♦ đề tài phân tích điều kiện phát triển du lịch tại quảng bình - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐÀ NẴNG
KHOA DU LỊCH
BÀI TIỂU LUẬN
♦ Đề tài: Phân tích điều kiện phát triển du lịch tại Quảng Bình
A.Lời mở đầu:
Đà Nẵng, 2014
Nhóm 8 – TOU 151 G GVHD: Phạm Thị Mỹ Linh
u lịch từ lâu vẫn được hiểu là nghỉ ngơi, tham quan giải trí.Nhưng trên thực tế,
du lịch có một hình ảnh năng động hơn, hình ảnh một ngành kinh doanh mới, có
hiệu quả và ngày càng phát triển trên mỗi quốc gia. Bước sang thế kỷ 21, thế kỷ
của dịch vụ, tin học và nền kinh tế tri thức, thì du lịch ngày càng trở nên quan trọng và
góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Du lịch được coi là một ngành “ công
nghiệp không khói”, “ xuất khẩu tại chỗ, xuất khẩu vô hình” để thu về nguồn ngoại tệ.
Hoạt động du lịch đã trở thành hiện tượng phổ biến trong nền kinh tế và đang phát triển
nhanh với xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá. Hoà chung với sự phát triển của du lịch
thế giới. Ngành Du lịch Việt Nam cũng đã có những bước chuyển biến rõ rệt nhờ vào
chính sách “ mở cửa ” của Đảng và Nhà nư. Ngành du lịch Việt Nam trước những thách
thức và cơ hội mới còn nhiều việc phải làm để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh trên cơ sở
giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ trật tự an toàn xã hội và
an ninh, quốc phòng của đất nước. Trong bối cảnh chung của du lịch cả nước, du lịch
Quảng Bình cũng bắt đầu có những bước chuyển biến và phát triển rõ rệt.
D
Quảng Bình được rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước lựa chon để đi du
lịch. Đây là 1 điểm hấp dẫn để khám phá và trải nghiệm, tìm về nơi cội nguồn cầu an
lành. Đến với Quảnh Bình,bạn sẽ đi tham quan ở những đâu,nên ăn món gì, ? Để hiểu
hơn về điều đó xin mời các bạn hãy đi theo bước chân của đoàn du lịch nhóm 8 mang tên
“ Eight Tour “ đến với vùng đất xa xôi Quảng Bình, cùng nhau tận hưởng những giây
phút thư giản, trải nghiệm những sản phẩm du lịch đặc sắc nhất ở nơi đây.
Tổng Quan Du Lịch Page 2
Nhóm 8 – TOU 151 G GVHD: Phạm Thị Mỹ Linh
B. Nội dung:

bị chia tách thành Bố Chính ngoại và Bố Chính nội như trước. Riêng 2 huyện Khương
Lộc (sau đổi là Phong Lộc) và Lệ Thuỷ (Nha Nghi) đặt thành một đơn vị hành chính lấy
tên là dinh Quảng Bình.
Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), trong hệ thống hoạch định cương vực lãnh thổ và tổng
cải cách hành chính quốc gia, triều Nguyễn chính thức định danh tỉnh Quảng Bình. Sau
nhiêù lần cải tổ và điều chỉnh, đến năm 1875 tỉnh Quảng Bình có 2 phủ gồm 7 huyện là
phủ Quảng Trạch (có 4 huyện: Minh Chính, Bình Chính, Tuyên Hoá, Bố Trạch), phủ
Tổng Quan Du Lịch Page 3
Nhóm 8 – TOU 151 G GVHD: Phạm Thị Mỹ Linh
Quảng Ninh (gồm 3 huyện Phong Lộc, Phong Phú và Lệ Thuỷ).Dưới thời Pháp thuộc,
chính quyền thực dân và triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã thiết lập lại hệ thống phủ,
huyện trong cùng một cấp hành chính. Quảng Bình có 2 phủ, 3 huyện là phủ Quảng
Trạch, phủ Quảng Ninh, huyện Lệ Thuỷ, huyện Bố Trạch và huyện Tuyên Hoá. Đến năm
1939 thành lập thêm cơ quan Bang Tá trực thuộc tỉnh với 4 phường mới là Đồng Hải,
Đồng Đình, Đồng Phú, Đồng Mỹ, có vai trò như là trung tâm lỵ sở của tỉnh Quảng Bình.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới thời Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà, tỉnh Quảng Bình được thành lập, bao gồm thị xã tỉnh lỵ Đồng Hới và 5 huyện là Lệ
Thuỷ, Quảng Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hoá.Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước thắng lợi, đất nước thống nhất, non sông thu về một mối, Nhà nước Cộng hoà Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam đã thành lập tỉnh Bình Trị Thiên trên cơ sở sáp nhập ba tỉnh
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và khu vực Vĩnh Linh. Quảng Bình trở thành địa
vực phía Bắc của tỉnh Bình Trị Thiên mới thành lập. Trên địa vực này có thị xã Đồng Hới
và các huyện Lệ Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch và Tuyên Hoá. Năm 1989, để phù hợp với
xu thế và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng - an ninh trong thời kỳ
mới, Trung ương Đảng và Nhà nước đã cho chia tách Bình Trị Thiên thành 3 tỉnh Quảng
Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế. Tại thời điểm mới tái thiết lập, tỉnh Quảng Bình
bao gồm thị xã Đồng Hới và các huyện Lệ Ninh, Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hoá. Để
phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh, Nhà nước đã cho
chia tách huyện Lệ Ninh thành 2 huyện Lệ Thuỷ và Quảng Ninh, huyện Tuyên Hoá thành
2 huyện Minh Hoá và Tuyên Hoá. Hiện nay tỉnh Quảng Bình bao gồm thành phố Đồng

Rục, Sách, Vân Kiều, Mày, Arem, v.v sống tập trung ở hai huyện miền núi Tuyên Hóa
và Minh Hóa và một số xã miền Tây Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thủy. Dân cư phân bố
không đều, 84,80% sống ở vùng nông thôn và 15,20% sống ở thành thị.
Quảng Bình có nguồn lao động dồi dào với 421.328 người, chiếm khoảng
49,28% dân số. Về chất lượng lao động cho đến năm 2013: hơn 25.000 người có trình độ
đại hoc, cao đẳng, hơn 600 thạc sĩ, gần 50 phó giáo sư và tiến sĩ. Lực lượng lao động đã
qua đào tạo gần 105.000 người,chiếm 25% số lao động
3.Vị trí – địa lý
*Vị trí địa lý:
Tỉnh Quảng Bình ven biển Bắc Trung Bộ, Việt Nam, Diện tích tự nhiên 8.037,6 km
2
Phần đất liền của Quảng Bình nằm trải dài từ 16°55’ đến 18°05’ vĩ bắc và từ 105°37’ đến
107°00’ kinh đông
Toạ độ địa lý ở phần đất liền là:
- Điểm cực Bắc: 18
0
05
,
12
,,
vĩ độ Bắc
- Điểm cực Nam: 17
0
05
,
02
,,
vĩ độ Bắc
- Điểm cực Đông: 106
0

đứt gẩy Rào Nậy tạo nên bồn thu nước lớn nhất.
Sự phân hoá địa hình Quảng Bình theo hướng Đông - Tây và Bắc - Nam, nhất là sự
phân hoá theo độ cao và hướng núi á vĩ tuyến đã trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố vật
chất và năng lượng , ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ khí hậu (nhiệt ẩm), sự phân hoá lớp
thực bì, tạo nên sự đa dạng sinh thái đặc sắc của Quảng Bình.
Về cấu trúc, 85% tổng diện tích tự nhiên Quảng Bình là vùng rừng núi và gò đồi,
còn lại là vùng gò đồi và đồng bằng. Địa hình Quảng Bình được chia thành 4 vùng rõ rệt :
- Vùng núi: có tổng diện tích 5.236,16 km
2
chiếm 65% diện tích tự nhiên,
được chia thành 3 loại: vùng núi cao, vùng núi trung bình và vùng núi thấp.
- Vùng đồi gò đồi , có diện tích 1.677,95km
2
, chiếm 19,7% tổng diện tích đất
tự nhiên.
Vùng gò đồi có độ cao từ 50m đến 250 mét, độ dốc trung bình từ 3
0
trở lên. Vùng
gò đồi Quảng Bình nằm trong địa giới 87 xã kéo dài theo chiều dọc của tỉnh. Địa hình
vùng gò đồi hẹp và dốc, dòng chảy các sông đều chạy theo hướng cắt ngang địa hình,
nhiều dãy núi vươn ra tận bờ biển nên địa hình vùng gò đồi phức tạp và bị chia cắt tương
đối mạnh. Do dặc điểm bị chia cắt nên vùng gò đồi Quảng Bình tuy có kết dải nhưng
không thuần nhất. Trong từng tiểu vùng đồng thời tồn tại cả khu vực bồi tích và bào mòn.
Các tính chất hoá lý của đất chênh lệch nhau rất xa.
-Vùng đồng bằng có tổng diện tích 866,90 km
2
chiếm 10,95% diện tích đất tự
nhiên.
Nhìn chung dải đồng bằng Quảng Bình hẹp, nơi rộng nhất 26 km bề ngang, nơi
hẹp nhất khoảng 10 km. Các đồng bằng liền dải chủ yếu là: đồng bằng Lệ Thuỷ, Quảng

o
C - 25
o
C. Ba
tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, 7 và 8.
*Tài nguyên đất:
Tổng diện tích đất tự nhiên của Quảng Bình là 805.186 ha, trong đó sông suối là
16.803 ha, chiếm 2,09% ; Núi đá 617.706 ha , chiếm 76,72% tổng diện tích đất tự nhiên.
Căn cứ vào tiêu chí phân loại đất của FAO - UNESCO, đất Quảng Bình được chia
thành 10 nhóm đất -23 đơn vị đất - 56 đơn vị đất phụ. Tài nguyên đất ở nơi đây chia
thành hai hệ chính: Đất phù sa ở vùng đồng bằng và hệ pheralit ở vùng đồi và núi với 15
loại và các nhóm chính như sau: nhóm đất cát, đất phù sa và nhóm đất đỏ vàng. Trong đó
nhóm đất đỏ vàng chiếm hơn 80% diện tích tự nhiên, chủ yếu ở địa hình đồi núi phía Tây,
đất cát chiếm 5,9% và đất phù sa chiếm 2,8% diện tích.
*Tài nguyên động, thực vật:
Quảng Bình nằm trong khu vực đa dạng sinh học Bắc Trường Sơn - nơi có khu hệ
thực vật, động vật đa dạng, độc đáo với nhiều nguồn gen quý hiếm. Đặc trưng cho đa
dạng sinh học ở Quảng Bình là vùng Karst Phong Nha - Kẻ Bàng.
+ Về động vật có: 493 loài, 67 loài thú, 48 loài bò sát, 297 loài chim, 61 loài
cá có nhiều loài quý hiếm như Voọc Hà Tĩnh, Gấu, Hổ, Sao La, Mang Lớn, Gà Lôi lam
đuôi trắng, Gà Lôi lam mào đen, Trĩ
Tổng Quan Du Lịch Page 7
Nhóm 8 – TOU 151 G GVHD: Phạm Thị Mỹ Linh
+ Về đa dạng thực vật: Với diện tích rừng 486.688 ha, trong đó rừng tự
nhiên 447.837 ha, rừng trồng 38.851ha, trong đó có 17.397 ha rừng thông, diện tích
không có rừng 146.386 ha. Thực vật ở Quảng Bình đa dạng về giống loài: có 138 họ, 401
chi, 640 loài khác nhau. Rừng Quảng Bình có nhiều loại gỗ quý như lim, gụ, mun, huỵnh,
thông và nhiều loại mây tre, lâm sản quý khác. Quảng Bình là một trong những tỉnh có
trữ lượng gỗ cao trong toàn quốc. Hiện nay trữ lượng gỗ là 31triệu m
3

Quảng Bình có nhiều loại khoáng sản như vàng, sắt, titan, pyrit, chì, kẽm và một
số khoáng sản phi kim loại như cao lanh, cát thạch anh, đá vôi, đá mable, đá granit
Trong đó, đá vôi và cao lanh có trữ lượng lớn, đủ điều kiện để phát triển công nghiệp xi
măng và vật liệu xây dựng với quy mô lớn. Có suối nước khoáng nóng 105
o
C. Trữ lượng
vàng tại Quảng Bình có khả năng để phát triển công nghiệp khai thác và chế tác vàng.
Tổng Quan Du Lịch Page 8
Nhóm 8 – TOU 151 G GVHD: Phạm Thị Mỹ Linh

Đồng bào Vân Kiều chăm sóc lạc
Dãi đất Quảng Bình như một bức tranh hoành tráng, có rừng, có biển với nhiều
cảnh quan thiên nhiên đẹp, thắng cảnh nổi tiếng: đèo Ngang, đèo Lý Hoà, cửa biển Nhật
Lệ, phá Hạc Hải, Cổng Trời… và Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được công nhận
là Di sản Thiên nhiên thế giới.
4. Văn hóa:
Là vùng đất giao thoa, hội tụ của nhiều luồng văn hoá, Quảng Bình ngày nay hội
đủ những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể của khu vực Bắc Trung Bộ.
Bơi trãi trên sông
Nhật Lệ
Bên cạch đó, mảnh đất này cũng còn lưu giữ những nét văn hoá đặc trưng riêng thể
hiện qua các lễ hội như Hội bơi trải truyền thống 2/9 dương lịch (Lệ Thuỷ), Cầu mùa
(Bảo Ninh), Cầu ngư (Cảnh Dương), Lễ hội Rằm tháng Ba (Minh Hoá) và các truyền
thuyết và truyện cổ dân gian.
Quảng Bình vẫn còn lưu giữ những làn điệu dân ca như hò khoan Lệ Thuỷ, hát
Kiều Quảng Kim, hát “sim” của người Bru-Vân Kiều và những nhạc cụ khèn bè, đàn ống
(troi ban), sáo (pi), trống chiêng
Quảng Bình là vùng đất văn vật, có di chỉ văn hóa Bàu Tró, các di chỉ thuộc nền
văn hóa Hòa Bình,Đông Sơn và Sa Huỳnh, nhiều di tích lịch sử như: Quảng Bình Quan,
Luỹ Thầy, Rào Sen, Thành Nhà Ngo, Thành Khu Túc-Chămpa, thành quách của thời

Tổ chức Hội nghị hướng dẫn các địa phương triển khai công tác điều tra, rà soát hộ
nghèo, hộ cận nghèo năm 2014. Xây dựng Kế hoạch hành động Vì trẻ em tỉnh Quảng
Bình bị ảnh hướng bởi HIV/AIDS giai đoạn 2014-2020 và Kế hoạch xây dựng xã
phường, thị trấn phù hợp với trẻ em.
Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm, đặc biệt là phòng
chống các loại dịch bệnh. Các bệnh viện, trạm xá bố trí đầy đủ y, bác sỹ trực 24/24 giờ và
cơ số thuốc để phục vụ khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Chỉ đạo các đơn
vị thực hiện tốt công tác giám sát các loại dịch bệnh, đặc biệt bệnh sởi, tính đến ngày
12/10, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 1208 trường hợp tay -chân- miệng, 96 trường hợp sởi
và nghi sởi, các trường hợp kể trên đều được phát hiện và điều trị kịp thời nên đến nay
chưa có tử vong xảy ra. Đã xây dựng kế hoạch, chỉ đạo các đơn vị triển khai các hoạt
động phòng chống dịch Ebola.
Tổng Quan Du Lịch Page 10
Nhóm 8 – TOU 151 G GVHD: Phạm Thị Mỹ Linh
Tiếp tục duy trì và phát huy tốt hoạt động khám chữa bệnh tại các tuyến. Đặc biệt là
các Bệnh viện tuyến huyện, thành phố trực thuộc Sở Y tế, tổ chức phục vụ kịp thời nhu
cầu khám chữa bệnh cho nhân dân. Triển khai chiến dịch tiêm bổ sung vắc xin Sởi-
Rubella (đối tượng 12 tháng tuổi - 14 tuổi) trên địa bàn toàn tỉnh, dự kiến đạt tỷ lệ 97%.
Công tác phòng, chống HIV/AIDS được triển khai thường xuyên, các hoạt động về quản
lý, tư vấn, hướng dẫn các hành vi an toàn phòng chống ma tuý, mại dâm về HIV/AIDS
được các ngành liên quan thực hiện đầy đủ.
2.Tình hình phát triển kinh tế
Năm 2013, triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong điều
kiện hết sức khó khăn. Mặc dù kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiềm chế, lãi suất tín
dụng giảm nhưng nền kinh tế vẫn phục hồi chậm, thị trường thu hẹp, sức mua giảm, tăng
trưởng tín dụng thấp làm cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp gặp
rất nhiều khó khăn. Đặc biệt, trong tháng 10, tỉnh ta liên tiếp gánh chịu cơn bão số 10 và
hoàn lưu cơn bão số 11 kèm theo lốc xoáy đã gây thiệt hại hết sức nặng nề về người và
tài sản, ảnh hưởng rất lớn đến việc hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch năm 2013 và trong
nhiều năm tiếp theo. Nhưng với sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Tỉnh uỷ,

 Địa hình hang động carto:
Do những chuyển động kiến tạo nâng lên, hạ xuống của vỏ trái đất đã tạo
cho Quảng Bình nhiều thắng cảnh đẹp, trong đó đáng chú ý là hệ thống hang động huyền
bí và quyến rũ. Đó là các hang động như: hang Vòm, hang Tối, hang Rục Mòn, hang Rục
Cà Roòng, hang Chà Áng, hang Con Chuột, hang Minh Cầm, hang Bàn Cờ, hang Khai ,
tất cả tạo thành một hệ thống hang động kỳ vĩ. Trong số các hang động đó, đáng chú ý
nhất là hệ thống hang động thuộc phạm vi khu vực Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
Đây là khu vực vừa được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên của thế giới với 2
tiêu chí hết sức thuyết phục là: (1) đây là khu vực điển hình cho lịch sử hình thành vỏ
Trái đất và những đặc điểm địa chất; (2) đây là khu vực đặc trưng cho tính đa dạng sinh
học và các loài bị đe doạ, là nơi sinh sống tự nhiên quan trọng và có ý nghĩa đối với việc
bảo tồn đa dạng sinh học, là nơi chứa đựng nhiều loài động thực vật quý hiếm đang bị đe
doạ.
♦ Hệ thống hang động
Phong Nha - Kẽ Bàng:
Hệ thống hang động tại
khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng được
hình thành do những kiến tạo địa chất
xảy ra trong lòng dãy núi đá vôi Kẻ
Bàng cách đây hơn. Tìm hiểu tài
nguyên du lịch tự nhiên tỉnh Quảng
Bình Niên luận 400 triệu năm vào thời
kỳ Đại Cổ Sinh. Trải qua các thời kỳ
kiến tạo quan trọng và các pha chuyển
động đứt gãy, phối tảng và uốn nếp đã
liên tục tạo ra các dãy núi trùng điệp do chuyển động nâng cao và các bồn trầm tích do
chuyển động sụt lún, đóng vai trò như nguyên nhân của mọi nguyên nhân để tạo ra tính
đa dạng về địa chất, địahình - địa mạo, mạng lưới thủy văn và tính đa dạng, kỳ thú về
hang động du lịch đối với các thành hệ đá vôi Phong Nha-Kẻ Bàng phát triển từ Devon
đến Carbon – Trecmi.Tại Phong Nha - Kẻ Bàng có một hệ thống gồm khoảng 300 hang

nằm cách cửa động Phong Nha khoảng
1.000 m, ở độ cao so với mực nước biển
khoảng 200 m. Động Tiên Sơn có chiều
dài là 980 m. Từ cửa động đi vào khoảng
400 m có một vực sâu chừng 10 m, và sau
đó là động đá ngầm tiếp tục dài gần 500
m, khá nguy hiểm nên du khách chưa được
phép đến khu vực này mà chỉ tham quan
tới khoảng cách 400 m từ tính từ cửa
động. Động này được phát hiện năm 1935,
ban đầu, cư dân địa phương gọi động này
là động Tiên, Động Tiên Sơn do vẻ đẹp kỳ bí thần tiên của nó. Sau này động Tiên Sơn
được gọi là đ ộng Khô, để phân biệt với động Phong Nha là động nước. Động Tiên Sơn là
nơi có cảnh thạch nhũ và măng đá kỳ vĩ huyền ảo nh ư trong đ ộng Phong Nha nhưng lại
có nét riêng là các âm thanh phát ra từ các phiến đá và cột đá khi được gõ vào vang vọng
như tiếng cồng chiêng và tiếng trống. Theo các nhà khoa học thuộc Hội hang động Hoàng
gia Anh, động Tiên Sơn được hình thành cách đây hàng chục triệu năm, khi một dòng
nước ch ảy qua qu ả núi đã đục rỗng, bào mòn núi đá vôi Kẻ Bàng. Sau đó, do ki ến t ạo đ
ịa ch ất kh ối núi này hoặc đã được nâng lên, hoặc đã bị hạ xuống khiến các khối đá đ ổ s
ụp ngăn chặn dòng chảy làm nên động Tiên Sơn ở phía trên. Còn phần có sông ngầm
chảy qua tạo ra hang động Phong Nha. Dù động Phong Nha và đ ộng Tiên Sơn nằm liền
kề nhau nhưng giữa hang động này l ại không thông nhau. Cư dân địa phương đã nhặt
được một số hiện vật có thể là di chỉ di chỉ của người xưa ở trên bãi đất bằng phẳng trước
cửa động
Tổng Quan Du Lịch Page 13
Nhóm 8 – TOU 151 G GVHD: Phạm Thị Mỹ Linh
♦Động Thiên Đường:
Động Thiên Đường được đánh giá là động lớn và dài hơn động Phong Nha.
Đây là một động khô, không có sông ngầm ch ảy qua nh ư động Phong Nha. Theo kết
quả khảo sát sơ bộ của các nhà khoa học, so với động Phong Nha thì động Thiên Đường

Quảng Bình có đường bờ biển dài với nhiều bãi biển tuy ệt đẹp với cát trắng, nước
biển xanh, rất thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động du lịch, tiêu biểu như bãi biển
Nhật lệ và có địa hình bãi đá ven biển rất đặc biệt như bãi Đá Nhãy.
♦ Bãi biển Nhật Lệ:
Tổng Quan Du Lịch Page 14
Nhóm 8 – TOU 151 G GVHD: Phạm Thị Mỹ Linh
Bãi biển Nhật Lệ tọa lạc tại cửa sông Nhật Lệ. Bãi biển Nhật Lệ được thiên
nhiên ban tặng bãi cát trắng và nước biển trong xanh, còn mang vẻ hoang sơ. Từ lâu bãi
biển Nhật Lệ nổi tiếng với một vùng trời mây, sông, nước, gió lộng khí trời, khí biển mặn
mà. Biển Nhật Lệ kéo dài m ột màu cát trắng, những lúc trời thanh gió mát, bãi biển sạch
như nệm mới, cát mịn, cứng óng ánh có thể đạp xe hay chơi bóng đá một cách thoải mái.
Từ ngoài khơi xa từng lớp sóng bạc tiến vào bờ như những chùm hoa sóng tung b ọt
trắng xoá trông giống chuỗi ngọc trắng đang lăn vào bờ, ngân lên những âm thanh rì rào
không dứt.
"Trong nắng chiều vàng khi hoàng hôn buông xuống, biển Nh ật L ệ như đang chìm
trong giấc ngủ cuối ngày, khung cảnh trầm tư mà lãng m ạn, ồn ào mà tĩnh lặng. Xa xa
đoàn thuyền lại rộn vang tiếng nóicười trong ngày mới ra khơi, những khuôn mặt mang
dấu ấn thời gian lại hiện lên m ột ni ềm vui l ớn trong ngày mới".
Khi đêm về, cửa biển Nhật Lệ sáng rực như một thành phố lung linh, đứng xa xa
nhìn về cửa biển ta thấy như hàng ngàn ánh sao
♦ Bãi Đá Nhầy:
Theo Quốc lộ 1A, vượt đèo Ngang rồi sông Gianh với nhiều ch ứng tích
lịch sử, du khách sẽ ngỡ ngàng thấy bãi Đá Nhảy là một quần thể núi (ch ữ Hán gọi là
Hải Cốt) ở ngay bãi biển, dưới chân đèo Đá Nh ảy (còn g ọi là đèo Lý Hòa), cách Thành
phố Đồng Hới về phía Bắc khoảng 20km. Bãi Đá Nhảy gồm nhiều núi đá, cột đá to nhỏ,
cao thấp với trăm hình nghìn vẻ kỳ thú: hình con cóc, con trâu nằm, hình "trống - mái",
hình hổ quỳ, voi Địa hình đồi núi chiếm một diện tích rất lớn của tỉnh Quảng Bình, ới
m ức độ chia cắt lớn cho nên nó gây ra khó khăn cho nhi ều ngành kinh t ế nh ư giao
thông vận tải, thông tinh liên lạc ,nhưng với dạng địa hình nh ư vậy thì nó lại là nguồn
tài nguyên, là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch. Các đồi núi có thể khai thác phục

Ðinh, nơi vốn nổi tiếng "lắm tiên nhiều Phật", "núi Thần Ðinh chót vót, khí thế nuốt
phăng phăng bốn trăm châu" (Ô châu c ận lục). Từ bao đời nay, Thần Ðinh trường tồn
sừng sững như chiếc bình phong khổng lồ chở che bao bọc cho những con người lao
động cần cù chịu khó ở miền tây Quảng
Bình. Từ thành phố Ðồng Hới, theo
hướng tây nam, khoảng 30 km, đến bến
phà Long Ðại (huyện Quảng Ninh), có
thể ngược dòng bằng thuyền để cảm
nhận hết vẻ đẹp hùng vĩ của quần thể di
tích núi Thần Ðinh. Giữa bập bềnh mênh
mông sóng nước, những Núi Thần Đinh
cảnh đẹp của núi Thần Ðinh dần hiện ra
trước mắt như một bức tranh sơn thủy
Quần thể di tích núi Thần Ðinh, không
chỉ có ý nghĩa nhi ều m ặt tâm linh, địa
lý, lịch sử. Chiến lũy Trường Dục của Ðào Duy Từ đã dựa vào th ế hi ểm y ếu và được
bắt đầu từ chân núi Thần Ðinh. Người dân nơi đây kể lại, núi Thần Ðinh còn có tên là núi
Chùa Non, vì ngày trước trên núi có một ngôi chùa mang tên chùa Non, gắn li ền v ới tín
ngưỡng dân gian của các dân tộc Kinh, Vân Kiều anh em quen sống với nghề đi rừng và
trồng trọt. Ghé thuyền vào Bến Chùa, đi thêm khoảng vài trăm mét về phía tây là đ ến
chân núi Thần Ðinh. Ngước mắt lên ta thấy núi chót vót Theo nh ững bậc đá lên cao hai
bên sườn núi, ta bắt gặp ngôi chùa Hang thiên t ạo b ằng đá. Tr ước cửa hang có hai hang
nhỏ mang tên hang Chuông và hang Trống. Khi gõ nhẹ vào vách đá, có những âm thanh
trong trẻo như tiếng trống đánh, chuông ngân. Nhìn kỹ và tưởng tượng, ta sẽ thấy những
nhũ đá th ật giống với nh ững chi ếc chuông, chiếc trống Ði vào chùa Hang, du khách
có th ể khám phá vẻ đ ẹp thiên nhiên. Tr ần động có nhiều nhũ đá rủ xuống hình chiếc
lộng vàng, hình voi ch ầu, ng ựa phục. Rời chùa Hang, du khách tiếp tục bước theo các
bậc đá và lên núi Th ần Ðinh. Dấu tích của chùa Kim Phong linh thiêng như vẫn còn đâu
đây. Theo thư tịch cổ, vào đời Hậu Lê, chùa có tám gian. Năm Minh Mạng thứ 6 (1825),
sư Trần Gia Hội (chùa Thiên Mụ - Huế) đã dựng tạm một ngôi chùa tranh tre để tu hành.

đá được xây vào năm 1833 thời vua
Minh Mạng để kiểm soát việc qua đèo.
Đứng trên đỉnh Ngoạn Mục đ ể ng ắm
bi ển thì tuyệt đẹp, núi non kỳ vĩ, biển trời mênh mông. Gần đèo Ngang về phía Quảng
Bình có đền th ờ bà Li ễu H ạnh di tích ki ến trúc - nghệ thuật - tôn giáo, các bãi tắm Hòn
La, Quảng Đông, C ảnh D ương với rừng dương xanh mướt, cát vàng óng ánh và các đảo
ở ngoài kh ơi nh ư Hòn La, Hòn Vụng Chùa, Hòn Cỏ, Hòn Gió, đảo Y ến t ạo thành nh
ững th ắng cảnh tuyệt đẹp. Gần đèo Ngang về phía Hà Tĩnh có bãi tắm đèo Con s ạch
đẹp, thoải và kín gió. Đền thờ bà Bích Châu hay còn gọi là đ ền th ờ bà H ải gần núi Cao
Vọng, núi Ô Tôn, núi Bàn Độ, vũng Áng, là qu ần th ể danh th ắng lịch bắc du đèo
Ngang. Ngày nay, khách qua đèo Ngang thường đi bằng đường h ầm xuyên núi. Công
trình này có chiều dài 2.849m gồm cả phần hầm và đoạn tuy ến hai đ ầu do Tổng Công ty
Sông Đà đầu tư, thi công và khánh thành thông xe ngày 21/8/2004
b/ Tài nguyên động, thực vật:
Tổng Quan Du Lịch Page 17
Nhóm 8 – TOU 151 G GVHD: Phạm Thị Mỹ Linh
Tỉnh Quảng Bình có hệ động, thực vật rất phong phú và đa d ạng có nhi ều loài
quý hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam cũng như sách đỏ của th ế gi ới, đó là điều kiện
thuận lợi để phát triển du lịch, đ ặc bi ệt là phát tri ển các lo ại hình du lịch tham quan, du
lịch sinh thái , tiêu biểu cho sự đa dạng sinh học của tỉnh Quảng Bình là hệ động, thực
vật trong vườn quốc gia Phong Nha – Kẽ Bàng.
 Hệ động, thực vật trong vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng:
♦ Hệ Thực Vật:
Kẻ Bàng có hệ thảm thực vật với những kiểu thảm thực vật quan trọng là:
Rừng kín nhiệt đới thường xanh, ẩm trên núi đá vôi; Có thảm thực vật với diện tích lớn
nhất và phân bố thành mảng lớn ở phía Bắc và phía Tây của khu vực; Rừng thứ sinh sau
khai thác trên núi đá vôi: Nó có nguồn gốc trực tiếp từ kiểu thảm thực vật rừng nhiệt đới
thường xanh, ẩm trên núi đá vôi sau khi chịu tác động của con người; Quần lạc cây bụi,
cây gỗ rải rác trên đất đá vôi: Kiểu rừng này phân bố ở các sườn dốc thoải hoặc các gò
đống có đỉnh tròn bằng nằm bên khe suối; Rừng kín thường xanh nhiệt đới ẩm trên núi

Phong Nha - Kẻ Bàng là nơi có cộng đồng linh trưởng phong phú bậc
nhất Đông Nam Á. Năm 2002, nhà khoa học Đức Thomas Zegler đã phát hiện ra một loài
thằn lằn tai mới có tên là Tripidophrus Nogei tại vùng núi Karst thuộc khu vực Chà Nòi.
Loài thằn lằn này đã được đăng trên số báo 114 (2) phát hành tháng 7 năm 2007 của tạp
chí Revue Suise De Zoologie. Các nhà
khoa học đã đặt tên loài này là Thằn lằn
Phong Nha - Kẻ Bàng (danh pháp khoa
học: Cyrtodactylus
phongnhakebangensis). Các nhà khoa
học Đức đã xây dựng một khu giới
thiệu Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ
Bàng tại Vườn thú Köln để giới thiệu sự
đa dạng sinh học của vườn quốc gia
này, ở đây cũng phát hiện ra loại rắn
mai gầm mới. Qua một thời gian khảo sát, các nhà khoa học Đức, Nga và Việt Nam đã
phát hiện thêm 10 loài mới trong vườn quốc gia này, trong đó bao gồm 5 loài rắn, 5 loài
tắc kè, thằn lằn, nhiều loài trong số mới phát hiện này là động vật đặc hữu ở đây.
Các nhà khoa học Việt Nam và các nhà khoa học Nga thuộc Viện Động vật hoang dã
Sankt-Peterburg, các nhà khoa học Đức của Vườn thú Köln đã phát hiện thêm tại vườn
quốc gia này hơn 100 loài mới trong khu hệ cá. Mười loại cá chưa từng thấy ở Việt Nam
đã được phát hiện ở vườn quốc gia này.
Trong 3 loài cá ở Phong Nha - Kẻ Bàng được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam thì đã có 2 loài
cá chình. Đó là cá Chình hoa (Anguilla marmorota) và cá Chình mun (Anguilla bicolo).
Tổ chức Bảo tồn Động vật hoang dã Thế giới (FFI) đã tiến hành khảo sát và đã có báo
cáo cho rằng Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng có 4 loài được xếp vào diện nguy cấp
trên phạm vi toàn cầu, đó là voọc Hà Tĩnh, voọc đen tuyền, voọc ngũ sắc và vượn đen má
trắng.
Ngày 27 tháng 2 năm 2005, một đàn bò tót với số lượng lớn xuất hiện tại Vườn quốc gia
Phong Nha-Kẻ Bàng.
3.2.Tài nguyên du lịch nhân văn:

xã hội, quy hoạch ngành và quy hoạch xây dựng.
4. Phát triển nguồn nhân lực.
5. Thực hiện chính sách, cơ chế thích hợp để huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả
các nguồn lực
6. Đổi mới tư duy, nhận thức về môi trường đầu tư, kinh doanh.
7. Kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động xúc tiến đầu tư.
8. Tăng cường tuyên truyền, quảng bá môi trường đầu tư, kinh doanh, tiềm năng và
thế mạnh của tỉnh.
9. Tăng cường công tác giám sát, đánh giá trong cải thiện.
10. Bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
11. Khai thác tài nguyên thiên thiên hợp lý.
12. Tận dụng nguồn tài nguyên du lịch sẵn có để phát triền ngành du lịch ở Quảng
Bình.
13. Đào tạo nguồn nhân lực có chuyên ngành về du lịch.
14. Tạo ra nhiều sản phẩm du lịch để thu hút khách du lịch.
15. Có những chính sách hợp lý để khai khác và bảo dưỡng các điểm tài nguyên du
lịch.
C.Kết Luận:
Quảng Bình là một tỉnh có nguồn tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng, đặc biệt
là nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên, song hiện nay ngành du lịch của tỉnh vẫn đang còn
Tổng Quan Du Lịch Page 20
Nhóm 8 – TOU 151 G GVHD: Phạm Thị Mỹ Linh
gặp nhiều khó khăn về vốn, về lao động…Nhưng với những lợi thế về lịch sử, điều kiện
tự nhiên, kinh tế….thì Quảng Bình hoàn toàn có thế phát triển mạnh mẽ ngành du lịch,
qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống cho người dân
trong tỉnh.
Nhóm 8 hi vọng trong một tương lai nào đó, tỉnh Quảng Bình sẽ trở thành một tỉnh
phát triển mạnh mẽ về kình tế - xã hội nói chung và ngành du lịch nói riêng trong cả
nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status