Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trờng, ta thấy có nhiều chủ thể kinh tế khác nhau
cùng tham gia vào các quá trình kinh tế, họ đều bình đẳng về quyền lợi và
nghĩa vụ kinh tế trớc pháp luật. Trong khi các doanh nghiệp không thể tự mình
tiến hành hoạt động kinh doanh mà không cần đến các quan hệ kinh tế tài
chính với các chủ thể khác, cũng dễ hiểu khi tình hình kinh doanh của một
doanh nghiệp cũng là mối quan tâm không chỉ mình doanh nghiệp đó mà còn
là mối quan tâm của các đối tác của doanh nghiệp nh chủ ngân hàng, các nhà
đầu t, nhà cung ứng, khách hàng v.v... Mỗi đối tợng cần những thông tin về
doanh nghiệp dới góc độ khác nhau để có thể đa ra những quyết định phù hợp
với mục tiêu đặt ra khi thiết lập quan hệ với doanh nghiệp. Nhng tựu chung
lại, vấn đề quan tâm hàng đầu của họ chính là khả năng thanh toán của doanh
nghiệp đó.
Ngày nay, xu hớng quốc tế hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới ngày
càng trở nên phổ biến với mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam, ở nớc ta sách
đợc xuất bản tràn lan làm rối loạn thị trờng sách. Với thị trờng khắc nghiệt, thị
hiếu quần chúng đa dạng, hay thay đổi, khó nắm bắt nh vậy nhng Nhà xuất
bản Văn hoá - Thông tin luôn đứng vững và là một doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh có lãi. Bởi vì xuất bản phẩm của Nhà xuất bản đảm bảo đợc giá trị
nội dung, hình thức, sách quý, hay, đẹp, văn hoá phẩm độc đáo, hợp thị hiếu,
hình thành các tủ sách đặc trng có giá trị, có tiếng vang cả trong và ngoài nớc.
Để tồn tại và ngày càng phát triển thì doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh
tranh phải luôn nắm bắt các quy luật kinh doanh để vợt qua các đối thủ cạnh
tranh để chiến lĩnh một phần hoặc toàn bộ thị trờng thì mới đững vững đợc.
Để có khả năng cạnh tranh mạnh có nghĩa là doanh nghiệp phải sử dụng đồng
thời các biện pháp cạnh tranh hũ hiệu. Một trong các yếu tố đó là duy trì và
nâng cao khả năng thanh toán của doanh nghiệp trên cơ sở xây dựng một cơ
cấu tài sản lu động(TSLĐ) hợp lý. Vì vậy quản lý TSLĐ có hiệu quả là một
vấn đề quan trọng của quản lý doanh nghiệp nó quyết định tính độc lập, sự
thành bại của doanh nghiệp trong cuộc kinh doanh của mình.
Từ nhận thức của bản thân và thực tiễn hoạt động của Nhà xuất bản Văn
-Năm 1954, hoà bình lập lại, về tiếp quản Thủ đô, ta mới có một vài Nhà xuất
bản nh Sự Thật, Văn Nghệ v. v... mà xuất bản phẩm chủ yếu là sách chính trị,
lý luận và văn học.
- Còn một mảng lớn về văn hoá, nghệ thuật nh: âm nhạc, mỹ thuật, sân khấu,
điện ảnh, văn hoá phẩm... cha có nhà xuất bản nào đảm nhiệm.
- Cơ quan, Nhà in Quốc gia (hồi đó vẫn còn tồn tại) cũng có cho in một số b u
ảnh, tranh đơn, cờ, khẩu hiệu... nhng số lợng ít và không thờng xuyên. Một số
Nhà xuất bản t nhân lúc đó vẫn còn đợc phép hoạt động, đã bù vào chỗ trống
đó.
- Tình hình trên tất yếu nảy ra vấn đề là nội dung t tởng, đề tài và chất lợng,
nghệ thuật của các ấn phẩm đó có nhiều điểm không phù hợp với đờng lối văn
hoá văn nghệ của Đảng; thậm chí còn có nhiều ấn phẩm xấu, có hại.
2. Sự ra đời.
Ngày 24 - 7 1957, Nghị định số 47 VH NĐ do Bộ trởng Bộ Văn
hoá Hoàng Minh Giám ký: Thành lập trong Cục xuất bản Nhà xuất bản Mỹ
thuật và Âm nhạc (tiền thân của Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ngày nay).
Hiện nay, Nhà xuất bản có 73 cán bộ công nhân viên, trong đó:
+Trình độ đại học, cao đẳng: 53 ngời
+Trình độ trung cấp và tơng đơng: 10 ngời
3
II. Nguyên tắc hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
Nhà xuất bản VĂn hoá - Thông tin
1. Nguyên tắc hoạt động.
- Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin là một doanh nghiệp nhà nớc có pháp
nhân đầy đủ; sản xuất kinh doanh xuất bản phẩm theo nhiệm vụ của Nhà xuất
bản và theo luật pháp của Nhà nớc.
BBT sách nghệ thuật
BBT sách thông tin
Cửa hàng giới thiệu
sách-Văn4 hoá phẩm- BBT văn hoá phẩm
Phòng
hành
kế
tài
vi
tính
hoạch-sản
chính-kế
chínhtạo
lịch
Tổ
bảo
vệ doanh
tổ chức
xuất
toán
mẫu
kinh
BBT Mü thuËt
5
độ của Nhà nớc quy định.
Xây dựng kế hoạch, chơng trình đào tạo, bồi dỡng nghiệp vụ, tổ chức thi
nâng bậc cho cán bộ công nhân.
6
Quản lý lao động, tiền lơng cán bộ công nhân. Kiểm tra, giám sát việc trả lơng và các khoản thu nhập khác cũng nh việc thực hiện chế độ, chính sách của
Nhà nớc đối với cán bộ công nhân tại các đơn vị.
b.2 Bộ phận hành chính.
Nghiên cứu đề xuất, kiến nghị với Giám đốc biện pháp giúp các đơn vị thực
hiện đúng các chế độ, nguyên tắc, thủ tục hành chính. Quản lý, lu trữ các văn
bản, tài liệu.
Tổ chức tiếp nhận, gửi công văn, tài liệu, điện tín tới các cơ quan có liên
quan, vào sổ và làm đầy đủ các thủ tục giao nhận để lãnh đạo doanh nghiệp và
các đơn vị có trách nhiệm giải quyết.
Quản lý con dấu, đóng dấu vào các công văn, hoá đơn, giấy tờ, chứng từ...
khi có chữ ký của các đồng chí có trách nhiệm đợc giao quyền ký.
Thực hiện đánh vi tính, phô tô, fax các loại công văn và các loại văn bản
khác của doanh nghiệp khi các đồng chí có trách nhiệm yêu cầu.
Thực hiện các hoạt động lễ tân: tiếp khách, chiêu đãi, đa đón khách, chuẩn
bị tặng phẩm.
b.3 Bộ phận Y tế.
Theo dõi sức khoẻ và quản lý hồ sơ sức khoẻ của cán bộ công nhân, xác
nhận và lập sổ theo dõi ngày nghỉ ốm của cán bộ công nhân.
Khám và cấp thuốc những bệnh thông thờng, thực hiện mua BHYT cho
CBCN trong doanh nghiệp đúng đối tợng và thời hạn.
2.3 Phòng kế hoạch sản xuất kinh doanh.
a. Chức năng:
Là đơn vị tham mu giúp việc cho Giám đốc trong công tác xây dựng kế
vụ cho công tác kiểm tra, thực hiện kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp.
- Ghi chép, phản ánh chính xác, kịp thời và có hệ thống diễn biến các nguồn
vốn. Giải ngân các loại vốn phục vụ cho việc cung cấp vật t, nguyên liệu cho
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Theo dõi công nợ, báo cáo, đề xuất kế hoạch thu, chi tiền mặt và các hình
thức thanh toán.
- Thực hiện quyết toán quý (tháng, năm) đúng tiến độ. Tham gia cùng các
phòng nghiệp vụ hạch toán lỗ, lãi đối với các phân xởng và doanh nghiệp,
giúp Giám đốc nắm chắc nguồn vốn và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Cùng các phòng nghiệp vụ giúp Giám đốc xây dựng đồng bộ các mặt kế
hoạch:
+ Kế hoạch sử dụng vốn và tài vụ.
+ Kế hoạch dự trữ vật t và phụ tùng.
+ Kế hoạch sản xuất- kỹ thuật và đầu t.
+ Kế hoạch tiền lơng, lao động, đào tạo.
2.5 Cửa hàng giới thiệu sách, văn hoá phẩm, lịch.
a. Chức năng:
Là đơn vị tham mu, giúp việc cho Giám đốc trong việc bán và giới thiệu
những sản phẩm của doanh nhiệp.
b. Nhiệm vụ:
8
- Tiến hành đón tiếp khách hàng, giới thiệu và bán các sản phẩm của Nhà xuất
bản Văn hoá - Thông tin.
- Quản lý cửa hàng dịch vụ và kho thành phẩm của doanh nghiệp theo đúng hớng dẫn và quy định về quản lý của doanh nghiệp.
- Tiến hành giao dịch với khách hàng trong và ngoài nớc theo sự uỷ quyền của
Giám đốc.
- Hàng tháng và quý phải lập nên các kế hoạch bán sản phẩm trên cơ sở xem
- Phối hợp với các đơn vị trong doanh nghiệp tham gia theo dõi công tác bảo
vệ môi trờng và an toàn, vệ sinh lao động.
IV. Khái quát các kết quả kinh doanh trong những năm gần
đây.
1. Thực trạng sản xuất của doanh nghiệp trong thời gian qua.
Là một doanh nghiệp nhà nớc thành lập từ năm 1957, Nhà xuất bản Văn hoá
- Thông tin chuyên về xuất bản, nhận uỷ thác xuất bản và phát hành các xuất
bản phẩm gồm: sách, tranh, ảnh, văn hoá phẩm, lịch kể cả băng video, cassette
về văn hoá thông tin nhằm giới thiệu những thành tựu, tinh hoa văn hóa Việt
Nam và thế giới.
Từ năm 1957 đến nay, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đợc
chia thành 2 giai đoạn chính.
2. Giai đoạn 1957 1989:
Đây là giai đoạn hoạt động theo cơ chế bao cấp kéo dài. Mọi ấn phẩm của
Nhà xuất bản đợc Tổng công ty phát hành sách bao tiêu, với số lợng rất lớn.
Vật t của Nhà xuất bản chủ yếu là giấy (Mỗi năm phải dùng từ 400 đến 500
tấn giấy các loại ).
Trong giai đoạn này, giấy của Nhà xuất bản do Nhà nớc phân phối theo kế
hoạch. In xong, Nhà xuất bản cho phát hành sách, khi nào thu đợc tiền mới
phải thanh toán công in và tiền giấy.
Năm 1987 doanh thu có 359 triệu, nộp ngân sách có 16 triệu đồng, thu nhập
bình quân 290.000/đầu ngời. Năm 1988 doanh thu 950 triệu, nộp ngân sách
42 triệu đồng, thu nhập bình quân 767.500/đầu ngời. Năm 1989 doanh thu 1tỷ
2, nộp ngân sách 54 triệu, thu nhập bình quân là 970.000/đầu ngời
Bảng 1: tổng hợp các chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh của
NXB Văn hoá - Thông tin trong 3 năm: 1987,1988,1989.
10
hình đó cho thấy rất khó khăn trong hạch toán kinh doanh của Nhà xuất bản.
Vì vậy Nhà xuất bản càng ngày càng phải chú trọng vào phơng hớng làm sách
có giá trị sử dụng lâu dài, in đẹp để bán hết, bảo đảm kinh doanh có lãi, nội
dung lành mạnh bổ ích đúng định hứơng XHCN, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ
và nâng cao dân trí.
Với thị trờng khắc nghiệt, thị hiếu quần chúng đa dạng, hay thay đổi, khó
nắm bắt, một Nhà xuất bản vừa phải tự hạch toán kinh doanh và phát triển vốn
có lãi Nhà xuất bản chỉ nhận tiêu thụ số ít tựa sách, số bản thì 5-10% còn Nhà
xuất bản phải tự tìm nguồn tiêu thụ thông qua bất cứ khách hàng nào, tổ chức
bán sách lu động, xuống các th viện phờng xã, trờng học trao đổi sách, mở các
đại lý t nhân và đi bỏ mối ở các cửa hàng sách, tìm mọi đầu ra cho số sách
đã xuất bản.
Bắt đầu vào cơ chế mới, Nhà xuất bản hầu nh không có vốn để sản xuất
kinh doanh. Để có tiền cho sản xuất kinh doanh, NXB đã tìm nhiều cách: vay
ngân hàng, liên kết, liên doanh với những đơn vị có tiền, có giấy, vay bên
ngoài với lãi suất cao hoặc vay ngắn hạn anh chị em viên chức trong NXB. Từ
chỗ vốn gần nh bằng không (hơn 10 triệu đồng năm 1987) đến năm 1996 số
vốn đã lên tới 700 triệu, doanh thu 5 tỷ 500 triệu đồng, lãi 400 triệu. Mấy năm
trở lại đây doanh thu của NXB đã tăng rất nhiều so với trớc. Năm 2001 doanh
thu 7tỷ 4, nộp ngân sách nộp ngân sách gần 500 triệu, thu ngập
1.318.000đồng/đầu ngời. Năm 2002 doanh thu 7 tỷ 9, nộp ngân sách hơn 520
triệu, thu nhập 1.530.000đồng/đầu ngời. Năm 2003 doanh thu 8tỷ 7, nộp ngân
sách hơn 580 triệu, thu nhập 1.620.000/đầu ngời.
Bảng 2 tổng hợp các chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh của Nhà xuất
bản Văn hoá - Thông tin trong 3 năm: 2001,2002,2003 .
Chỉ tiêu
11
chịu hay không? Nếu doanh nghiệp bán chịu thì điều khoản của việc bán hàng
nên nh thế nào ? Doanh nghiệp có nên mua chịu hay là đi vay để trả tiền
ngay ? Nếu vay thì sẽ vay nh thế nào và ở đâu ? Nói chung, rất nhiều câu hỏi
đợc đặt ra cho công tác quản lý vốn lu động.
Vốn lu động là giá trị của TSLĐ. TSLĐ bao gồm tiền mặt, các khoản phải
thu và các tài sản có khả năng chuyển đổi thành tiền trong vòng 1 năm . VLĐ
gồm 3 bộ phận: khoản phải thu, dự trữ, tiền mặt và chứng khoán có thể bán đợc.
Để hiểu rõ hơn về Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin và hoạt động của NXB
Văn hoá - Thông tin chúng ta sẽ xem xét sơ qua về tình hình tài chính của
NXB trong thời gian gần đây. Dựa vào số liệu bảng (3): Cơ cấu tài sản lu động
của Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin trong 3 năm: 2001, 2002, 2003.
Trong 3 năm phân tích tổng tài sản của Nhà xuất bản thấp nhất vào năm
2002 là 1322,523 triệu VND. Tổng tài sản cao nhất vào năm 2003 đạt
1.891,850 triệu VND. Năm 2001 tổng tài sản của Nhà xuất bản là 1660,785
triệu VND. Năm 2002 tổng tài sản của Nhà xuất bản thấp nhất do tình hình
kinh doanh nói chung gặp nhiều khó khăn khách quan và đến năm 2003 tổng
tài sản đã tăng so với năm 2002 là 43% ứng với 569.327 triệu VND. Điều này
chứng tỏ Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin đã có nhiều cố gắng trong hoạt
động kinh doanh, vợt qua những khó khăn do sức cạnh tranh ngày càng gay
gắt của thị trờng, do đó quy mô tài sản Nhà xuất bản chỉ giảm trong năm 2002
chút ít và lại tăng lên trong năm 2003 . Là một doanh nghiệp Nhà nớc sản xuất
kinh doanh xuất bản phẩm theo nhiệm vụ của Nhà xuất bản và theo luật pháp
của Nhà nớc nên tài sản lu động và đầu t ngắn hạn chỉ lớn hơn tài sản cố định
và đầu t dài hạn một lợng nhỏ. Tài sản lu động và đầu t ngắn hạn chiếm 53%
tổng tài sản ứng với 880,151 triệu VND. Tài sản cố định và đầu t dài hạn
chiếm 47% tổng tài sản tơng ứng với 780,634 triệu VND. Tỷ trọng tài sản lu
năm 2003 chỉ còn 13,3%. Hàng tồn kho năm 2002 giảm so với năm 2001 là
179,27 triệu VND, năm 2003 tăng so với năm 2002 không đáng kể là 29,9
triệu VND. Nh vậy Nhà xuất bản đã tránh đợc sự ứ đọng vốn trong khâu lu
thông.
Qua phân tích tình hình tài sản lu động và đầu t của Nhà xuất bản văn hoá Thông tin, ta có thể thấy rằng trong 3 năm phân tích tình hình tài chính của
Nhà xuất bản là khá tốt, tuy còn có một số điểm cha hoàn chỉnh-đặc biệt là
trong hoạt động thanh toán dự trữ.
13
II. Phân tích hiệu quả sử dụng TSLĐ.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lu động vận động không ngừng,
thờng xuyên qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất( dự trữ - sản xuất
tiêu thụ). Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của vốn lu động sẽ góp phần giải
quyết nhu cầu về vốn, tăng khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Vì vậy bất
kỳ doanh nghiệp nào cũng cần xem xét các chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân
chuyển của vốn lu động.
Bảng 4: Tốc độ luân chuyển vốn lu động
Đơn vị: 1.000VND
Chỉ tiêu
Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Doanh thu thuần(1)
634.429
912385
2.120.000
VLĐ đầu năm
252.712
273.638
=
Tổng doanh thu thuần năm 2002
Hệ số luân chuyển năm 2001 =
= 369.386.639 VND.
912.385.000
2,47
14
Nh vậy là nhờ tăng số vòng quay VLĐ, doanh nghiệp đã tiết liệm đợc một lợng giá trị là 112.896.000VND (369.387.000 VND 256.491.000 VND).
Vốn lu động bình quân năm 2002 tăng so với năm 2001 là 25.198.000VND,
đồng thời doanh số hoạt động tăng tơng ứng là 277.946.000VND. Vốn lu
động bình quân năm 2003 tăng so với năm 2002 là 44.535.000VND đồng thời
doanh số hoạt động tăng tơng ứng là 1.207.615.000VND.
Tình tơng tự nh đã trình bày ở trên ta có việc đẩy nhanh tốc độ luân chuyển
VLĐ năm 2003 đã giúp doanh nghiệp tiết liệm đợc lợng VLĐ là
376.696.000VND. Hệ số đảm nhiệm VLĐ năm 2002 là 0,31 giảm so với năm
2001 là 0,09 đồng. Năm 2003, hệ số đảm nhiệm VLĐ là 0,15 giảm so với năm
2002 là 0,16 đồng. Nhờ vậy doanh nghiệp đã liên tiếp tăng đợc doanh số hoạt
động trong các năm 2002, 2002.
Nh vậy, kết quả của 3 năm từ năm 2001 đến năm 2003, cho thấy tính tích
cực của doanh nghiệp trong việc đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thể hiện
việc dùng tài sản lu động ngày càng có hiệu quả. Số vốn lu động tiết kiệm đợc
hàng năm là rất lớn, đồng thời doanh thu của doanh nghiệp ngày càng tăng.
III. Một số giái pháp tăng cờng hiệu quả công tác quản lý tài
sản lu động của Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin
a. Về bộ máy quản lý tài sản lu động hiện tại của Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin là sự kết hợp giữa Ban giám đốc và phòng tài chính kế toán. Các
kế hoạch tài chính đặt ra đã đợc sự thông qua của hệ thống này sau đó mới đợc phân bổ đến các bộ phận thực hiện. Tuy nhiên, quy trình lập kế hoạch tài
chính lại có những khiếm khuyết. Cụ thể là sau một năm việc hạch toán hoạt
động kinh doanh đợc thực hiện từ phòng sản xuất kinh doanh, các chi
nhánh sau đó đợc tổng hợp lại phòng tài chính kế toán, xây dựng nên báo
cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc lập kế hoạch hoạt
động cho năm tiếp theo cũng dựa trên các chỉ tiêu tài chính và các kế hoạch
do chính khối phòng sản xuất-kinh doanh đề ra. Do vậy, các yếu tố khách
quan dễ bị bỏ qua, sự phân bổ vốn dễ mất đi tính hợp lý.
Nhà xuất bản cần thiết phải lập ra một bộ phận chuyên tổng hợp các phân
tích về thị trờng, theo dõi các hoạt động xuất bản trong tơng lai có liên quan
đến Nhà xuất bản.
b.Về phơng pháp quản lý tài sản lu động.
Đối với tiền:
Trong hoạt động của mình, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin cần thiết
phải lập báo cáo lu chuyển tiền tệ để có thể biết đợc các nguồn tiền cũng nh sử
dụng tiền của Nhà xuất bản nh thế nào. Từ đó Nhà xuất bản có thể dự đoán
nhu cầu tiền trong thời gian tới và xác định lợng tiền tối thiểu cần phải duy trì,
đáp ứng cho các tình huống kinh doanh diễn ra hàng ngày.
Báo cáo lu chuyển tiền tệ giúp kiểm soát đợc sự thờng xuyên vận động của
các luồng tiền thực nhập quỹ và xuất quỹ. Báo cáo trên đợc sử dụng để cung
cấp thông tin về các luồng tiền ra, vào, các khoản đầu t ngắn hạn có tính thanh
khoản cao, có thể nhanh chóng chuyển đổi thành một khoản tiền biết trớc ít
chịu rủi ro nh lỗ về mặt giá trị do sự biến động của lãi suất hay tỷ giá ...
Đối với hàng tồn kho:
16
Lợng hàng tồn kho của Nhà xuất bản trong các năm qua đợc duy trì một
chú trọng đến việc vừa khuyến khích định hớng các hoạt động thu hút vốn và
cung ứng vốn, vừa tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải tự lo lắng và tính
toán các biện pháp huy động nguồn vốn sao cho vừa đáp ứng nhu cầu thanh
toán, vừa đảm bảo khả năng sinh lợi của vốn.
2. Kiến nghị đối với Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin.
Có thể thấy rằng những kết quả mà Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin đã
đạt đợc trong thời gian qua là rất đáng kể, tuy nhiên vẫn còn những tồn tại về
việc quản lý vốn lu động mà NXB cần khắc phục trong thời gian tới đây: Nhà
xuất bản cần nhanh chóng thành lập một bộ phận chuyên trách về tài chính,
không gắn kèm thêm nhiệm vụ kế toán, để có thể quản lý tốt hơn.
Kết luận
Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng của nớc ta hiện nay, để tồn
tại và phát triển, mỗi doanh nghiệp phải chủ động, sáng tạo và thận trọng
trong kinh doanh. Thêm vào đó, các doanh nghiệp còn phải nắm chắc tình
hình của mình nói chung, tình hình tài chính nói riêng. Trong đó, doanh
nghiệp luôn tạo đợc sự ổn địh trong hoạt động thanh toán và khả năng thanh
toán là vô cùng quan trọng, quyết định sự sống còn của doanh nghiệp.
18
Công tác quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lu động là một mắt
xích quan trọng trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ một doanh nghiệp nào,
đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Đề cập đến vấn đề nâng cao
hiệu quả sử dụng tài sản lu động không phải là điều mới mẻ nhng đây là vấn
đề đang đợc quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp hiện nay, đang đợc trao
đổi, tranh luận và tìm các biện pháp hữu hiệu để thực hiện.
Qua thời gian nghiên cứu phân tích tình hình hoạt động tại Nhà xuất bản
Văn hoá - Thông tin, với đề tài đã lựa chọn, em đã cố gắng tìm hiểu và nghiên
cứu tình hình quản lý tài sản lu động của Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin