Hệ thống bài tập định tính vật lí THPT phần điện học và một số vận dụng trong dạy học vật lí lớp 11 12 THPT - Pdf 26

- 1 -

1

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
THPT : Trung học phổ thông
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
SGK : Sách giáo khoa
2

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Vật lí là một môn khoa học quan trọng cho sự phát triển của xã hội. Vì vậy
việc dạy và học vật lí từ trƣớc đến nay vẫn đƣợc đề cao. Vật lí học với 5 lĩnh vực:
Cơ – Nhiệt – Điện – Quang – Vật lí hạt nhân nguyên tử, mỗi lĩnh vực đều có những
ứng dụng rộng rãi, có những đóng góp to lớn cho sự tồn tại và phát triển của con
ngƣời. Trong thế giới hiện đại, thời đại khoa học kỹ thuật phát triển thì Điện học là
một trong những lĩnh vực đang đƣợc quan tâm phát triển.
Trong dạy học vật lí, bài tập vật lí từ trƣớc đến nay vẫn giữ một vị trí quan
trọng bởi vì có thể sử dụng bài tập vật lí nhƣ một phƣơng tiện để ôn tập, củng cố
kiến thức, lí thuyết đã học một cách sinh động và có hiệu quả. Bài tập vật lí còn

- Xây dựng đƣợc hệ thống bài tập định tính vật lí phần điện học 11 - 12
THPT.
- Gợi ý vận dụng bài tập định tính trong dạy học vật lí vào một số bài học cụ
thể.
- Thiết kế các trò chơi củng cố kiến thức mỗi chƣơng.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
- Bài tập định tính môn vật lí phần điện học trong chƣơng trình vật lí THPT.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Cơ sở lí luận bài tập định tính.
- Bài tập định tính phần điện học phần điện học 11 - 12 THPT .
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về bài tập định tính trong dạy học vật lí, mối liên
hệ giữa hoạt động giải bài tập định tính và việc thực hành các thao tác tƣ duy, các
hành động suy luận logic.
4

- Nghiên cứu chƣơng trình, sách giáo khoa, chuẩn kiến thức kỹ năng phần
điện học phần điện học 11 - 12 THPT nhằm tạo cơ sở xây dựng hệ thống bài tập
định tính.
- Xây dựng hệ thống bài tập định tính phần điện học 11 - 12 THPT theo định
hƣớng đã đề ra.
- Gợi ý vận dụng bài tập định tính vào một số tiết dạy cụ thể.
- Thiết kế các trò chơi củng cố kiến thức mỗi chƣơng.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận: đọc các sách, tài liệu về những vấn đề liên quan đến
việc giải quyết các nhiệm vụ đã đề ra trong khóa luận.
- Nghiên cứu thực tiễn: điều tra sơ bộ về việc giảng dạy bài tập định tính ở

định tính vật lí THPT phần điện học và một số vận dụng trong dạy học vật lí lớp
11 - 12 THPT ” với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra tôi sử dụng phƣơng
án phân loại theo phƣơng pháp giải: các bài tập thƣờng đƣợc phân thành bài tập
định tính, bài tập tính toán, bài tập đồ thị, bài tập thí nghiệm. Phân loại này có ý
nghĩa quan trọng, vì nó cho phép giáo viên lựa chọn bài tập tƣơng ứng với sự chuẩn
bị toán học của học sinh, mức độ kiến thức và sự sáng tạo của học sinh
a) Bài tập định tính
Đặc điểm nổi bật của bài tập định tính là ở chỗ trong các điều kiện của bài
toán đều nhấn mạnh bản chất vật lí của hiện tƣợng. Giải các bài tập định tính
thƣờng bằng lập luận logic trên cơ sở các định luật vật lí. Ví dụ: "Ngƣời ta thả vào
6

nƣớc một mẩu đồng và một mẩu nhôm có khối lƣợng nhƣ nhau. Lực đẩy của nƣớc
lên chúng có bằng nhau không?". Hay “Vì sao nhiệt kế y học thƣờng dùng thuỷ
ngân mà không dùng rƣợu hoặc ete?”
Khi giải bài tập định tính, học sinh rèn luyện đƣợc tƣ duy logic, khả năng
phân tích hiện tƣợng, trí tƣởng tƣợng khoa học, kĩ năng vận dụng kiến thức. Vì vậy
việc luyện tập tốt bắt đầu từ việc sử dụng bài tập định tính.
b) Bài tập tính toán
Các bài tập định lƣợng (bài tập tính toán): Đó là các bài tập khi giải phải sử
dụng các phƣơng pháp toán học (dựa trên các định luật và quy tắc, thuyết vật lí ).
Đây là dạng bài tập sử dụng rộng rãi, có nhiều tuyển tập đã đƣợc soạn thảo cho
chƣơng trình vật lí phổ thông. Các bài tập này có thể giải trên lớp, trong giờ luyện
tập, giao về nhà cho học sinh tập vận dụng kiến thức (sau đó có sự kiểm tra của giáo
viên).
Dạng bài tập này có ƣu điểm lớn là làm sâu sắc các kiến thức của học sinh,
rèn luyện cho học sinh vận dụng phƣơng pháp nhận thức đặc thù của vật lí đặc biệt

giải bài toán, cho phép đƣa ra lời giải hoặc là công cụ kiểm tra cách tính toán phù
hợp ở mức độ nào với điều kiện bài toán công cụ đó có thể là các thí nghiệm biểu
diễn hoặc thí nghiệm thực tập của học sinh. Để tiến hành các bài tập thí nghiệm,
trong phòng thí nghiệm cần phải có trang bị ở mức nhất định. Vì những bài tập này
có thể mang đặc trƣng định tính hoặc định lƣợng, cách giải phụ thuộc vào vai trò
của thí nghiệm. Nếu để thu thập các số liệu cho tính toán thì phải tiến hành các phép
đo tƣơng đối chính xác.
Loại bài toán thí nghiệm ngày nay cũng đƣợc sử dụng rộng rãi trong thực tế
dạy học vật lí ở trƣờng phổ thông, đặc biệt ở các trƣờng chuyên, lớp chọn.
Từ việc phân loại các bài tập vật lí, có thể thấy đƣợc rất nhiều loại bài tập vật
lí thông qua các cách phân loại khác nhau đồng thời cũng biết đƣợc ƣu, nhƣợc điểm
của mỗi loại bài tập để sử dụng có hiệu quả tùy vào công việc. Trong đó bài tập
định tính có khả năng nhấn mạnh bản chất vật lí của hiện tƣợng, rèn luyện đƣợc tƣ
duy logic, khả năng phân tích hiện tƣợng, trí tƣởng tƣợng khoa học và kĩ năng vận
dụng kiến thức của học sinh phù hợp các phƣơng pháp tổ chức dạy học mới mà các
loại bài tập khác còn hạn chế về mặt này. Sau đây là phần trình bày cách lựa chọn
8

và sử dụng bài tập vật lí nói chung từ đó rút ra hƣớng lựa chọn và sử dụng bài tập
định tính vật lí nói riêng.
1.1.2. Lựa chọn và sử dụng bài tập vật lí
1.1.2.1. Lựa chọn các bài tập vật lí
Trong thực tế dạy học vật lí ngƣời giáo viên thƣờng xuyên phải thực hiện
công việc lựa chọn và tìm cách vận dụng các bài tập vật lí sao cho phù hợp với mục
tiêu dạy học của mỗi loại bài học, của công việc (nhƣ kiểm tra, giờ luyện tập, ).
Khi đó việc lựa chọn hệ thống các bài tập cần đảm bảo các yêu cầu sau:
1. Các bài tập phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản tới phức tạp giúp cho học

phức tạp của các số liệu cần xử lí, loại và số lƣợng các thao tác tƣ duy logic và các
phép biến đổi toán học phải sử dụng, phạm vi và mức độ kiến thức, kĩ năng cần huy
động.
- Biến đổi mức độ yêu cầu về số lƣợng bài tập cần giải, về mức độ tự lực của
học sinh trong quá trình giải bài tập.
Trên cơ sở lựa chọn và sử dụng bài tập vật lí có hiệu quả, mục tiếp theo sẽ
trình bày cụ thể về vấn đề lựa chọn và sử dụng bài tập định tính vật lí phù hợp với
các yêu cầu chung đã đề ra ở trên thông qua việc trình bày các cơ sở lí luận về bài
tập định tính.
1.2. Cơ sở lí luận về bài tập định tính vật lí
1.2.1. Khái niệm bài tập định tính
- Bài tập định tính là loại bài tập khi giải học sinh không cần phải thực hiện
những phép tính phức tạp mà học sinh phải sử dụng những suy luận logic, dựa trên
những định luật vật lí, hoặc dùng phƣơng pháp đồ thị, thí nghiệm, nếu cần có thể sử
dụng những phép tính đơn giản có thể nhẩm đƣợc.
1.2.2. Vị trí, vai trò của bài tập định tính trong việc thực hiện các nhiệm vụ
của dạy học vật lí ở trường THPT
10

Xuất phát từ mục tiêu và nhiệm vụ của việc quá trình giáo dục đồng thời
dựa vào đặc điểm nội dung mà bộ môn vật lí ở THPT có những nhiệm vụ sau:
- Nhiệm vụ giáo dƣỡng: trang bị cho học sinh kiến thức phổ thông, cơ bản,
hiện đại, có hệ thống về vật lí.
- Nhiệm vụ phát triển: phát triển tƣ duy, năng lực sáng tạo, năng lực giải
quyết vấn đề ở học sinh rèn luyện những thao tác tƣ duy, những hành động, phƣơng
pháp nhận thức cơ bản nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức vật lí, vận dụng
sáng tạo để giải quyết vấn đề trong học tập và hoạt động thực tiễn sau này.

- Bài tập định tính dƣới dạng đồ thị, hình ảnh hay sơ đồ.
Ví dụ: Dựa vào đồ thị sau, hãy nhận xét chuyển động của xe.
Hình 1.1
- Bài tập định tính dƣới dạng một thí nghiệm đơn giản, buộc ngƣời giải phải
làm thí nghiệm mới có dữ kiện cho lời giải.
Ví dụ: Cho một con cá nhỏ vào một ống nghiệm bằng thủy tinh đựng nƣớc,
nghiêng ống nghiệm cho nƣớc đến gần miệng ống. Đặt miệng ống nghiệm lên ngọn
lửa đèn cồn cho đến khi nƣớc trên miệng ống sôi. Quan sát con cá, mô tả, giải thích. Hình 1.2
1.2.4. Phương pháp giải bài tập định tính
Việc rèn luyện cho học sinh giải bài tập là phần luyện tập chiếm nhiều thời
gian nhất. Do đó, giáo viên phải rèn luyện cho học sinh biết cách giải bài tập một
cách khoa học, để đi đến kết quả chính xác.
Vì bài tập định tính cũng nằm trong hệ thống bài tập vật lí nên theo một dàn
bài chung thì khi giải bài tập định tính cũng gồm các bƣớc sau:
- Bƣớc 1: Tìm hiểu đầu bài.
12

Gồm việc tìm hiểu ý nghĩa vật lí của các thuật ngữ, phân biệt dữ liệu và ẩn
số, dùng kí hiệu để tóm tắt đầu bài nếu có, vẽ hình diễn đạt những điều kiện đầu bài
nếu cần.
- Bƣớc 2: Phân tích hiện tƣợng.
Xác định các giai đoạn diễn biến của hiện tƣợng nêu trong đầu bài. Phải nhận
biết mỗi giai đoạn có liên quan đến những khái niệm, đại lƣợng vật lí nào, giai đoạn
đó bị chi phối bởi những đặc tính nào, định luật nào.

tiễn. Rèn cho học sinh một số kĩ năng nhất định. Giáo viên cần phải xác định chính
xác trọng tâm kiến thức kĩ năng của bài dạy, trên cơ sở đó có phƣơng pháp dạy phù
hợp. Tránh nêu đại khái vì bản thân định luật, khái niệm có chứa đựng nội dung cụ
thể cần làm nổi bật, cần nêu mức độ phù hợp với chƣơng trình. Muốn vậy cần nhận
thức rõ bản chất của kiến thức khoa học trình bày trong bài dạy, tính chất lí thuyết
hay thực nghiệm của nó.
- Về phát triển tƣ duy
Rèn luyện các khả năng trí tuệ, bồi dƣỡng trí thông minh, tƣ duy vật lí.
Chú ý bồi dƣỡng các thao tác tƣ duy logic (quy nạp, diễn dịch, trừu tƣợng
hoá), những thao tác tƣ duy biện chứng (quan điểm động, có ý thức xây dựng mối
liên quan giữa các kiến thức), tƣ duy kĩ thuật. Thông qua phƣơng pháp dạy, cách
hỏi, rèn kĩ năng mà thầy giáo có thể rèn luyện bồi dƣỡng phát triển tƣ duy, phát
triển trí thông minh của học sinh: Từ quan sát phân tích, để suy nghĩ rút ra quy luật
của các hiện tƣợng
- Về giáo dục tƣ tƣởng, tình cảm
Nội dung về tƣ tƣởng qua môn vật lí rất phong phú song cũng rất khó thực
hiện bởi vì nó rộng, bao quát không chỉ một bài dạy. Giáo viên cần chú ý tìm hiểu
những tri thức vật lí giúp cho học sinh khi nhận thức về thế giới vật chất? Vì thế
14

không nên nêu chung chung, đại khái nhƣ giáo dục lòng yêu nƣớc, yêu Chủ nghĩa
xã hội mà cần cụ thể; Việc vạch rõ ý nghĩa vật lí, tính quy luật và giới hạn ứng
dụng của định luật chính là việc thực hiện giáo dục tƣ tƣởng.
Cần chú ý khai thác mặt này của kiến thức, thực tế sản xuất, kĩ thuật, tiểu sử
các nhà bác học Nội dung giáo dục tƣ tƣởng vừa phụ thuộc vào kiến thức của bài
dạy, vừa phụ thuộc vào vốn sống thực tiễn của giáo viên và cách lựa chọn, khai thác
nó. Mục đích yêu cầu sẽ chỉ đạo toàn bộ nội dung kế hoạch thực tiễn bài dạy và

Có thể thay thế việc giảng của mình ở phần này, phần khác bằng công việc của học
sinh không? Đặt câu hỏi thế nào? Dự kiến các em trả lời ra sao? Cách làm của mình
thế này đã tốt chƣa? Có thể thay thế bằng phƣơng pháp khác không? Ta cũng thấy
rõ đƣợc rằng, đối với những đối tƣợng học sinh khác nhau thì phƣơng pháp sử dụng
không thể nhƣ nhau.
d) Xác định đồ dùng dạy học và phƣơng pháp sử dụng chúng
Thực tế đồ đùng và cách sử dụng đã nằm trong yêu cầu thứ ba của bài soạn,
song ta tách riêng ra để xét cụ thể.
- Do bài soạn đƣợc chuẩn bị trƣớc khi lên lớp ít nhất là một tuần nên ngƣời
dạy có thời gian để lắp ráp, sửa chữa, làm mới hoặc đi mƣợn.
- Nhiều khi dụng cụ bố trí phƣơng án thí nghiệm có khác với sách giáo khoa.
Vì thế ngƣời dạy phải suy nghĩ cách cải tiến sáng tạo và chuẩn bị giải thích cho học
sinh.
- Có những thí nghiệm phức tạp thầy phải chuẩn bị cẩn thận.
- Suy nghĩ về dụng ý của mình khi sử dụng thí nghiệm: Dùng thí nghiệm để
khảo sát, minh hoạ hay củng cố và cách sắp xếp bố trí thí nghiệm sao cho học sinh
có thể quan sát đƣợc dễ dàng.
Yêu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học, chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt
động của giáo viên sang thiết kế các hoạt động của học sinh là yêu cầu nổi bật đối
với công việc soạn giáo án của giáo viên.
1.3.1.2. Cách tiến hành soạn giáo án theo yêu cầu đã đề ra
a) Xác định rõ ràng, cụ thể mục tiêu bài học
16

Mục tiêu bài học luôn đƣợc diễn đạt theo ngƣời học (mục tiêu học tập)
- Mục tiêu bài học phải chỉ rõ mức độ học sinh đạt đƣợc sau bài học về kiến
thức, kĩ năng, thái độ đủ để làm cơ sở đánh giá chất lƣợng và hiệu quả của bài học.

Ngoại khoá là một công tác hỗ trợ có chất lƣợng cho việc giảng dạy vật lí
trong nhà trƣờng. Ngoại khoá là phƣơng tiện để phát huy năng lực và tài năng của
học sinh, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hƣớng của các em về một hoạt động nào
đó. Ngoài ý nghĩ lớn đó ra, ngoại khoá còn có những tác dụng sau:
a) Tác dụng giáo dục
Ngoại khoá góp phần giáo dục tính tổ chức, tính kế hoạch, tinh thần làm chủ
và ý thức hợp tác xã hội chủ nghĩa trên cơ sở những hoạt động thực tế. Mặt khác
ngoại khoá đƣợc thực hiện cơ bản dựa trên sự tự nguyện tự giác của học sinh cộng
với sự hỗ trợ động viên thích hợp của thầy giáo sẽ động viên đƣợc học sinh nỗ lực
hết mực với khả năng của mình.
Ngoại khoá sẽ làm cho quá trình dạy bộ môn thêm phong phú, càng nhiều
hình, nhiều vẽ càng làm cho việc học tập của học sinh thêm hứng thú sinh động, tạo
cho họ lòng hăng say yêu công việc, đó là một trong những điều kiện để phát triển
tài năng. Chính ở đây học sinh có thể thử làm, tập dƣợt phát huy óc sáng tạo, tự tin
ở mình, có thể dám nghĩ dám làm.
b) Tác dụng giáo dƣỡng
- Ngoại khoá góp phần củng cố, bổ sung kiến thức cho học sinh bởi vì thông
qua ngoại khoá, kiến thức học sinh thu nhận đƣợc sâu sắc hơn. Ở đây học sinh đƣợc
tự mình nghiên cứu, tự mình tìm hiểu vấn đề và tranh luận với bạn bè trong sự cân
nhắc rất kĩ càng. Chính vì thế ngoại khoá góp phần đắc lực trong việc phát triển trí
lực và khả năng sáng tạo của học sinh.
c) Tác dụng giáo dục kĩ thuật tổng hợp
Qua hoạt động ngoại khoá, học sinh đƣợc rèn luyện một số kỹ năng nhƣ:
- Bồi dƣỡng kĩ năng làm mộc, nguội, rèn, mắc điện, trang trí, vẽ
18

- Tập sử dụng những dụng cụ đo lƣờng cơ bản, những máy móc đơn giản.

dấu nhƣ thế nào?
Bài 2: Một vật mang điện tích dƣơng hút một quả cầu kim loại nhỏ treo bằng một
sợi dây tơ. Từ đó có thể kết luận quả cầu kim loại mang điện tích âm không?
Bài 3: Nhiễm điện cho một thanh nhựa rồi đƣa nó lại gần 2 vật M và N. Ta thấy
thanh nhựa hút cả 2 vật M và N. Vậy M, N có nhiễm điện không? Nếu có thì kết
luận gì về dấu của chúng?
Bài 4: Một ngọn nến đang cháy đặt giữa các cực của máy tĩnh điện hƣởng ứng thì
ngọn lửa nghiêng về phía cực âm. Giải thích hiện tƣợng đó nhƣ thế nào?
Bài 5: Trong sản xuất và đời sống ta thƣờng nghe các thuật ngữ: “sơn thƣờng” và
“sơn tích điện”. Vậy bản chất của sơn tích điện là gì? Sơn này có ƣu điểm gì so
với các loại sơn khác?
Bài 6: Nếu tăng khoảng cách giữa 2 điện tích điểm lên n lần thì lực tƣơng tác tĩnh
điện giữa chúng thay đổi thế nào?
Bài 7: Treo hai quả cầu nhỏ vào hai sợi chỉ mảnh cách điện có chiều dài nhƣ nhau
và cùng buộc vào một điểm. Hiện tƣợng gì sẽ xảy ra nếu các quả cầu ở trạng thái
không trọng lƣợng đƣợc tích điện cùng dấu?
Bài 8: Trong trƣờng hợp nào, khi đƣa hai vật tích điện cùng dấu lại gần nhau, lực
đẩy giữa chúng giảm đến không?
20

Hƣớng dẫn giải
Bài 1: Hai vật nhiễm điện cùng dấu.
Bài 2: Không. Do hiện tƣợng nhiễm điện do hƣởng ứng, quả cầu có thể không tích
điện mà vẫn bị hút.
Bài 3: Có thể xảy ra 3 trƣờng hợp:
- M và N cùng nhiễm điện trái dấu với thanh nhựa
- Cả M và N đều không nhiễm điện vì: khi đƣa thanh nhựa lại gần 2 vật M và

r

; r’ = nr  F’ =
F
n

Lực tƣơng tác sẽ giảm n lần.
Bài 7: Ở trạng thái không trọng lƣợng, các quả cầu bị tách xa nhau một khoảng
cách bằng hai lần độ dài của sợi chỉ, vì:
- Tác dụng vào mỗi quả cầu có 2 lực: lực căng
E
, lực đẩy Cu - lông
F
đ
21

- Sau đó, hai quả cầu ở trạng thái cân bằng →
T
=
F
đ
→ lực căng dây cùng phƣơng với lực đẩy Cu - lông → đpcm
Bài 8: Khi đƣa một quả cầu nhỏ tích điện nằm trên trục của một vòng tròn tích
điện cùng dấu và vuông góc với mặt phẳng của vòng lại gần vòng tròn thì lực
đẩy giảm đến không, vì:
- Quả cầu tác dụng lực đẩy với từng phần tử mang điện của vòng dây
- Do tính đối xứng của vòng dây, lực đẩy giảm dần khi đƣa vật dẫn điện lại gần

hai vật dẫn B, C nhiễm điện trái dấu nhau đƣợc không?
Hƣớng dẫn giải
Bài 1: a) Khi tích điện cho một hòn bi, điện tích sẽ truyền bớt sang hòn bi kia
thông qua tấm kim loại và hai hòn bi đẩy nhau.
b) Khi tích điện cho một hòn bi, hòn bi còn lại nhiễm điện do hƣởng ứng và hai
hòn bi sẽ hút nhau. Sau khi tiếp xúc với nhau, điện tích sẽ phân bố lại cho hai
hòn bi và chúng sẽ đẩy nhau.
Bài 2: Có thể, muốn thế phải xát các đầu đũa bằng những vật thích hợp. Một đầu
xát bằng lông thú, khi đó đầu này tích điện âm. Đầu kia của đũa xát bằng da, khi
đó ở đầu này xuất hiện điện tích dƣơng.
Bài 3: Khi bật tivi thì thành thủy tinh ở màn hình bị nhiễm điện nên nó sẽ hút sợi
tóc.
Bài 4: Cơ sở vật lí: Các vật nhiễm điện trái dấu có thể phóng tia lửa điện qua nhau.
23

Xe chở xăng dầu khi chuyển động, xăng dầu cọ xát nhiều với bồn chứa làm
chúng tích điện trái dấu. Khi điện tích đủ lớn chúng sẽ phóng tia lửa điện gây ra
cháy nổ. Thực tế, để chống cháy nổ do phóng điện, ngƣời ta thƣờng dùng một
dây xích sắt nối với bồn chứa và kéo lê trên đƣờng. Đây là biện pháp nối đất cho
các vật nhiễm điện để chống sự phóng tia lửa điện của chúng.
Bài 5: Khi chảy ra khỏi ống, xăng có thể nhiễm điện do cọ xát với ống đến mức
phát ra tia lửa điện làm xăng bốc cháy.
Bài 6: Khi đóng dòng điện cao thế, trên lông chim xuất hiện các điện tích tĩnh
điện, do đó lông chim dựng đứng lên và tách ra. Điều đó làm chim sợ và bay
khỏi dây điện.
Bài 7: Do tiếp xúc giữa chiếc đũa êbônit với quả cầu, điện nghiệm thu đƣợc một
một điện tích âm nhỏ, điện tích này theo ta đi xuống đất. Vì êbônit là chất điện

M2N
và A
MN
là công của lực điện tác
dụng lên điện tích điểm q trong các dịch chuyển dọc theo cung M1N, M2N, và
dây cung MN (với M1N là cung trên, M2N là cung dƣới. So sánh A
M1N
, A
M2N

A
MN
?
Bài 5: Thả một ion dƣơng cho chuyển động không vận tốc đầu từ một điểm bất kì
trong một điện trƣờng do hai điện tích điểm dƣơng gây ra. Ion đó sẽ chuyển
động thế nào? Hỏi tƣơng tự khi thả 1 ion âm?
Bài 6: Có hai điện tích điểm, chƣa biết dấu và độ lớn, nằm cách nhau một khoảng
d. Ngƣời ta xác định đƣợc vị trí của một điểm C nằm trên đƣờng thẳng nối hai
điện tích mà ở đó cƣờng độ điện trƣờng bằng không.
- Có thể kết luận gì về tính chất của hai điện tích đó?
- Nếu điểm D, có tính chất nhƣ trên, nằm ngoài đoạn thẳng nối hai điện tích thì
sao?

Hƣớng dẫn giải
Bài 1: Không đúng. Vì:

Trích đoạn Điện năng và công suất điện Định luật Jun ─ Len-xơ Dòng điện trong kim loạ Dòng điện trong chất điện phân Định luật Fa-ra-đây Dòng điện trong chân không, chất khí và chất bán dẫn Du lịch Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status