Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An giang hiện nay - Pdf 26

1

MỞ ĐẦU
Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của nhân dân có vai trò rất
quan trọng đối với việc xây dựng nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát
triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Đảng và Nhà nước ta đã nhấn
mạnh sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi người và của xã hội, do đó chính sách y tế
chăm sóc sức khỏe nhân dân có vị trí hàng đầu trong hệ thống các chính sách kinh
tế - xã hội của đất nước.
Vậy, y tế và chính sách y tế có vai trò không thể thiếu được đối với cuộc
sống của mỗi người. Vì thế, đầu tư cho y tế thực chất là đầu tư cho con người.
Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay,
cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu được chăm sóc sức khỏe của nhân
dân ngày càng được tăng lên, để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên đó đòi hỏi
phải phát triển nhanh các dịch vụ y tế và nhu cầu xã hội hóa y tế trở thành yêu cầu
cấp bách của nhà nước và toàn dân. Xuất phát từ quan điểm trên, Đảng và nhà
nước đã có những đổi mới trong cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ sở y tế
trong chương trình nghị sự cải cách hành chính công, tăng quyền chủ động cho
đơn vị sử dụng ngân sách, tự chủ tài chính, chủ động bố trí kinh phí để thực hiện
nhiệm vụ, được vay tín dụng để mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự
nghiệp và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật. Ngày 25
tháng 04 năm 2006 Chính phủ đã ban hành NĐ43/2006/NĐ-CP “Quy định quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế và tài
chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập”.
Song, để quản lý và hoạt động có hiệu quả đòi hỏi đơn vị sự nghiệp y tế cần
có năng lực quản lý tốt để vừa đảm bảo các mục tiêu tài chính và đảm bảo chất
lượng trong chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Quản lý tài chính bệnh viện trở
thành điều quan trọng nhất quyết định sự thành công hay thất bại trong việc quản
lý bệnh viện và nó quyết định sự phát triển của Bệnh viện.
Nhận thức được vấn đề trên, qua quá trình học tập chương trình Trung cấp
lý luận chính trị - hành chính tại Trường Chính trị Tôn Đức Thắng, là một Cán bộ

trong thu hút vốn bằng khuyến khích tăng thu, tiết kiệm chi, đảm bảo trang trải
kinh phí hoạt động, thực hiện tinh giản biên chế và tăng thu nhập cho người lao
động trên cơ sở hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao và thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ với phần ngân sách nhà nước. Trong quá trình thực hiện, Nghị định
10/2002/NĐ-CP đã xuất hiện một số bất cập do các đơn vị chưa được giao quyền
tự chủ về biên chế, lao động và tổ chức bộ máy. Do đó ngày 25 tháng 4 năm 2006,
Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/2006/NĐ-CP “quy định quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính
đối với đơn vị sự nghiệp công lập” để mở rộng phạm vi giao quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với
tất cả các đơn vị sự nghiệp công lập và Thông tư 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006
của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghị định 43/2006/NĐ-CP. Cơ chế quản
lý tài chính mới cho phép đơn vị sự nghiệp có thu tự chủ về tài chính, lao động và
tự chịu trách nhiệm trong hoạt động của đơn vị.
* Một số thay đổi trong cơ chế tài chính mới, cụ thể là:
- Các đơn vị sự nghiệp có thu ngoài nguồn kinh phí Nhà nước cấp còn được
phép vay tín dụng ngân hàng hoặc quỹ hỗ trợ phát triển để mở rộng và nâng cao
chất lượng hoạt động, cung ứng dich vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy
định của pháp luật.
3

- Các đơn vị sự nghiệp có thu được chủ động sử dụng số tiền gửi tại ngân
hàng hoặc kho bạc để phản ánh các khoản thu chi của hoạt động sản xuất, cung
ứng dịch vụ. Các khoản kinh phí Ngân sách Nhà nước vẫn được phản ánh qua tài
khoản tại kho bạc.
- Các đơn vị sự nghiệp có thu quản lý và sử dụng tài sản Nhà nước theo quy
định đối với đơn vị hành chính sự nghiệp. Với tài sản cố định dùng cho hoạt động
sản xuất, cung ứng dịch vụ được phép trích khấu hao thu hồi vốn theo chế độ áp
dụng cho các doanh nghiệp Nhà nước. Ngoài ra, số tiền trích khấu hao tài sản cố
định và số tiền thu do thanh lý tài sản thuộc nguồn Ngân sách Nhà nước thay cho


hiệu quả cao, hạn chế tối đa lãng phí và tiêu cực, từng bước tính công bằng trong
sử dụng các nguồn đầu tư cho bệnh viện.
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, nhiệm vụ
của năm kế hoạch, chế độ chi tiêu tài chính hiện hành; căn cứ kết quả hoạt động sự
nghiệp, tình hình thu, chi tài chính của năm trước liền kề; đơn vị lập dự toán thu,
chi năm kế hoạch; số kinh phí đề nghị ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động
thường xuyên; lập dự toán kinh phí chi không thường xuyên theo quy định hiện
hành. Dự toán kinh phí hoạt động của đơn vị sự nghiệp, gửi cơ quan quản lý cấp
trên theo quy định hiện hành.
b) Thực hiện dự toán:
Thực hiện dự toán là khâu quan trọng trong quá trình quản lý tài chính bệnh
viện. Đây là quá trình sử dụng tổng hoà các biện pháp kinh tế tài chính và hành
chính nhằm biến các chỉ tiêu đã được ghi trong kế hoạch thành hiện thực. Thực
hiện dự toán đúng đắn là tiền đề quan trọng để thực hiện các chỉ tiêu phát triển
bệnh viện. Tổ chức thực hiện dự toán là nhiệm vụ của tất cả các phòng, ban, các bộ
phận trong đơn vị. Do đó đây là một nội dung đặc biệt quan trọng trong công tác
quản lý tài chính của bệnh viện. Việc thực hiện dự toán diễn ra trong một niên độ
ngân sách là một năm từ ngày 01/01 đến 31/12 hàng năm.
* Căn cứ thực hiện dự toán:
+ Dự toán thu chi của bệnh viện đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đây
là căn cứ mang tính chất quyết định nhất trong chấp hành dự toán của bệnh viện.
Đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, cùng với việc tăng cường quản lý Nhà nước
bằng pháp luật, một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt
động quản lý tài chính ngày càng được hoàn thiện. Việc chấp hành dự toán thu chi
ngày càng được luật hoá, tạo điều kiện cho đơn vị chủ động thực hiện theo đúng
chức năng, nhiệm vụ của mình.
+ Khả năng nguồn tài chính có thể đáp ứng nhu cầu hoạt động của bệnh
viện. Chính sách, chế độ chi tiêu và quản lý tài chính hiện hành của Nhà nước.
* Yêu cầu của công tác thực hiện dự toán:

Bộ, ngành, chương trình mục tiêu quốc gia và các nhiệm vụ đột xuất khác được
cấp có thẩm quyền giao.
+ Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức.
+ Kinh phí cấp để thực hiện tinh giảm biên chế theo chế độ do Nhà Nước
quy định với số lao động trong biên chế thuộc diện tinh giảm.
+ Vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ họat
động sự nghiệp theo dự án và kế họach hàng năm, vốn đối ứng cho các dự án được
cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp của đơn vị:
+ Phần được để lại từ số phí, lệ phí thuộc Ngân Sách Nhà Nước do đơn vị
thu theo quy định. Mức thu phí, lệ phí và tỷ lệ nguồn thu để lại đơn vị sử dụng theo
quy định của Nhà Nước.
Đối với Bệnh viện, nguồn này bao gồm:
 Viện phí sự nghiệp: là nguồn thu rất cơ bản và lâu dài. Hiện tại Bệnh
Viện đang thực hiện việc thu một phần viện phí theo Nghị Định 95/CP ngày
27/08/1994 của Chính Phủ và thông tư liên bộ số 14/TTLB của Bộ Y tế - Tài
Chính - LĐTBXH và Ban Vật Giá Chính Phủ. Một phần viện phí là phần chi phí
cho việc khám bệnh, chữa bệnh được tính theo dịch vụ đối với người bệnh ngoại
trú và theo ngày điều trị đối với người bệnh nội trú. Một phần viện phí mới chỉ tính
6

đối với tiền thuốc, dịch truyền, máu, hóa chất, xét nghiệm, phim XQ, vật tư, thiết
bị, dụng cụ y tế phục vụ người bệnh.
 Viện phí bảo hiểm y tế: là nguồn thu Bệnh Viện được cơ quan Bảo
hiểm y tế thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho bệnh nhân Bảo hiểm y tế bắt
buộc và tự nguyện theo hợp đồng giữa cơ quan Bảo hiểm xã hội và Bệnh viện,
nguồn thu này được sử dụng như viện phí sự nghiệp.
Theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006, tổng số viện phí thu
được sẽ hoà chung vào kinh phí hoạt động của đơn vị.
+ Thu từ hoạt động dịch vụ như: dịch vụ giường bệnh, phẩu thuật dịch vụ,

7

tăng thu, tiết kiệm chi, có hiệu suất công tác cao thì được hưởng cao hơn. Tiền
lương cho mỗi cá nhân ngoài tiền lương cấp bậc, chức vụ như hiện nay còn được
hưởng khoản thu nhập tăng thêm nhưng không quá 3 lần tiền lương cấp bậc, chức
vụ.
Về trích lập quỹ: hàng năm ngoài việc trích lập quỹ khen thưởng, quỹ phúc
lợi như hiện nay đơn vị phải trích lập thêm quỹ dự phòng ổn định thu nhập và quỹ
phát triển hoạt động sự nghiệp. Sau khi thống nhất với tổ chức Công đoàn, thủ
trưởng đơn vị quyết định việc trích lập các quỹ theo trình tự sau:
- Quỹ dự phòng ổn định thu nhập : để đảm bảo thu nhập cho người lao động
trong trường hợp nguồn thu bị giảm sút.
- Quỹ khen thưởng: dùng để khen thưởng định kỳ hay đột xuất cho tập thể,
cá nhân theo kết quả công tác và có thành tích đóng góp.
- Quỹ phúc lợi: dùng cho các nội dung phúc lợi.
- Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: dùng để đầu tư, phát triển nâng cao
hoạt động sự nghiệp, bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm máy
móc thiết bị,…

thiết bị thích hợp, bệnh viện đủ khả năng hỗ trợ các bệnh viện tuyến huyện thị hoặc
các bệnh viện hạng III. Ngoài thực hiện nhiệm vụ được UBND Tỉnh giao, bệnh
viện còn tổ chức dịch vụ khám chữa bệnh với 317 giường của 11 khoa, Năm 2011
bệnh viện đã thực hiện khám chữa bệnh cho 433.227 lượt người; năm 2012 là
526.403 lượt người, phục vụ khá tốt yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong
tỉnh
Bệnh viện thực hiện cơ chế tự chủ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày
25/04/2006 của Chính phủ về việc quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về
thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp
công lập và thông tư 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 của Bộ Tài Chính hướng dẫn
thực hiện nghị định 43/2006/NĐ-CP và Quyết định số 2468/QĐ-UBND ngày
30/12/2010 của UBND Tỉnh về việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài
chính giai đoạn 3 năm từ 2010 đến năm 2012, là đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một
phần chi phí hoạt động.
Theo Nghị định này, Nhà nước trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho
Bệnh viện trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và
9

nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của
đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm
từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động ở Bệnh viện.
Bệnh viện thực hiện chủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp dịch vụ cho
xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự
nghiệp bệnh viện, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước.
Mặc dù cho phép Bệnh viện thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm,
Nhà nước vẫn quan tâm đầu tư để hoạt động Bệnh viện ngày càng phát triển bảo
đảm cho các đối tượng chính sách – xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu,
vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được cung cấp dịch vụ theo quy định ngày càng
tốt hơn. Bên cạnh đó, Nhà nước vẫn phân biệt rõ cơ chế quản lý nhà nước đối với
đơn vị sự nghiệp và cơ chế quản lý nhà nước đối với cơ quan hành chính nhà nước.

Đây là một vấn đề mà Bệnh viện luôn trăn trở và đáng quan tâm nhất.
Mặc dù kinh phí ngân sách cấp cho Bệnh viện mỗi năm tuy có tăng nhưng
nếu tính theo số cần phải chi sử dụng cho tổng số giường bệnh thực tế thì ngân
sách cấp hàng năm chỉ được 30% số thực chi, 70% còn lại Bệnh viện phải bổ sung
từ nguồn Viện phí.
Là đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động, Bệnh viện còn
được giao nhiệm vụ thu viện phí bổ sung nguồn thu ngân sách để hoạt động. Năm
2010 thu 68 tỷ đồng; năm 2011 thu 78 tỷ đồng; năm 2012 thu 100 tỷ đồng
Nguồn Viện phí là nguồn Bệnh viện thu viện phí trực tiếp từ người bệnh và
từ nguồn chi của cơ quan BHYT trả viện phí cho người bệnh có thẻ BHYT gọi là
nguồn viện phí BHYT.
Giá thu viện phí Bệnh viện phải tuân thủ theo Nghị định 95 /CP ngày 27
tháng 8 năm 1994, Nghị định 33 /CP ngày 23 tháng 5 năm 1995 của Thủ Tướng
CP về việc thu một phần viện phí, Quyết định 147/QĐ-UB ngày 30 tháng 01 năm
2001 của UBND Tỉnh An Giang về việc ban hành mức thu viện phí và Quyết định
35/2006/QĐ-UBND ngày 11 tháng 8 năm 2006 của UBND Tỉnh An Giang về việc
ban hành mức thu viện phí. Bệnh viện không được tuỳ tiện đặt ra mức thu viện phí,
khi có yêu cầu Bệnh viện phải lập tờ trình và được Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh ký
quyết định phê duyệt giá thu thì mới được xem là hợp pháp.
Trong những năm qua nguồn thu Viện phí bảo hiểm y tế có tăng là do cơ
quan Bảo hiểm y tế triển khai chính sách Bảo hiểm y tế toàn dân nên số lượng
bệnh nhân có bảo hiểm y tế tăng lên. Bên cạnh đó, mức thanh toán chi phí khám
chữa bệnh của cơ quan Bảo hiểm y tế bị khống chế theo các văn bản của cơ quan
Bảo hiểm y tế cho phép thanh toán đối với người bệnh có thẻ bảo hiểm, vì vậy nếu
trường hợp Bệnh viện đã cung cấp cho người bệnh thuốc, các dịch vụ y tế cơ bản
trong quá trình điều trị nhưng ngoài danh mục được phép thanh toán thì cũng bị
BHYT xuất toán. Do vậy Bệnh viện cũng thường xuyên phải gánh vác chi phí nầy
trung bình mỗi năm gần cả tỉ đồng làm ảnh hưởng lớn đến nguồn tài chính của
Bệnh viện.
Theo qui định của Chính phủ, khoản thu viện phí là nguồn thu của ngân sách

Bệnh viện phải tốn hao nhiều chi phí cho công tác này. Cụ thể chi cho sửa chữa
năm 2010 là 2 tỷ 145 triệu đồng; năm 2011 là 788 triệu đồng; năm 2012 là 1 tỷ 300
triệu đồng.
Trong khi đó để đầu tư mua sắm trang thiết bị chẩn đoán và điều trị bệnh kỹ
thuật cao rất tốn kém, vì vậy Bệnh viện chỉ trang bị bổ sung thêm một số trang
thiết bị đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh hiện tại thể hiện qua số chi dùng để mua
thêm máy móc thiết bị y tế hàng năm còn hạn chế năm 2010 là 1 tỷ 900 triệu
đồng; năm 2011 là 3 tỷ 200 triệu đồng; năm 2012 là 2 tỷ 900 triệu đồng.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng công
tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Thực hiện Nghị định 43/NĐ-CP, hàng năm Bệnh viện đã thực hiện việc lấy
thu bù chi, sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế, và các khoản nộp khác
theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có) Bệnh viện được sử dụng :
- Trích 70% để trả thu nhập tăng thêm cho nhân viên
- Trích 10% lập quỹ khen thưởng
- Trích 5% lập quỹ phúc lợi
- Trích 5% lập quỹ dự phòng ổn định thu nhập
- Trích 10% lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
Hệ số kết dư 70% để làm lương tăng thêm so với tổng quỹ lương Bệnh viện
năm 2010 là 0,45 lần; năm 2011 là 0.69 lần; năm 2012 là 0.25 lần.
12

Thực hiện chỉ đạo của Nhà nước về thực hành tiết kiệm, Bệnh viện đã thực
hiện việc chi khoán văn phòng phẩm, khoán vật liệu sử dụng cho khoa phòng
khoán tiền sử dụng điện thoại cho các phòng ban chức năng, khoán công tác phí
cho chuyển bệnh, đi công tác, hội nghị, kiểm soát chặt chẽ các khoản chi về mua
sắm, sửa chữa, tiết kiệm chi phí, điện nước, thời gian, tận dụng các nguồn thu, nhờ
đó Bệnh viện có kết dư làm nguồn thu nhập hợp pháp cho nhân viên, đã động viên,
khuyến khích năng suất lao động thông qua quy chế phân phối lương tăng thêm
theo Chính sách, quy định về tiền thưởng với tiêu chí: người nào có đóng góp công

13

này ngày càng lớn cũng do một phần biến động của thị trường, giá cả tăng, và một
phần do người sử dụng chưa có ý thức tiết kiệm vì lợi ích chung.
- Việc lạm dụng kỹ thuật, lạm dụng xét nghiệm, thuốc men không cần thiết
cho người bệnh cũng có xuất hiện gây lãng phí. Không thể phủ nhận tác dụng của
các thiết bị y tế hiện đại trong khám chữa bệnh và tác dụng của nguồn vốn liên
doanh liên kết trong Bệnh viện. Do không có kinh phí đầu tư máy móc, thiết bị y tế
hiện đại, trong nhiều trường hợp, sự có mặt kịp thời của thiết bị liên doanh liên kết
đã đem đến cho người bệnh cơ hội được điều trị kịp thời, giảm thời gian chờ đợi,
hơn hết là được tiếp cận với các thiết bị điều trị hiện đại đồng thời một phần nào
làm tăng nguồn thu của Bệnh viện. Tuy nhiên, thực tế cho thấy đã có những hiện
tượng chỉ định chiếu chụp, xét nghiệm tràn lan nhằm nhanh chóng thu hồi vốn và
kiếm lãi từ các thiết bị liên doanh liên kết.
- Chăm sóc sức khoẻ người dân chưa đạt được chất lượng cao, chỉ số về
ngày điều trị còn dài.
- Công bằng trong chăm sóc sức khoẻ chưa đạt theo yêu cầu.
- Thái độ phục vụ người bệnh của nhân viên y tế chưa được ân cần chu đáo.
- Chi phí khám và điều trị còn nhiều lãng phí.
- Mặc dù đã ứng dụng tin học hóa trong quản lý song vẫn còn thất thu lớn.
Bệnh viện vẫn chưa thu hết nguồn thu từ khám chữa bệnh cũng như tận dụng khai
thác các nguồn thu khác.
b. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế:
- Dân số tăng nhanh, nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân ngày càng lớn,
giá thành chữa bệnh ngày càng đắt nhưng kinh phí của Nhà nước cho y tế lại rất
hạn hẹp. Hơn nữa nguồn ngân sách nhà nước cấp chưa có chiến lược, định hướng,
mục tiêu, phương pháp, biện pháp tổ chức thực hiện và quản lý kế hoạch theo
những mục tiêu phát triển của Bệnh viện trong dài hạn mà việc cân đối ngân sách
cho Bệnh viện phụ thuộc vào khả năng thu và cơ cấu chi của ngân sách nhà nước.
- Tỉnh ta còn rất nhiều người nghèo không có khả năng trả tiền khám chữa


15

Chương 3:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM
AN GIANG ĐẾN NĂM 2015

3.1. Phương hướng
Với mô hình Bệnh viện đa khoa chủ chốt của tỉnh, Bệnh viện đã không
ngừng cải thiện điều kiện chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, tăng cường
công tác đào tạo, chỉ đạo tuyến và quản lý bệnh viện cũng như công tác quản lý tài
chính. Hoạt động quản lý tài chính của Bệnh viện cần thực hiện các phương hướng
sau:
- Để đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, Bệnh viện cần có

trương đầu tư trọng điểm của Nhà nước. Tranh thủ sự giúp đỡ của các bộ ngành
hữu quan tạo môi trường thuận lợi cho Bệnh viện khai thác tối đa nguồn ngân sách,
trên cơ sở thực hiện tốt các chỉ tiêu nhiệm vụ hàng năm.
Hòa chung vào nguồn tài chính của Bệnh viện và có thể coi đây là nguồn
kinh phí hoạt động chính của Bệnh viện là nguồn viện phí (bao gồm viện phí trực
tiếp và viện phí bảo hiểm y tế). Nguồn thu viện phí đã góp phần quan trọng trong
điều kiện ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, về mặt lý thuyết việc thu viện phí tạo
điều kiện cho các bệnh viện dành ngân sách nhà nước để khám chữa bệnh miễn phí
cho người nghèo và người không có khả năng chi trả. Việc thu viện phí đã khuyến
khích các bệnh viện đầu tư, áp dụng khoa học kỹ thuật trong đó có các kỹ thuật cao
góp phần làm thay đổi hẳn bộ mặt của bệnh viện. Viện phí làm cho người bệnh nếu
có tiền sẽ dễ chọn nơi cung cấp dịch vụ hơn. Tuy nhiên khi đề cập đến những bất
cập xuất hiện do thực hiện chính sách viện phí ta thấy nổi lên những điểm chính
sau:
+ Việc thu viện phí một phần (chỉ tính thuốc, máu, dịch truyền,một phần
chi phí điện nước thông qua tiền ngày giường điều trị nội trú mà chưa thu tiền chi
cho vật tư y tế tiêu hao, khấu hao và tiền công lao động ) đã mang lại một nghịch
lý là vẫn bao cấp cho người giàu nhiều hơn là người nghèo.
+ Mức thu một số dịch vụ kỹ thuật được tính từ năm 1995 nên không phù
hợp với sự trượt giá và sự tăng giá thành theo thời gian, nhiều dịch vụ mới thu từ
30 – 50% giá thành, một số dịch vụ chưa có giá, việc bổ sung giá các dịch vụ kỹ
thuật mới vào các văn bản hướng dẫn không theo kịp với thực tế. Mức thu phí
chưa bù đắp các chi phí trực tiếp, chưa thể hiện tái đầu tư và chưa thể hiện sự khác
biệt giữa các tuyến và các hạng bệnh viện, chưa kết cấu tiền công lao động. Tất cả
những điều này đã làm cho việc thực hiện rất khó khăn trước hết là khó khăn trong
hạch toán và đảm bảo chất lượng của khám chữa bệnh, thậm chí có giai đoạn dài
xuất hiện những giải pháp chưa phù hợp như sử dụng 35% nguồn thu (sau khi đã
trừ tiền thuốc, máu, dịch truyền) để nâng cao phúc lợi cho cán bộ, nhân viên. Cần
phân định rõ mục đích tính giá thành đúng và đủ để xác định giá phù hợp, làm căn
cứ để yêu cầu đơn vị cung ứng dịch vụ có chất lượng phù hợp với giá thành và tìm

bộ, nhân viên; tăng tính cạnh tranh giữa các đơn vị cung ứng dịch vụ
Nhưng tự chủ tài chính cũng mang lại những khó khăn thách thức lớn như:
việc vận dụng rất khác nhau do hệ thống chính sách chưa đồng bộ, và chưa quan
tâm thích đáng đến các chính sách mang tính đặc thù cho loại hình dịch vụ y tế;
bệnh nhân trở thành đối tượng để tăng thu: lạm dụng xét nghiệm, lạm dụng thuốc,
lạm dụng kỹ thuật đắt tiền phân biệt đối xử với nhóm bệnh nhân không nộp phí
trực tiếp làm hạn chế tiếp cận của người nghèo, người sử dụng BHYT.
Vì vậy chúng ta cần có những tiêu chí kiểm tra, đánh giá, giám sát việc tự
chủ của bệnh viện. Tự chủ của Bệnh viện phải theo hướng nâng cao chất lượng
điều trị ngày càng tốt hơn, hạn chế các khe hở để đẩy giá thành khám chữa bệnh
lên cao. Tự chủ của Bệnh viện phải đảm bảo quyền lợi của người dân và đem lại
lợi ích cho bệnh viện, nhất là giữ được y đức của người thầy thuốc. Quản lý Bệnh
viện phải thế nào để bệnh viện ngày càng phát triển, trở thành thương hiệu thu hút
người dân đến khám và điều trị, là điều không hề đơn giản; đòi hỏi bệnh viện phải
có sự đổi mới về tư duy, năng động trong điều hành để vận dụng sáng tạo chủ
trương, chính sách của nhà nước về vấn đề nầy.
c)Tăng cường khả năng cạnh tranh để phát triển
Cạnh tranh để phát triển là một qui luật tất yếu của các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh hàng hóa, nhưng đối với Bệnh viện ít người nghỉ đến khái niệm
cạnh tranh.Vì khi bệnh người ta tất nhiên phải đến Bênh viện điều trị và cũng bởi
quan niệm người bệnh là người đến nhờ vả, bác sĩ là người ra tay cứu giúp nên mối
quan hệ người bệnh - thầy thuốc ít nhiều thiếu ngang bằng, không giống như người
18

mua - người bán dịch vụ. Trong nền kinh tế thị trường, cách nhìn này có lẽ đã trở
nên lạc hậu với điều kiện xã hội ngày càng phát triển, dân trí ngày càng cao , nhu
cầu xã hội ngày càng khác trước, đòi hỏi điều kiện phục vụ đời sống phải nâng cao,
kể cả lĩnh vực y tế. Người bệnh là khách hàng, là trọng tâm cho các hoạt động và
chính là nhân tố quyết định sự tồn tại, phát triển của bệnh viện. Ngày nay, không
chỉ cạnh tranh giữa bệnh viện tư, bệnh viện có vốn nước ngoài, mà ngay cả giữa

siêu âm kỹ thuật số, mổ tán sỏi qua nội soi, siêu lọc máu, máy gia tốc tuyến tính,
máy CT mô phỏng trong chẩn đoán và điều trị ung thư
Để góp phần giảm thiểu quá tải đồng thời đáp ứng yêu cầu của nhiều người
dân cần phát triển khu điều trị theo yêu cầu; tổ chức các loại hình cung ứng dịch vụ
ngoài y tế như: cung cấp nước uống, cung cấp chế độ ăn dinh dưỡng, xe ô tô phục
19

vụ bệnh nhân đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân trong quá
trình khám và điều trị tại Bệnh viện.
Thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá ngoài việc đáp ứng yêu cầu khám, chữa
bệnh của người dân còn tạo thêm thu nhập cho cán bộ, nhân viên y tế Bệnh viện.
Không những thu nhập tăng thêm 100% mà thậm chí có thể tăng lên gấp 3 hoặc 4
lần. Điều nầy góp phần giữ chân người giỏi, giữ sự ổn định cho biên chế của Bệnh
viện. Bên cạnh đó, thu nhập cũng chính là động lực để cán bộ, nhân viên y tế tập
trung cho công tác chuyên môn, có thái độ phục vụ bệnh nhân chu đáo, làm cho
mức độ hài lòng của bệnh nhân đối với Bệnh viện ngày càng tăng.
Đẩy mạnh xã hội hoá y tế, coi xã hội hoá là một giải pháp song song với
việc tăng cường đầu tư của nhà nước cho sự phát triển Bệnh viện. Nhưng những
điều nầy cũng sẽ xuất hiện nguy cơ “thương mại hóa” Bệnh viện. Tác động kết hợp
của giá dịch vụ và chi phí y tế, chi phí thuốc men gia tăng sẽ cản trở người nghèo
tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế kỹ thuật cao, chi phí lớn. Như thế tất yếu dẫn đến
việc gia tăng khoảng cách phân hoá xã hội, biến sứ mệnh của Bệnh viện là phục vụ
lớp giàu và lớp trung lưu hơn là người nghèo. Một bộ phận lớn người nghèo, đặc
biệt là nông dân, sẽ không được bảo đảm điều kiện khám chữa bệnh. Để giải quyết
vấn đề nầy nhà nước phải hổ trợ tích cực hơn nữa cho người nghèo.
Chủ trương xã hội hoá của Đảng và Nhà nước là nhằm khơi dậy và huy động
tiềm năng trí tuệ và vật chất của nhân dân trong khả năng và điều kiện có thể, để
cùng Nhà nước chăm lo cho dân, chứ tuyệt nhiên không có nghĩa là giảm bớt trách
nhiệm của Nhà nước, càng không phải từ bỏ trách nhiệm của Nhà nước trong việc
chăm lo đời sống cho dân. Cho nên việc thực thi biện pháp xã hội hoá cần nên thận

Kinh phí về trang thiết bị y tế của Bệnh viện còn hạn chế, vì vậy người cán
bộ quản lý phải thu thập đầy đủ thông tin để cân nhắc trước khi ra quyết định mua
sắm thiết bị mới sao cho phù hợp.
Việc mua sắm tài sản phải cân đối với nhiệm vụ được giao, đặc biệt là các
máy móc chuyên môn cần theo chiến lược sử dụng. Công nghệ thích hợp: công
nghệ mới, hiện đại nhưng giá cả phải chăng, dễ sử dụng, dễ bảo trì, nguồn phụ
tùng linh kiện thay thế cho hoạt động của máy móc phải đa dạng, có phụ tùng linh
kiện thay thế. Đảm bảo các thiết bị tối cần thiết cho hoạt động hành chính như:
phương tiện đi lại, máy vi tính theo hướng tiết kiệm, hiệu quả. Cán bộ quản lý
tham mưu giúp lãnh đạo quản lý tốt hệ thống trang thiết bị y tế - đây là tài sản rất
lớn của Bệnh viện, bảo đảm và cung ứng kỹ thuật y tế cho tất cả các khoa thực thi
nhiệm vụ khám chữa bệnh có chất lượng và hiệu quả.
c) Quản lý kinh tế y tế tốt
Quản lý tài chính bệnh viện là khâu quan trọng trong phát triển kinh tế y tế.
Để công tác quản lý tài chính đạt hiệu quả, Có thể nói, một trong những nhân tố
quan trọng ảnh hưởng đến công tác quản lý nói chung và công tác quản lý tài chính
Bệnh viện nói riêng là đội ngũ cán bộ công tác Tài chính kế toán. Việc xây dựng
đội ngũ cán bộ Tài chính chuyên trách, có tinh thần trách nhiệm, có nghiệp vụ Tài
chính kế toán cần được xem như một khâu then chốt trong việc hoàn thiện quản lý
Tài chính. Để thực hiện giải pháp này cần từng bước thực hiện các bước sau:
- Rà soát đánh giá lại toàn bộ bộ máy quản lý Tài chính kinh tế về năng lực,
trình độ, phẩm chất đạo đức. Trên cơ sở đó tiến hành sắp xếp lại tổ chức, kiện toàn
lại toàn bộ bộ máy quản lý Tài chính theo hướng tinh gọn, chuyên trách, hoạt động
có hiệu quả.
- Tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ bằng nhiều hình thức :
tham gia các lớp đào tạo trung, cao cấp, tham dự các lớp tập huấn để nâng cao
nghiệp vụ chuyên môn cũng như cập nhật các văn bản chế độ, kiến thức mới trong
quản lý.
21


nâng cao, phù hợp với mức thù lao tương xứng sẽ tạo điều kiện cho họ an tâm công
tác và gắn bó với Bệnh viện hơn.
22

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Trong suốt quá trình phát triền của xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn quan
tâm đến sự phát triển của sự nghiệp y tế bởi chăm sóc sức khỏe cho nhân dân là
một trong những vấn đề lớn, trọng tâm của sự phát triển kinh tế- xã hội, thể hiện
tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, phù hợp với quan điểm Mác – Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong những năm qua, Bệnh viện Đa khoa Trung Tâm An Giang đã có
nhiều thành tựu đáng khích lệ trong công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân mà
Tỉnh ủy và UBND tỉnh đã giao phó . Điều đó khẳng định được uy tín và hiệu quả
của Bệnh viện Đa khoa Trung Tâm An Giang . Thực hiện cơ chế tài chính theo
Nghị định 43/2006/NĐ-CP, từ nguồn thu viện phí, Bệnh viện đã đầu tư nhiều máy
móc, thiết bị chẩn đoán hiện đại phục vụ cho việc khám chữa bệnh không chỉ giúp
người bệnh mau khỏi bệnh mà còn rút ngắn thời gian điều trị giảm được chi phí
cho bệnh nhân. Bệnh viện cũng được sữa chữa nâng cấp, người bệnh tin tưởng đến
khám và chữa bệnh, từ đó trình độ chuyên môn của đội ngũ thầy thuốc được nâng
cao - đó chính là cái được lớn nhất của Bệnh viện An Giang khi chuyển sang mô
hình hoạt động tự chủ tự chịu trách nhiệm.
Trong bối cảnh đất nước ta còn khó khăn, ngân sách còn thấp, với việc phân
bố dàn trải ngân sách, Nhà nước chưa thể đạt được mục tiêu chăm sóc sức khoẻ

các thành tựu, các hạn chế và nguyên nhân của nó, tôi viết nên tiểu luận nầy, trong
đó có phần đề xuất các giải pháp.
Tôi hiểu rằng trình độ nhận thức và khả năng trình bày của mình rất hạn chế,
nên chắc chắn tiểu luận nầy còn nhiều thiếu sót, tôi mong được sự góp ý, bổ sung
của Thầy Cô, tôi xin ghi nhận và chân thành cảm ơn./.

24

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bệnh viện Đa khoa trung tân An Giang - Báo cáo tổng kết bệnh viện từ năm
2006 đến 2010


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status