Bùi Duy Thái – Báo cáo thực tập.
20
Chương II: Phân tích thực trạng của bộ phận Housekeeping.
Tôi đã tiến hành một cuộc điều tra với toàn bộ nhân viên trong bộ phận
Housekeeping để xác định xem nhân viên trong bộ phận có phải đang thiếu
động lực làm việc hay không? Cuộc điều tra, và kết quả phân tích những số
liệu thu thập được đã hé mở cho tôi nhiều vấn đề thú vị.
1. Cuộc điều tra trong bộ phận.
Tôi đã tiến hành hai cuộc điều tra. Một bằng phiếu thăm dò với nhân viên
trong bộ phận. Một qua phỏng vấn trực tiếp với trưởng bộ phận và các
supervisor.
Mẫu điều tra bằng phiếu thăm dò:
Bùi Duy Thái – Báo cáo thực tập.
21
PHIẾU THĂM DÒ
Tên tôi là Bùi Duy Thái, thực tập sinh trong bộ phận House Keeping. Đề
tài thực tập của tôi còn thiếu nhiều thông tin về các đồng nghiệp tôi đang
làm việc cùng. Chính vì thế, tôi mong các bạn cung cấp cho tôi những
thông tin đó, bằng cách khoanh tròn, hay đánh dấu, điền vào những
phương án trả lời (ô trả lời) phù hợp với bản thân bạn nhất. Tôi xin chân
thành cảm ơn!
1. Khi một người hỏi tôi: “Bạn làm nghề gì?” tôi sẽ trả lời theo cách:
Bùi Duy Thái – Báo cáo thực tập.
22
6. Những người trong công ty có mối quan hệ tốt nhất với tôi là:
(nếu người đó thuộc các bộ phận như House Keeping, F&B, FO,
bạn hãy ghi rõ tiểu bộ phận mà người đó làm việc. Ví dụ: Bạn ghi
bộ phận “giặt là” thay vì ghi “House Keeping”)
A. Tên:………………………. Bộ phận: ………………………..
B. Tên:………………………. Bộ phận: ………………………..
C. Tên:………………………. Bộ phận: ………………………..
D. Tên:………………………. Bộ phận: ………………………..
E. Tên:………………………. Bộ phận: ………………………..
7. Tôi cảm thấy quan hệ của tôi với các đồng nghiệp xung quanh:
Mờ nhạt Quen Tàm tạm Tốt Gần gũi
8. Tôi nhận thấy cơ hội đến với tôi:
Ít Một ít Một vài Khá nhiều Nhiều
9. Tôi muốn gắn bó với Best Western trong khoảng: (Bạn hãy chọn
và điền vào chỗ trống)
A. … năm.
B. Từ … đến … năm.
C. Tôi chưa có dự định cụ thể.
10. Đề xuất của tôi với phòng nhân sự là:
…………………………………………………………………………
cho một số ít người về cách hiểu những câu hỏi của tôi.
Điểm cho từng câu trả lời được tôi đánh giá dựa trên sự tích cực hay không
tích cực trong trạng thái tâm lý:
Câu 1:
A. -1 điểm.
B. 0 điểm.
C. 1 điểm.
Câu 2:
A. -3 điểm.
B. -2 điểm.
C. -1 điểm.
D. 0 điểm.
E. 1 điểm.
F. 2 điểm.
G. 3 điểm.
Câu 3: Điểm tăng dần từ trái qua phải là - 2, -1, 0, 1, 2.
Câu 4: Điểm từ trái qua phải: -1, 0, 1, 2, 0. Tôi xin nói rõ thêm ở cách chấm
điểm trong câu này. Theo nguyên lý nổi tiếng 80/20, hiệu quả công việc sẽ
đạt được cao nhất khi một người dành 80% thời gian để làm những công
việc thường xuyên và 20% thời gian còn lại dành cho những công việc
không thường xuyên. Chính vì thế tôi đánh giá thấp đi những người muốn
chỉ làm công việc thường xuyên của họ (Như công việc thường xuyên của
Bùi Duy Thái – Báo cáo thực tập.
24
bộ phận công cộng là những công việc trong lịch làm việc thường ngày. Bên
cạnh đó có những công việc phát sinh thêm như đánh bóng sàn bằng hóa
chất, dọn dẹp kho bãi, giúp đỡ bộ phận bell chuyển hành lý cho khách…)
Câu 5:
viên Housekeeping
-4
-3
-2
-1
0
1
2
3
4
0 5 10 15 20
Số nhân viên
Điểm đánh giá
Series1
Series2Trong hình những dấu chấm biểu thị cho điểm đánh giá đối với từng nhân
viên. Trong đó, tôi phân chia các nhân viên trong bộ phận Housekeeping
như sau:
- Từ 3 điểm trở lên là nhân viên có động lực rất tốt.
- Từ 2 đến 3 điểm là nhân viên có động lực tốt.
- Từ 1 đến 2 điểm là nhân viên có động lực chưa rõ ràng.
- Từ dưới 1 điểm là nhân viên có động lực yếu kém.
Theo biểu đồ phân tích trên, số lượng nhân viên bộ phận Housekeeping của
khách sạn Best Western Mường Thanh có động lực làm việc tốt và rất tốt
vào khoảng 36,84% (7 người trên tổng số 19 người. Tôi đã xem lại quá trình
những người đó làm việc và trao đổi với các supervisor về những người này
CH5
CH4
CH3
CH2
CH1Như tôi đã thiết kế, phiếu thăm dò của tôi lập ra dựa trên sự phân chia yếu tố
tích cực và tiêu cực trong làm việc. Chính vì thế với tôi và 2 supervisor trong
bộ phận Housekeeping (Anh Lê Thành và anh Vương Ngọc Dương) đã
thống nhất ý kiến cho rằng một người lao động có động lực tốt sẽ có câu trả
lời theo hướng như sau:
Câu 1: Đáp án C.
Câu 2: Đáp án F.
Câu 3: Đáp án là ô trống thứ 4 từ trái sang.
Câu 4: 80%.
Câu 5: Đáp án C.
Câu 6: Mối quan hệ rộng mở.
Câu 7: Mối quan hệ tốt.
Câu 8: Cơ hội khá nhiều.
Câu 9: Đáp án B
Bùi Duy Thái – Báo cáo thực tập.
27
Như vậy nếu dùng thang điểm tôi đưa ra ở trên thì người lao động có động
lực tốt sẽ có 1 + 2 + 1 + 2 + 1 + 1 + 1 + 1 + 1 = 11 điểm tích cực. (trong đó
các điểm 1, 2 trong phép toán là đánh giá tích cực hay không tích cực theo
thang điểm của mỗi câu hỏi). Nếu lấy 11 làm mốc phân loại thì đa phần nhân
viên bộ phận Housekeeping (với mức điểm tích cực là rìa trên cùng của đồ
thị) hầu hết đều dưới mức độ này. Hay nói một cách khác, đa số nhân viên
đấu, phát triển công việc. Khác với quan điểm của chị Thủy, anh Lê Thành,
supervisor bộ phận public cho rằng một người lao động có động lực là người
thường xuyên làm việc trong trạng thái hạnh phúc. Đối với anh Thành, một
Bùi Duy Thái – Báo cáo thực tập.
28
người hạnh phúc và thỏa mãn sẽ làm rất tốt công việc của mình, cũng như sẽ
có trách nhiệm cao trong lĩnh vực mà bản thân phụ trách. Còn đối với anh
Vương Ngọc Dương (supervisor bộ phận public) và chị Trần Thị Anh
(supervisor bộ phận buồng phòng) đều cho rằng người lao động có động lực
là người nhiệt tình và yêu nghề nghiệp.
Anh Vương Ngọc Dương – supervisor bộ phận công cộng
7Khi được hỏi tới sự ảnh hưởng của những nhân viên có động lực tới những
nhân viên khác, chỉ có chị Thủy và anh Thành cho rằng những nhân viên
này có ảnh hưởng tích cực tới những người xung quanh. Tuy nhiên, anh
Thành cũng nhấn mạnh rằng cũng có thể xuất hiện tình trạng ảnh hưởng
ngược lại. Nghĩa là người lao động có động lực bị những người lao động
thiếu động lực ảnh hưởng xấu, khiến động lực bị giảm sút, và tinh thần lao
động chung đi xuống. 7
Ảnh chụp từ máy ảnh cá nhân. Nguồn: Bùi Duy Thái
Bùi Duy Thái – Báo cáo thực tập.
29
- Thiếu động lực.
- Thiếu kinh nghiệm làm việc.
- Làm việc nhóm chưa hiệu quả
Cơ cấu trình độ học vấn nhân viên bộ phận Housekeeping:
88
Kết quả từ điều tra của tôi trong bộ phận Housekeeping.
Bùi Duy Thái – Báo cáo thực tập.
30
Cơ cấu trình độ học vấn nhân viên
bộ phận Housekeeping
52%
16%
11%
21%
Tốt nghiệp THPT
Tốt nghiệp THCN
Tốt nghiệp CĐ
Tốt nghiệp ĐHNhìn vào cơ cấu về trình độ học vấn của nhân viên bộ phận Housekeeping
chúng ta có thể thấy phần đông nhân viên trong bộ phận thiếu sự đào tạo
chuyên môn về tay nghề trước đó (có tới 52% mới chỉ tốt nghiệp trung học
phổ thông). Chính vì thế, cách thức tiếp cận, đào tạo và truyền đạt hiệu quả
nhất là kiểu “Cầm tay chỉ việc”.