiều văn bản pháp lý
khác nhau như vấn đề về sở hữu trí tuệ nêu trong luật dân sự, luật sở hữu trí tuệ, vấn đề về
quảng cáo nêu trong pháp lệnh quảng cáo…
- Bên nhượng quyền là bên đang sở hữu hoặc đang kiểm soát một phương thức kinh
doanh và đối tượng của sở hữu trí tuệ liên quan đến việc kinh doanh. Để có thể nhượng
SVTH: Lê Thị Duyên – KTCN K55 Page 10
Đồ án ứng dụng quản trị học trong kinh doanh – Trường ĐH BK HN
quyền, bên nhượng quyền phải đang sở hữu hoặc kiểm soát một phương thức kinh doanh
có hiệu quả cùng với đối tượng sở hữu trí tuệ liên quan đến phương thức kinh doanh đó.
- Bên nhận quyền là một bên độc lập so với bên nhượng quyền. Đây là một nét đặc
trưng riêng của nhượng quyền thương mại. Bên nhận quyền có quan hệ về sở hữu đối với
bên nhượng quyền. Quan hệ giữa hai bên là quan hệ hợp đồng thương mại và bên nhận
quyền phải trả phí cho những dịch vụ mà bên nhượng quyền cung cấp và bên nhận quyền
tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình.
- Việc nhượng quyền nhằm thực hiện các hoạt động phân phối hàng hóa và dịch vụ,
không điều chỉnh các hoạt động liên quan đến li-xăng công nghiệp.
- Bên cạnh việc chuyển giao cho bên nhận quyền phương thức kinh doanh và quyền sử
dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ ở giai đoạn ban đầu, bên nhượng quyền còn có quyền và
nghĩa vụ kiểm soát và trợ giúp đáng kể, thường xuyên hoạt động kinh doanh của bên nhận

nhượng quyền xây dựng được một ngân sách quảng cáo lớn. Đặc biệt tạo dựng được hình
ảnh của thương hiệu đối với khách hàng giúp cho bên nhượng quyền và nhận quyền ngày
càng thu được nhiều lợi nhuận.
Bốn là - tối đa hóa thu nhập. Khi nhượng quyền, bên nhận quyền phải trả tiền
bản quyền thuê thương hiệu và tiền phí kinh doanh với tên và hệ thống của bên nhượng
quyền, bên nhận quyền còn phải mua sản phẩm và nguyên liệu của bên nhượng quyền
nhờ đó mà bên nhượng quyền có thể tối đa hóa được thu nhập của mình. Chủ thương hiệu
có thể nhận được các khoản tiền sau đấy từ việc bán franchise:
- Phí chuyển nhượng quyền ban đầu: phí này chỉ được tính một lần. Đấy là khoản phí
hành chính, đào tạo, chuyển giao phương thức kinh doanh cho bên mua franchise
- Phí hàng tháng: là phí mà bên mua franchise phải trả cho việc duy trì nhãn hiệu,
thương hiệu của bên bán franchise và dịch vụ hỗ trợ mang tích chất tiếp diễn liên tục như
SVTH: Lê Thị Duyên – KTCN K55 Page 12
Đồ án ứng dụng quản trị học trong kinh doanh – Trường ĐH BK HN
việc huấn luyện nhân viên, tiếp thị, quảng bá, nghiên cứu….phí này có thể là khoản phí
cố định theo sự thỏa thuận của hai bên hoặc tính theo phần trăm trên doanh số của bên
mua franchise và thường dao động trung bình từ 3 - 6% tùy vào loại sản phẩm mô hình
và lĩnh vực kinh doanh còn ở Việt Nam từ 2 – 3% mức phí trên tổng doanh thu của các
franchisor Việt Nam : Trung Nguyên 2%, Phở 24 là 3%, Tapiocups là 2%
- Tiền bán hàng nguyên liệu đặc thù: Nhiều chủ thương hiệu yêu cầu các đối tác mua
franchise của mình phải mua một số nguyên liệu đặc thù do mình cung cấp, để đảm bảo
tính đồng bộ của sản phẩm và mang lại nguồn thu cho mình. Ví dụ như Mc Donald’s
cung cấp và bán cho các cửa hàng nhượng quyền của mình khoai tây chiên, pho mát, bánh
táo….
Năm là - tận dụng nguồn nhân lực. Bên nhận quyền sẽ là người bỏ vốn ra kinh
doanh điều này tạo động lực cho họ làm việc tốt hơn. Vì khi bên nhận quyền họ là chủ
nên họ sẽ làm việc có trách nhiệm hơn. Vì vậy bên nhượng quyền tận dụng được nguồn
lực từ phía bên nhận quyền và đặc biệt bên nhận quyền có thể tiếp cận những địa điểm mà
bên nhượng quyền không thể tiếp cận được và họ còn nắm vững thông tin về địa phương
hơn bên nhượng quyền

thì chủ thương hiệu thường đứng vai trò cầu nối giúp người mua franchise mượn tiền
ngân hàng hoặc chính mình đứng ra cho vay, nhằm phát triển và nhân rộng mô hình kinh
doanh nhanh hơn. Điều này chưa xảy ra tại Việt Nam do hình thức kinh doanh chưa phổ
biến và chủ trương cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ của hệ thống ngân hàng còn
nhiều giới hạn.
1.5.2 Nhược điểm của Franchise
Nhược điểm lớn nhất của nhượng quyền chính là sự phụ thuộc:
Đối với Bên bán nhượng quyền:
• Uy tín và thương hiệu của sản phẩm cũng như doanh nghiệp sẽ bị phụ
thuộc vào sự lớn mạnh của đối tác mua nhượng quyền.
SVTH: Lê Thị Duyên – KTCN K55 Page 14
Đồ án ứng dụng quản trị học trong kinh doanh – Trường ĐH BK HN
• Việc hỗ trợ xây dựng các đối tác mua nhượng quyền sẽ suy giảm tính chủ
động trong nguồn vốn tài chính nếu có vấn đề xảy ra.
• Việc quản lý chất lượng sản phầm cũng khó khăn hơn.
• Bảo vệ bí quyết kinh doanh, quản lý đều khó khăn hơn.
• Cần có hợp đồng nhượng quyền hợp lý và chặt chẽ thì mới tạo điều kiện
linh hoạt cho bên mua nhượng quyền phát triển đồng thời không ảnh hưởng tới bên bán
nhượng quyền.
Đối với bên mua nhượng quyền:
• Giảm tính linh hoạt trong hoạt động phân phối sản phẩm, điều chỉnh giá
cả nhất là khi các địa phương và các khách hàng cần có những chiến lược giá khác nhau.
• Phụ thuộc vào các ràng buộc với bên bán nhượng quyền
• Nếu như bên bán nhượng quyền gặp vấn đề bất lợi thì bên mua nhượng
quyền cũng bị ảnh hưởng.
Ngoài ra, hợp đồng nhượng quyền không chặt chẽ sẽ gây khó khăn cho doanh
nghiệp, khó thích nghi với tình hình trượt giá của thị trường hơn nếu không có điều chỉnh
giá và chia phần lợi nhuận hợp lý.
1.6. Pháp luật điều chỉnh về nhượng quyền
Thế giới:

nay, việc điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại được quy định chủ yếu tại:
- Luật Thương mại 2005 (Chương VI – Mục 8 về nhượng quyền thương mại).
- Nghị định 35/2006/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 31/3//2006 để quy
định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền thương mại.
- Thông tư 09/2006/TT-BTM do Bộ Thương mại ban hành ngày 25/5/2006 để
hướng dẫn thủ tục đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại.
SVTH: Lê Thị Duyên – KTCN K55 Page 16
Đồ án ứng dụng quản trị học trong kinh doanh – Trường ĐH BK HN
Ngoài ra, nếu việc nhượng quyền thương mại có liên quan đến việc chuyển giao
quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, thì còn phải chịu sự điều
chỉnh bổ sung của Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Luật Chuyển giao công nghệ 2006.
Trước đây, theo pháp luật Việt Nam thì hoạt động Franchise được gọi chính thức
là cấp phép đặc quyền kinh doanh thuộc hoạt động chuyển giao công nghệ có đối tượng
sở hữu công nghiệp. Do đó, hoạt động nhượng quyền này vừa phải đăng ký Hợp đồng
chuyển giao công nghệ. Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng; các đối
tượng sở hữu công nghiệp theo quy định pháp luật về sở hữu công nghiệp mà cả 2 loại
hợp đồng này đều do cơ quan thuộc Bộ Khoa học công nghệ quản lý.
Hiện nay, Luật Thương mại (năm 2005) xác định rõ: Franchise là nhượng quyền thương
mại, là hoạt động thương mại (không phải là chuyển giao công nghệ như trước đây, điều
này phù hợp với tập quán thương mại thế giới). Và trước khi nhượng quyền thương mại,
Bên dự kiến nhượng quyền phải đăng ký với Bộ Thương mại thay cho việc đăng ký tại
Cục Sở hữu Trí tuệ như trước.
Chương 2: Thực trạng nhượng quyền thương mại
2.1 Trên thế giới
Nhượng quyền thương mại được thế giới nhìn nhận là khởi nguồn tại Mỹ nhưng
thực tế đã hình thành trước đó tại Trung Quốc với hình thức có 2 – 3 điểm bán lẻ cùng
hình thức tại một số địa điểm khác nhau cùng kinh doanh. Năm 1840, các nhà sản xuất
bia của Đức cho phép một vài quán bia quyền bán sản phẩm của họ. Năm 1851, lần đầu
tiên trên thế giới nhà sản xuất máy khâu Singer của Mỹ ký cho thực hiện hợp đồng
nhượng quyền kinh doanh. Singer đã ký hợp đồng nhượng quyền và trở thành người tiên

lao động lớn với khoảng 317.000 lao động và chiếm trên 29% thị phần bán lẻ.
IFA cho hay, nhượng quyền kinh doanh thương hiệu riêng ở khu vực châu Á đã tạo
doanh thu hơn 50 tỷ USD mỗi năm.
Ở Thái Lan số hợp đồng nhượng quyền đang tăng rất nhanh, trong đó có tới 67%
thuộc khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, với số vốn ban đầu cho mỗi hợp đồng 20.000-
65.000 USD. Bộ thương mại công bố chương trình khuyến khích và quảng bá thương
hiệu nội địa ra thị trường quốc tế qua nhượng quyền thương mại. Được hỗ trợ đào tạo
SVTH: Lê Thị Duyên – KTCN K55 Page 18
Đồ án ứng dụng quản trị học trong kinh doanh – Trường ĐH BK HN
trung và ngắn hạn về công nghệ nhượng quyền thương mại. Bước đầu: năm 2004 đạt 25
triệu Baht, năm 2005 tăng 10% tương tự các năm tiếp theo.
Tại Nhật Bản, nhượng quyền thương mại phát triển mạnh từ năm 1996, đến năm
2004 đó cú 1.074 hệ thống nhượng quyền thương mại và 220.710 cửa hàng nhận quyền
thương mại, doanh thu từ công nghệ nhượng quyền thương mại là khoảng 150 tỉ USD,
tăng trưởng hàng năm 7%.
Từ năm 1980, nhượng quyền thương mại vào Trung Quốc. Đến năm 2004, nước
này đó cú 2.100 hệ thống nhượng quyền (nhiều nhất thế giới), với 120.000 cửa hàng
nhượng quyền trong 60 lĩnh vực khác nhau. Biểu đồ tăng trưởng hoạt động nhượng quyền
của Trung Quốc dựng đứng kể từ khi nước này gia nhập WTO. Từ năm 2000, tại Trung
Quốc, bình quân mỗi năm hệ thống nhượng quyền tăng 38% vượt xa mức tăng trưởng
10%/năm của hàng tiêu dùng, các cửa hàng nhận nhượng quyền tăng 55%. Đặc biệt, hệ
thống nhượng quyền thương mại của doanh nghiệp Trung Quốc cạnh tranh ngang hàng
với thương hiệu nhượng quyền nổi tiếng của nước ngoài.
Ở Malaysia, nhìn thấy lợi ích của nhượng quyền thương mại từ 1992, Chính phủ
thành lập chương trình quốc gia về chuyển nhượng (Franchise Development Programe -
FDP) với 2 mục tiêu: Gia tăng số doanh nghiệp bán / mua nhượng quyền thương mại;
Thúc đẩy phát triển những sản phẩm / dịch vụ đặc thù nội địa thông qua nhượng quyền
thương mại.
Ở Úc, tổng cửa hàng nhượng quyền thương mại khoảng 54.000, đóng góp 12% vào
GDP và tạo hàng trăm ngàn việc làm cho người lao động.

cũng như sản phẩm mang thương hiệu Việt, cách phát triển và quảng bá thương hiệu cũng
như phát triển cộng tác.
Đối với tình hình đất nước hiện tại, khi mà khoa học công nghệ còn thua xa các
nước phát triển thì điều này rất quan trọng vì giúp công nghệ cao có thể xâm nhập thị
trường dễ dàng, qua đó mà phát triển các sản phẩm khác. Đồng thời điều này cũng thu hút
vốn đầu tư, phát triển các khu công nghiệp, thúc đẩy quá trình hiện đại hóa, chuyển giao
công nghệ và giải quyết vấn đề việc làm. Qua đó phát triển cơ sở hạ tầng đất nước.
SVTH: Lê Thị Duyên – KTCN K55 Page 20
Đồ án ứng dụng quản trị học trong kinh doanh – Trường ĐH BK HN
2.2.2 Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam:
Giữa thập niên 90, ở nước ta đã có một vài doanh nghiệp kinh doanh thiết bị lọc
nước do Việt kiều về đầu tư đã đưa ra hình thức nhượng quyền thương mại, nhưng thị
trường lúc bấy giờ chưa thực sự sôi động và bản thân thương hiệu của các doanh nghiệp
đó cũng chưa mấy nổi tiếng nên đã không thành công.
Trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO, nhượng quyền thương mại trở thành
một trong những phương thức kinh doanh quan trọng. Nhiều tập đoàn lớn của thế giới đã
“đổ bộ” vào thị trường Việt Nam tìm cơ hội phát triển thương hiệu: KFC, Lotteria,
Jollibee
Nhiều doanh nghiệp trong nước cũng áp dụng hình thức này để mở rộng thị phần.
Foci đã áp dụng nhượng quyền từ năm 1998 với 35 đối tác nhận nhượng quyền và đã mở
48 cửa hàng trên cả nước. Năm 2007, Foci có mặt tại tất cả địa phương và năm 2008 dự
kiến có tối thiểu 100 cửa hàng. 2007 Foci mở 7 cửa hàng tại Mỹ theo hình thức nhượng
quyền thương mại. Công ty Kinh Đô đã mở được 30 cửa hàng bánh Bakery, theo kế
hoạch sẽ có 100 cửa hàng và tiến đến mở rộng hình thức kinh doanh thành tiệm cà phê,
bánh ngọt và thức ăn nhanh Kinh Đô. Trà sữa trân châu Tapio đã mở được 10 cửa hàng
và đang cho ra mô hình mới là Grand Tapio – bán kèm thêm thức ăn nhanh.
Trong 3 - 4 năm trở lại đây, hình thức nhượng quyền thương mại với sự phát triển
các thương hiệu tên tuổi như Kinh Đô, Trung Nguyên, Lotteria, Phở 24 Theo ông
Patrick Ho Lock Yin - Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Kinh Đô, đến nay Kinh Đô có
mạng lưới 150 nhà phân phối và trên 30.000 điểm bán lẻ rộng khắp trên cả nước với

thành viên: Công ty cổ phần Trung Nguyên, công ty cổ phần cà phê hòa tan Trung
Nguyên, công ty TNHH cà phê Trung Nguyên, công ty cổ phần thương mại và dịch vụ
G7 và công ty liên doanh Vietnam Global Gateway (VGG) với các ngành nghề chính bao
gồm: sản xuất, chế biến, kinh doanh trà, cà phê; nhượng quyền thương hiệu và dịch vụ
phân phối, bán lẻ hiện đại. Trong tương lai, tập đoàn Trung Nguyên sẽ phát triển với 10
công ty thành viên, kinh doanh nhiều ngành nghề đa dạng.
Lịch sử hình thành và phát triển:
• 16/06/1996: Khởi nghiệp ở Buôn Ma Thuột (Sản xuất và kinh doanh trà, cà phê )
• 1998:Trung Nguyên xuất hiện ở TP.HCM bằng khẩu hiệu “Mang lại nguồn cảm
hứng sáng tạo mới” và con số 100 quán cà phê Trung Nguyên.
SVTH: Lê Thị Duyên – KTCN K55 Page 22
Đồ án ứng dụng quản trị học trong kinh doanh – Trường ĐH BK HN
• 2000: Đánh dấu sự phát triển bằng sự hiện diện tại Hà Nội và lần đầu tiên nhượng
quyền thương hiệu đến Nhật Bản
• 2001: Trung Nguyên có mặt trên khắp toàn quốc và tiếp tục nhượng quyền tại
Singapore và tiếp theo là Campuchia, Thái Lan
• 2002: Sản phẩm Trà Tiên ra đời
• 2003: Ra đời cà phê hòa tan G7 và xuất khẩu G7 đến các quốc gia phát triển
• 2004: Mở thêm quán cà phê Trung Nguyên tại Nhật Bản, mạng lưới 600 quán cà phê
tại VN, 121 nhà phân phối, 7000 điểm bán hàng và 59,000 cửa hàng bán lẻ sản phẩm
• 2005: Khánh thành nhà máy rang xay tại Buôn Ma Thuột và nhà máy cà phê hòa tan
lớn nhất Việt Nam tại Bình Dương với công suất rang xay là 10,000tấn/năm và cà phê
hòa tan là 3,000tấn/năm. Đạt chứng nhận EUREPGAP (Thực hành nông nghiệp tốt và
Chất lượng cà phê ngon) của thế giới. Chính thức khai trương khu du lịch văn hóa Trà
Tiên Phong Quán tại Lâm Đồng. Phát triển hệ thống quán cà phê lên đến con số 1.000
quán cà phê và sự hiện diện của nhượng quyền quốc tế bằng các quán cà phê Trung
Nguyên tại các nước Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, Campuchia, Trung Quốc,
Ucarine, Mỹ, Ba Lan.
• 2006: Đầu tư và xây dựng phát triển hệ thống phân phối G7Mart lớn nhất Việt Nam
và xây dựng, chuẩn hóa hệ thống nhượng quyền trong nước, đẩy mạnh phát triển

"lính mới" đến từ tận xứ Buôn Mê Thuột heo hút. Vì vậy, Trung Nguyên phải bỏ tiền để
mở quán kinh doanh của mình. Sau 4-5 tháng, nhìn thấy hiệu quả của Trung Nguyên,
các nhà kinh doanh TP HCM quyết định bắt tay làm ăn. “Tiếng lành đồn xa” Trung
Nguyên bắt đầu mở rộng phạm vi kinh doanh ra Miền Bắc.
Mở rộng hệ thống phân phối thông qua phương thức nhượng quyền là chiến lược
kinh doanh của Trung Nguyên. Với định hướng đó, ngoài việc "phủ sóng" ở trên 63 tỉnh
thành trên cả nước, Trung Nguyên đã ký hợp đồng nhượng quyền thương hiệu cho một
đối tác người Nhật mở quán tại Tokyo. Trung Nguyên cũng đã xúc tiến đàm phán với một
số đối tác khác tại Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia, Mỹ
SVTH: Lê Thị Duyên – KTCN K55 Page 24
Đồ án ứng dụng quản trị học trong kinh doanh – Trường ĐH BK HN
Ngày nay, với khoảng 1,000 quán cà phê nhượng quyền, Trung Nguyên luôn đem
đến cho người thưởng thức những tách cà phê hàng đầu Việt Nam tại bất kì địa điểm quán
nhượng quyền Trung Nguyên nào. Đặng Lê Nguyên Vũ đã tự tin rằng: "Thương hiệu
Trung Nguyên chắc chắn sẽ được quốc tế hóa”
Ngày 21/9/2007 tại khánh đường Mariana, Mandarin Singapore, Trung Nguyên đã
chính thức nhận giải thưởng “Nhượng quyền quốc tế 2007”. Đây là giải thưởng thường
niên nằm trong khuôn khổ tổ chức FLA Singapore (Franchise and Licensing Association)
nhằm tôn vinh những công ty có hoạt động nhượng quyền xuất sắc tại quốc gia tham dự.
Năm 2007 Trung Nguyên là đại diện duy nhất của Việt Nam tham dự giải thưởng này.
Trung Nguyên được đánh giá là “Công ty đầu tiên của Việt Nam phát triển hoạt động
nhượng quyền trên cả hai thị trường nội địa và quốc tế”
Ban tổ chức giải thưởng đã xử lý hàng trăm hồ sơ dự giải của cỏc cụng kinh doanh
nhượng quyền từ nhiều quốc gia trong suốt 2 tháng. Vòng chung kết của giải thưởng
nhượng quyền quốc tế tại Singapore năm nay có 8 ứng cử viên đến từ: Ấn Độ, Malaysia.
Hoạt động của mô hình nhượng quyền của cà phê Trung Nguyên:
Trung Nguyên mạnh dạn xây dựng mô hình nhượng quyền với một hình thức rộng
khắp cả nước và tiến hành xây dựng các cửa hàng nhượng quyền trên các nước trên thế
giới. Công ty TNHH Trung Nguyên có văn phòng chính và nhà máy sản xuất đặt tại Buôn
Ma Thuật cùng với rất nhiều chi nhánh trong toàn quốc. Các bộ phận trong tổ chức của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status